ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ QUYÊN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN TÂN YÊN
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
trƣờng gắn liền với xã hội”. Thực tập là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của
mỗi sinh viên, giúp sinh viên bƣớc đầu với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những
kiến thức mình đã học ở trƣờng trở thành những cán bộ khoa học kĩ thuật đƣợc trang
bị đầy đủ cả kiến thức lý luận và kiến thức thực tiễn, đáp ứng nhu cầu công việc
trong tƣơng lai.
Đƣợc sự đồng ý của ban giám hiệu nhà Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, cùng giảng viên
hƣớng dẫn thầy giáo Dƣơng Văn Sơn em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ tại Thị Trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang”.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dƣơng Văn Sơn
là ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Đồng
thời thầy đã tạo mọi điều kiện để em có cơ hội thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông
Thôn, Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, chú, các anh chị trong
UBND Thị Trấn Tân Yên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt
quá trình thực tập, điều tra, nghiên cứu thu thập số liệu tại địa phƣơng.
Với trình độ và năng lực còn hạn chế, lần đầu tiên xây dựng một khóa luận tốt
nghiệp, mặc dù đã cố gắng hết sức song vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo và các bạn để
bài khóa luận của em đƣợc hoàn thiện hơn.
Thái nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Trần Thi Quyên
ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Kế hoạch hóa gia đình
10
NQ
Nghị quyết
11
PTKT
Phát triển kinh tế
12
QĐ
Quyết định
13
TC
Trung cấp
14
TB
Trung bình
15
TT
Thị trấn
16
TT
Thông tƣ
17
TTg
Thủ tƣớng
18
UBND
Ủy ban nhân dân
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa học tập 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
1.4. Yêu cầu của đề tài 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1. Cơ sở khoa học 5
2.1.1. Giới tính và giới 5
2.1.2. Phát triển kinh tế hộ gia đình 10
2.2. Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1. Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia 14
2.2.2. Chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc với sự phát triển
của Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 16
2.2.3. Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 17
2.2.4. Giới trong tiếp cận một số vấn đề ở gia đình nông thôn 20
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 22
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 22
3.2. Nội dung nghiên cứu 22
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 23
3.3.2 Phƣơng pháp thu thập số liệu 24
3.4. Phƣơng pháp phân tích số liệu 25
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới đƣợc coi là một trong những thành tựu nổi bật của Việt
Nam trong 20 năm đổi mới vừa qua. Theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc năm
2005, Việt Nam chỉ số phát triển giới (GDI) đứng ở vị trí thứ 87 trong tổng số
144 quốc gia trên thế giới [13]. Năm 2005 Liên Hợp quốc đánh giá Việt Nam
là điểm sáng về 3 mục tiêu: Xoá mù chữ, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng giới.
Vấn đề giới ở Việt Nam đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt chú trọng,
điều này đƣợc thể hiện rõ nhất trong Luật Bình đẳng giới do Quốc hội nƣớc
Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 10 thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07
năm 2007. Xác định đây vừa là động lực vừa là mục tiêu phát triển của Quốc
gia nên ngày 24 tháng 12 năm 2010. Thủ tƣớng chính phủ đã kí Quyết định số
2351/QĐ – TT phê duyệt chiến lƣợc Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn
2010 – 2020.
Nhờ vào sự quan tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nƣớc mà khoảng cách
giữa nam giới và nữ giới trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đã
thay đổi và có xu hƣớng bình đẳng giới. Các đối tƣợng là phụ nữ và trẻ em
gái đã dần khẳng định đƣợc vị thế của mình trong xã hội và có tiếng nói trong
gia đình, thực hiện vai trò to lớn của mình trong đời sống kinh tế - xã hội.
Theo số liệu thống kê về giới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 (2005),
tỷ lệ nữ tham hoạt động kinh tế ở nƣớc ta đạt mức cao nhất khu vực, gần cân
bằng với nam giới (83% so với 85%), chiếm trên 48% lực lƣợng lao động xã
hội đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đạt tới 85% trong năm 2005.
Phụ nữ đang tham gia ở tất cả các loại hình nghề nghiệp và khu vực kinh tế.
2
Theo đánh giá giữa kỳ kết quả việc thực hiện Chiến lƣợc quốc gia, đến năm
2005 có trên 46% trong tổng số lao động đƣợc giải quyết việc làm là phụ nữ.
Trong đó, phụ nữ chiếm 49,95% lao động trong sản xuất nông-lâm-ngƣ nghiệp;
36,6% lao động trong sản xuất công nghiệp và xây dựng; 70% lao động trong
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu đƣợc vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia
đình, đồng thời đánh giá đƣợc thực trạng bình đẳng giới tai địa phƣơng. Từ đó
đƣa ra các biện pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa vai trò của từng giới về
mọi mặt để góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung cho toàn tỉnh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn TT Tân Yên,
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Phân tích và đánh giá thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn
TT Tân Yên.
Phân tích và đánh giá thực trạng về vai trò của nam giới và nữ giới
trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn TT Tân Yên.
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của giới trong phát triển
kinh tế hộ gia đình.
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong
phát triển kinh tế hộ trên địa bàn TT Tân Yên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập
Đề tài giúp hệ thống lại các kiến thức đã học, thực hiện đƣợc phƣơng
châm “ học đi đôi với hành”, “ lý thuyết gắn liền với thực tiễn”.
Nâng cao trình độ chuyên môn cho ngƣời nghiên cứu.
4
Rèn luyện các kĩ năng thu thập xử lý số liệu, triển khai một đề tài khoa
học, cách viết báo cáo.
Là tài liệu tham khảo cho trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức thiết thực, làm cơ sở cho
cơ chế tự nhiên, di truyền. Chức năng sinh sản của nam giới hay nữ giới là
không thể thay thế, chuyển dịch cho nhau [5].
Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có chức năng, cơ quan sinh
sản giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh
sản nhƣ nhau. Đây đƣợc gọi là tính đồng nhất. Sự khác biệt về giới tính hầu
nhƣ bất biến cả về thời gian cũng nhƣ không gian [5]. 6
* Giới
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về giới, sau đây là khái niệm của một
số tác giả:
Giới trƣớc hết không phải là phụ nữ. Giới liên hệ đến vai trò của nam
và nữ do xã hội hay do một nền văn hóa xác lập nên. Giới có thể khác nhau
giữa nơi này với nơi khác, giữa nên văn hóa này với nền văn hóa khác và có
thể thay đổi theo thời gian ( Feldstein H.S và Jiggins J, 1994) [2].
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới
không phải là sự xác định sinh học nhƣ kết quả của những đặc điểm về giới
tính của nam hay nữ, mà giới là do xã hội xác lập nên. Nó là một nguyên tắc
tổ chức xã hội có thể kiểm soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối
(FAO, 1997) [2].
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề
cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa
nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể ( Gendeen, Trần Thị Quế, 1999) [2].
Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tƣơng quan giữa địa vị xã hội của nam
và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện
và các yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một
hoàn cảnh cụ thể ( Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, 1996) [2].
Thuật ngữ giới đƣợc dùng trong nghiên cứu về phụ nữ mang một ý
- Trong nhà trƣờng, các thầy cô giáo cũng định hƣớng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam đƣợc hƣớng theo các ngành kĩ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ đƣợc hƣớng theo các ngành nhƣ
may, thêu, trang điểm, các ngành cần yếu tố tỷ mỷ.
* Sự khác biệt về giới
- Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu, vì họ sống thiên vì tình cảm, họ là
thành phần rất quan trọng trong việc xây dựng tổ ấm gia đình. Nữ giới luôn
8
gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới nên họ có những mối quan tâm có
phần khác so với nam giới.
- Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình, cứng rắn trong
phƣơng diện tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Nam giới
tập trung nhiều vào công việc, đóng vai trò chính trong lao động sản xuất, tham
gia các công việc xã hội, ít vƣớng bận con cái và gia đình. Chính điều này đã
làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa nam giới và nữ giới có xuất phát điểm không giống nhau để
tiếp cận cái mới, họ có những điều kiện khác nhau để tham gia vào các
chƣơng trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội.
Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội đƣợc học tập, tiếp
cận việc làm, từ vị trí trong gia đình và ngoài xã hội khác nhau. Từ các tác
động của các định kiến xã hội, các hệ tƣ tƣởng, phong tục tập quán đối với
mỗi giới cũng khác nhau.
2.1.1.3 Nhu cầu giới, lợi ích giới, bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu giới thực tế): Là những nhu cầu giới
của phụ nữ và nam giới cần đƣợc đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò đƣợc xã
hội công nhận [2].
Nhu cầu này đƣợc nảy sinh từ đời sống hàng ngày, là những thứ nhìn
thấy đƣợc, thiết thực, cụ thể. Có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ gắn
với các vai trò giới truyền thống. Ví dụ: phụ nữ có nhiều nhu cầu giới gắn với
để tự nuôi sống. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, đƣợc trả công. Tuy
nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không
nhƣ nhau và giá trị công việc họ làm cũng không đƣợc nhìn nhận nhƣ nhau.
Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này [2].
- Vai trò tái sản xuất bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và các
công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và tái sản xuất sức lao động. Vai trò
10
này không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học, mà con bao gồm cả vai trò chăm
lo và duy trì lực lƣợng lao động hiện tại và tƣơng lai. Hầu hết phụ nữ và trẻ
em gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất [2].
- Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ,
các công việc nhằm đảm bảo và duy trì các nguồn lực để sử dụng chung
nguồn nƣớc, vệ sinh đƣờng làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng… Công
việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hóa tinh thần
của cộng đồng. Công việc này có lúc đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn
thời gian và không nhìn thấy ngay đƣợc. Có lúc đƣợc trả công và có thể nhìn
thấy đƣợc nhƣ hỏi thăm động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai,
giúp đỡ những gia đình mất nhà, hỗ trợ quần áo, lƣơng thực cho ngƣời bị
nạn… [2].
Cả nam và nữ giới đều có những đóng góp nhất định thông qua các vai
trò trên. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, việc thể hiện vai trò giữa hai giới còn có sự
khác biệt rõ rệt. Hầu hết phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất, đồng thời
cũng phải tham gia khá nhiều vào vai trò sản xuất. Gánh nặng gia đình khiến
họ ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Do vậy nam giới có
nhiều cơ hội đảm nhận các hoạt động cộng đồng và ít khi tham gia vào vai trò
tái sản xuất.
2.1.1.5 Định kiến giới
Định kiến giới: là suy nghĩ của mọi ngƣời về những gì mà ngƣời phụ
nữ và nam giới có khả năng làm và loại hoạt động họ có thể làm [2].
phát triển trƣờng Đại học tổng hợp Susex – London – Anh) [15].
Từ các quan điểm trên, hộ có thể đƣợc hiêu nhƣ sau:
Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung
huyết thống, tuy nhiên cũng có thể thành viên của hộ không cùng huyết thống
12
nhƣ con nuôi, ngƣời tình nguyện và đƣợc sự đồng ý của các thành viên trong
hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao
động chung, có vốn và chƣơng trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là
đơn vị vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và đƣợc phân phối lợi
ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần
kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tƣ nhân, tập
thể, Nhà nƣớc…
* Hộ nông dân
Theo Ellis – 1988 cho rằng: “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch
các phƣơng tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong
sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bản
đƣợc đặc trƣng bằng việc tham gia một phần trong thị trƣờng hoạt động với
một trình độ hoàn chỉnh không cao” [15].
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế,
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [16].
Theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ
yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và
các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [15].
Từ các khái niệm trên ta thấy đƣợc những đặc điểm của hộ nông dân nhƣ sau:
- Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng.
*Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ gia nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản
xuất xã hội, trong đó các nguồn lực nhƣ đất đai, tiền vốn và tƣ liệu sản xuất
chủ hộ đƣa ra hầu hết các quyết định cơ bản trong phạm vi của hộ nhƣ có con,
nuôi dạy con, đi làm, nghỉ nghơi, đầu tƣ cho tƣơng lai.
14
Sự phân công lao động rõ ràng dựa vào giới. Đàn ông tham gia chủ yếu
vào việc ra quyết định và tiến hành các hoạt động sản xuất ở bên ngoài trong
khi ngƣời phụ nữ chịu trách nhiệm sinh con và làm việc nhà.
Ta thấy hầu hết nam giới có khả năng tập trung cao độ vào một vai trò
sản xuất cụ thể nào đó trong khi đó phụ nữ có thể thực hiện tất cả các vai trò
một cách đồng thời [5].
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia
Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới:
Na Uy là đất nƣớc dân số ít (4,5 triệu ngƣời) nhƣng chỉ số phát triển con
ngƣời (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới. Na Uy có
một hệ thống luật pháp đồng bộ hƣớng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho
ngƣời phụ nữ. Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới và
coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển. Là quốc gia đầu tiên trên
thế giới cho phép phụ nữ đƣợc tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền
ứng cử Quốc hội từ năm 1930. Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành
từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới đƣợc
bình đẳng trong phát triển. Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc
phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không
đƣợc phép. Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng
không đƣợc hạn chế tuyển một giới. Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải ngƣời
lao động cũng không đƣợc phân biệt nam nữ. Lao động nam và nữ trong cùng
một doanh nghiệp phải đƣợc trả lƣơng nhƣ nhau cho cùng một công việc nhƣ
nhau hoặc công việc có giá trị nhƣ nhau. Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới
đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dƣỡng nâng
cao trình độ. Đặc biệt Luật bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập
nuôi theo phƣơng thức tiên tiến, những kiến thức họ có đƣợc chủ yếu là do tự
học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những ngƣời thân của mình.
Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm đƣợc truyền đạt theo phƣơng pháp
16
này thƣờng ít khi làm thay đổi đƣợc mô hình, cách thức sản xuất của hộ.
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nƣớc đang phát triển. Điều đó trƣớc hết bắt nguồn từ tình trạng
phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần
quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã đƣợc hình
thành ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng
cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không đƣợc ghi nhận
một cách xứng đáng. Đấu tranh để đạt đƣợc sự bình đẳng thực sự giữa nam và
nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn
nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến
bộ và lạc hậu. Đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tƣ tƣởng “Trọng
nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là
ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu,… Ngay tại các bộ, ngành và
những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những
khó khăn nhất định. Việc bồi dƣỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn
chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Nhƣ vậy,
mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả nhất định nhƣng vấn đề bình đẳng về giới
vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt đƣợc mục
tiêu bình đẳng thật sự.
2.2.2. Chủ trương chính sách của Nhà nước với sự phát triển của Bình
đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi mới ra đời năm 1930 đã đề ra một
trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam là ”Nam nữ bình
quyền” Chủ tịch Hồ Chí Minh một tấm gƣơng sáng về tinh thần chiến đấu
giải phóng phụ nữ, bảo vệ các quyền cơ bản của phụ nữ. Nếu không giải
ngƣời Việt Nam nên khó có thể thay thế đƣợc. Vậy thực trạng của vấn đề này
18
trong những năm gần đây ra sao? Nhất là sự tác động của quá trình chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trƣờng đặt ra những thách thức vấn đề gì về giới cũng
nhu việc xử lí vấn đề này sẽ tác động gì đến chiến lƣợc phát triển phụ nữ Việt
Nam trong thế kỷ XXI? Để có thể đề xuất chính sách nhằm tăng cƣờng sự tiến
bộ của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam cần quan tâm đến một số vấn đề:
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam: Là một nƣớc có nền công nghiệp chƣa
phát triển, Việt Nam hiện có khoảng 80% số ngƣời trong độ tuổi lao động
sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhƣng họ là nhóm ngƣời
yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không đƣợc nhƣ đội ngũ công nhân, trí
thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức. Nhƣng họ lại là lực
lƣợng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ:
Cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, gạo, [12].
Hiện tƣợng tăng tƣơng đối của lực lƣợng lao động nữ nông thôn những
năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số ngƣời trong độ tuổi lao động, hiện nay
hàng năm nƣớc ta có khoảng 80 - 90 vạn ngƣời bƣớc vào tuổi lao động, trong
đó: lao động nữ chiếm 55%.
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
- Do sự tan rã của thị trƣờng Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90 khiến
cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng
hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp.
Ngoài ra, trong cơ chế thị trƣờng, có sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp
tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá
sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ
công này phải trở về nghề nông.