TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC CỦA FEUERBACH - Pdf 24

HV: Hồ Châu Xuân Trường 1 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
00000
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA FEUERBACH
HVTH: Hồ Châu Xuân Trường
STT: 125
Nhóm: 7
Lớp: Cao học K20_ Đêm 1
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Đề tài số 19:
2011
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
B. PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức 4
1.2. Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo 7
Chương 2: 10
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH 10
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức 10
2.2 Quan điểm tôn giáo 14
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach 17
2.4 Đóng góp vào cuộc sống 20
Chương 3: Kết luận 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
HV: Hồ Châu Xuân Trường 2 Tiểu luận triết học

B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Vào cuối thế 18 đầu thế kỷ 19, Tây Âu đã đạt được những thành tựu Kinh
tế – xã hội mới, Chủ nghĩa tư bản được thiết lập ở một số nước như Italia, Anh,
Pháp. Sự thiết lập đó đã đem lại một nền sản xuất ưu việt, và tân tiến chưa từng
có trong lịch sử so với tất cả các chế độ trước đó. Trong khi các nước Tây Âu đạt
được những thành tựu to lớn như vậy nhưng nước Đức cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn
là một quốc gia phong kiến lạc hậu. Sở dĩ nước Đức còn ở trình độ rất lạc hậu vì
hai lý do:
Thứ nhất, về địa lý, nước Đức đứng ngoài những đường thương mại quốc
tế lớn, chủ yếu bấy giờ đang phát triển ở bờ biển Đại Tây Dương (Tư bản phát
triển ở Anh, Hà Lan, Pháp), ngoại thương không có điều kiện phát triển nên nền
kinh tế Đức lúc bấy giờ vẫn lạc hậu và kém phát triển.
Thứ hai, trong giai đoạn này nền kinh tế và chính trị của Đức lạc hậu và rơi
vào khủng hoảng. Các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần lớn,
các giai cấp nông dân, tiểu tư sản và tư sản bị chế độ hoàng thân lần lượt đàn áp.
Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Chế độ
phong kiến thối nát vẫn được tích cực duy trì làm cản trở đất nước phát triển theo
con đường tư bản chủ nghĩa. Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực chất,
đất nước cũng phân chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau.
(1)

Trong bối cảnh đó, Nước Đức cần phải có cách nhìn mới về hiện tượng tự
nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt
động của con người. Với nhu cầu đó, triết học cổ điển Đức ra đời. Với sứ mạng
lịch sử đó, Triết học cổ điển Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có
đồng thời góp phần phát triển về tự nhiên, văn hoá nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu
cầu về tư tưởng của nước Đức cũng như các nước phương tây.

có những thành công rực rỡ trong việc phát triển lý luận Chủ Nghĩa Xã Hội khoa
học, là hạt nhân của Chủ Nghĩa Marx-Lenin ngày nay.
1.1.2.3. Johann Gottlieb Fichte
HV: Hồ Châu Xuân Trường 5 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Johann Gottlieb Fichte (19/5/1762 – 27/1/1814) là một nhà triết học Đức.
Ông là một trong những nhân vật sáng lập phong trào triết học được gọi là chủ
nghĩa duy tâm Đức, một phong trào đã phát triển từ các tác phẩm lý luận và đạo
đức của Immanuel Kant. Fichte thường bị coi như là một con số mà triết lý hình
thành một cầu nối giữa các ý tưởng của Kant và chủ nghĩa duy tâm của Hegel.
Fichte cũng đã viết triết học chính trị và được xem là một trong những cha đẻ của
chủ nghĩa dân tộc Đức.
1.1.2.4. Ludwig von Andreas Feuerbach
Ludwig von Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/9/1872) là một nhà triết
học Đức và nhà nhân chủng học. Ông là con trai thứ tư của luật gia nổi tiếng Paul
Ritter von Johann Anselm Feuerbach, anh trai của nhà toán học Karl Wilhelm
Feuerbach, và chú của họa sĩ Anselm Feuerbach.
Ông là đại diện cuối cùng, là sự kết thúc vẻ vang của Triết học cổ điển
Đức. Ông là nhà cải cách triệt để, nhà duy vật và vô thần. Feuerbach bắt đầu sự
nghiệp của mình với tư cách là một nhà duy tâm, là môn đệ và là học trò của
Hegel. Ông thuộc nhóm Hegel trẻ. Tư tưởng cải cách triết học của ông nhen
nhóm từ 1828 và được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án
Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen. Triết học
Feuerbach là sản phẩm tất yếu của những điều kiện mới, hình thành vào cuối
những năm 30 - đầu những năm 40. Đó là thời kỳ nhen nhóm tình thế cách mạng ở
nhiều nơi trên nước Đức, thời kỳ gia tăng các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa giai
cấp tư sản và phản động.
Feuerbach là nhà tư tưởng tự do và là nhà triết học duy vật duy nhất một
mình chống lại chủ nghĩa duy tâm bài viết “ Góp phần phê phán triết học
Hegel”(1839) trong hệ thống triết học Đức, tuy nhiên Ông chỉ là nhà triết học duy

người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một
thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang
tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm
tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh
địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành
bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội
tôn giáo khác nhau.
HV: Hồ Châu Xuân Trường 7 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
1.2.3. Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo
1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức
+ Nho gia: những phạm trù đạo đức thể hiện các nguyên tắc cơ bản của đạo
đức Nho gia – đạo đức hướng đến xây dựng mẫu người quân tử, và muốn trở
thành người quân tử cần phải tu thân.
(3)
+ Đạo gia: đạo đức thực hiện theo quan điểm vô vi, ông khuyên con người
trong cuộc sống phải thực hiện sáu điều: a) Tri túc (biết đủ thì dừng lại), b) Không
cạnh tranh, không bạo động, lấy thiện thắng ác, lấy nhu thắng cương, c) công
thành thân thoái, d) Sống vô tư, hồn nhiên, đ) Lấy đức báo oán, e) Tu luyện thần
hóa, hạn chế dục tính.
(4)

+ Arixtốt: đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong
thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian,
đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người
trong cộng đồng xã hội.
(5)


Sự đề cao ý chí này của ông đã được Soopenhauơ phát triển.
+ Heeghen: Tôn giáo là phương thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để tự
khám phá ra chính mình, để rũ bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nơi trần gian
mà quay về với mình, quay về với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của
nó.
HV: Hồ Châu Xuân Trường 9 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Chương 2:
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về con người,
Feuerbach lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của mình. Trên cơ sở đó, ông
xây dựng hệ thống quan điểm về đạo đức và tôn giáo của mình.
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức
Trong triết học của ông Quan điểm đạo đức đề cập rải rác trong một số tác
phẩm nên nếu cố gắng đào sâu phân tích chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc
trưng.
2.1.1 Lý luận về đạo đức (Tính quy luật của đạo đức.???)
Đạo đức học của Feuerbach giả định rằng những phương tiện và những vật
để thoả mãn yêu cầu đó thì hiển nhiên mọi người đều có, hoặc là nó chỉ mang lại
cho con người nhiều lời dạy bảo tốt nhưng không áp dụng được; và như vậy thì
đạo đức học đó không đáng giá một xu đối với những người thiếu những phương
tiện nói trên. Và đó là điều mà chính Feuerbach cũng đã giải thích bằng lời lẽ
thẳng thắn: “Trong một cung điện người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh.
Nếu như vì đói, vì nghèo, mà trong cơ thể anh không có chất dinh dưỡng, thì trong
đầu óc anh, trong tình cảm của anh và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi
đạo đức”.
Theo học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì sở giao dịch chứng khoán là
ngôi đền cao nhất của đạo đức, nếu như ở đó người ta luôn luôn đầu cơ một cách
có trí tuệ. Nếu như lòng mong muốn hạnh phúc của tôi dẫn tôi đến sở giao dịch và

Feuerbach về cơ bản đồng nhất với khái niệm tự do của Spinoza. Con người theo
Spinoza, chỉ là phần quá nhỏ bé của thiên nhiên, vì vậy hoạt động vừa nó phải phù
hợp với “trật tự thiên nhiên phổ quát”. Trong quá trình hoạt động,con người tìm
thấy mình, khẳng định mình bằng xúc cảm và tư duy, bằng khả năng tự bảo vệ.
Đối với Feuerbach tự do là sự thống nhất con người với hoàn cảnh, nơi bản
chất của nó bộc lộ ra chủ nghĩa chim tự do trong không khí, con cá tự do trong
biển cả, con người tự do ở nơi nào và khi nào mà hoàn cảnh sống của nó cho phép
nó thoả mãn khát vọng hạnh phúc. Quan điểm trừu trượng, tự nhiên chủ nghĩa
Feuerbach về tự do tương xứng với đòi hỏi của các nhà khai sáng tư sản đặt hoàn
HV: Hồ Châu Xuân Trường 11 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
cảnh sống của con người phù hợp với bản chất của con người, làm cho hoàn cảnh
ấy mang tính người.
2.1.3 Vấn đề khát vọng hạnh phúc
Mỗi cá nhân đều có quyền sống hạnh phúc và hướng tới hạnh phúc. Khái
niệm hạnh phúc được hiểu khá rộng, nhưng ý nghĩa, tính chất của nó chỉ có một -
tính cá thể. “mỗi nước, mỗi dân tộc và mỗi con người có hạnh phúc riêng của
mình…”. Cái gì là hạnh phúc của anh, không phải là hạnh phúc của tôi, cái gì làm
anh khiếp sợ, thì làm cho tôi thích thú…tuy nhiên ở một chổ khác.
Feuerbach nhấn mạnh con người xã hội. Chỉ có con người xã hội mới là
con người. Con người không tồn tại và phát triển trong đơn độc. Sự liên hợp tự
nhiên của con người trở nên tính tất yếu. Sự giao thiệp và hòa đồng làm cho hạnh
phúc của con người không còn là cái gì khó đạt được. Bên ngoài tôi và bên ngoài
anh không có hạnh phúc, vì vậy không có đạo đức.
Bao trùm lên toàn bộ đạo đức học của Feuerbach là nguyên lý tình yêu phổ
quát. Tình yêu là công cụ sáng tạo, cơ sở xây dựng quan hệ giữa người với người,
đối với hận thù là công cụ phá hoại, tiêu diệt xung đột.
Về hình thức, Feuerbach là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con
người làm xuất phát điểm. Ông cho rằng con người mang bản tính cá nhân, và con
người – cá nhân cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất nằm trong tình yêu.

hai sự uốn nắn. Thứ nhất, của những hậu quả tự nhiên của hành vi của chúng ta:
sau trác táng thì đến chán chường, sau thói quen chơi bời quá độ thì đến bệnh tật.
Thứ hai, của những hậu quả xã hội của những hành vi đó: nếu như chúng ta không
tôn trọng lòng mong muốn hạnh phúc đó của những người khác thì những người
đó sẽ phản kháng lại và phá hoại lòng mong muốn hạnh phúc của chúng ta. Do đó,
nếu như chúng ta muốn thỏa mãn lòng mong muốn hạnh phúc của chúng ta, chúng
ta phải biết đánh giá đúng những hậu quả của hành vi của chúng ta, và ngoài ra,
chúng ta phải tôn trọng những người khác cũng có quyền bình đẳng với chúng ta
trong việc mong muốn hạnh phúc. Do đó, sự tự hạn chế một cách hợp lý bản thân,
và tình yêu - lại tình yêu! - trong quan hệ với những người khác, là những quy tắc
cơ bản của đạo đức của Feuerbach, mà từ đó rút ra những quy tắc khác.
Nếu như con người chỉ chăm lo đến bản thân mình thì lòng mong muốn
hạnh phúc của họ chỉ được thỏa mãn trong những trường hợp rất hãn hữu và hoàn
HV: Hồ Châu Xuân Trường 13 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
toàn không có lợi cho họ hay cho người khác. Con người cần phải giao lưu với thế
giới bên ngoài, phải có những phương tiện để thỏa mãn yêu cầu của mình: nghĩa là
cần phải có thức ăn, một người thuộc giới tính khác mình, sách vở, giải trí, tranh
luận, hoạt động, vật dụng và đối tượng lao động.
Tình yêu! Vâng, đối với Feuerbach thì tình yêu, ở đâu và bao giờ, cũng là
một ông thần lắm phép lạ có thể giúp vượt mọi khó khăn của đời sống thực tiễn,
và điều đó diễn ra trong một xã hội chia thành những giai cấp có những lợi ích đối
lập hẳn với nhau! Do đó, những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong
triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu
nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. - Thật là giấc
mơ thiên hạ thuận hòa!
Tóm lại, học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì cũng giống như tất cả
những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi
dân tộc, mọi hoàn cảnh.
2.2 Quan điểm tôn giáo

Feuerbach viết " tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người nhưng trong giấc mơ
đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất trong vương quốc của
hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế
giới thực tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí tưởng tượng và sự
kỳ quặc. Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học
tư biện hay thần học, chuyển thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến
đối tượng tưởng tượng thành đối tượng hiện thực".
Feuerbach viết " tôn giáo là sự phản ánh thời thơ ấu của nhân loại hay trong
tôn giáo con người là đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thực hiện ý muốn của mình bằng
sức mạnh của nó, phải nhờ đến một tồn tại mà nó cảm thấy lệ thuộc tôn giáo có
nguồn gốc xuất hiện, có chỗ đứng chân chính, có ý nghĩa trong thời thơ ấu của
nhân loại".
(***)
2.2.2 Bản chất tôn giáo:
Feuerbach nghiên cứu bản chất của tôn giáo dựa trên các mối quan hệ giữa
tôn giáo với: chính trị, đạo đức, khoa học, triết học duy tâm và nghệ thuật
2.2.2.1. Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển của các quốc gia từ thời cổ đại đến
đương đại, Feuerbach cho rằng, chính quyền nhà nước luôn giữ mối quan hệ với
giáo hội, tôn giáo là chỗ dựa của chính trị và ngược lại.
(*****)
HV: Hồ Châu Xuân Trường 15 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
2.2.2.2. Mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức
Dựa trên những khảo cứu lịch sử hiện thực của nhân loại, Feuerbach thấy
rằng trong thực tế thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác,
sự thù địch giữa người theo đạo và kẻ dị giáo. Hơn nữa có những người có chức
sắc tôn giáo cao trong giáo hội, song họ vẫn có những hành vi phi đạo đức. Từ đó
ông lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng dường như phủ
định thương đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức. Theo Feuerbach,

biểu trưng. Nghệ thuật và tôn giáo tác động một cách trực tiếp tới tình cảm con
người, gây nên trong họ những cảm xúc mạnh.
Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach đã truy tìm bản
chất của tôn giáo trong bản chất của con người, ông viết. "Bản chất thần thánh
không là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được
giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý
hiện thực, được khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ.
Bởi vậy, mọi sự xác đinh về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác
định bản chất con người.

2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach
Feuerbach đã tạo nên triết học Feuerbach rất riêng trong thời kỳ hậu Hegel. Ông
thực hiện phê phán toàn bộ triết học Hegel và khẳng định rằng muốn xây dựng được một
học thuyết triết học đúng đắn phải dựa trên lập trường duy vật. Lập trường duy vật của
Feuerbach trở thành đối trọng của chủ nghĩa duy tâm Hegel trên nền tảng để cao con
người tồn tại giữa thế giới này, làm chủ chính thế giới này.
Sau gần 2 thế kỉ tồn tại và khẳng định mình, triết học Feuerback đã được nhìn nhận với
những thành tựu và hạn chế như sau:
2.3.1 Thành tựu
Triết học Feuerback đã góp công lớn trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa
duy vật chống lại quan điểm duy tâm và tôn giáo. Quan điểm duy vật của Feuerbach cùng
với tư tưởng biện chứng của Kant và phép biện chứng của Hegel trở thành tiền đề lý luận
hình thành triết học Marx - Lenin.
Triết học Feuerback có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành chủ nghĩa vô thần
của Marx giúp Marx thoát khỏi triết học duy tâm huyền bí của Hegel để đến với chủ
nghĩa duy vật biện chứng. Feuerbach đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và đặt
con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học.
Triết học Feuerback với chủ nghĩa nhân bản, ước muốn xây dựng một xã hội của
tình yêu đóng vai trò tiền đề, chất kích thích để Marx xây dựng mô hình khoa học về xã
hội tương lai. Thật vậy, trước khi chuyển hẳn sang quan niệm duy vật về lịch sử, Marx đã

khô cứng Triết học Fueerbach đã chứa trong mình nhiều hạn chế:
HV: Hồ Châu Xuân Trường 18 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Những quan điểm đưa ra của triết học Feuerbach về cơ bản vạch ra được nguồn gốc
tâm lý con người đối với tôn giáo. Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ nguồn gốc thực sự của tôn
giáo, chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế - xã hội của vấn đề.
Fuerbach phát hiện ra tính đảng trong tôn giáo đã gây ra những cuộc đấu tranh giữa
những người theo tôn giáo và những người dị giáo nhưng ông chưa phát hiện ra được vấn
đề đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp do hạn chế bởi lập trường giai cấp và hoàn
cảnh lịch sử.
Feuerbach phê phán chủ nghĩa duy tâm Hegel nhưng không hiểu đầy đủ vai trò của
phép biện chứng trong việc lí giải thế giới, phê phán Cơ đốc giáo để thay thế nó bằng tôn
giáo tình yêu. Ông khắc phục một ảo tưởng, nhưng lại hướng đến ảo tưởng khác.
Feuerbach phân tích các hiện tượng tự nhiên muôn vẻ từ quan điểm duy cảm. Do
không nắm bắt kịp thời, đầy đủ các chất liệu có giá trị của khoa học tự nhiên đương thời,
nên sự phân tích của ông thường không sâu sắc, thiết chặt chẽ, thiếu sức thuyết phục.
Feuerbach chưa khắc phục được hạn chế của duy vật siêu hình, coi vật chất như là
một cái gì thuần nhất. Tuy thừa nhận vật chất vận động nhưng chưa lý giải được nguồn
gốc, động lực, hình thức của vận động.
Chủ nghĩa nhân bản Feuerbach hàm chứa trong mình những mầm mống của quan
niệm khoa học về lịch sử. Tiếc thay ông hiểu cuộc sống hiện thực ấy một cách trừu tượng
nằm bên ngoài mối liên hệ lịch sử - xã hội nhất định, với sự phân hóa xã hội và cuộc đấu
tranh hiện thực vì tiến bộ xã hội.
Quan niệm về con người của Triết học Feuerbach tuy hướng tới cái đẹp, cái Chân _
Thiện _ Mỹ, mong muốn con người luôn có cuộc sống tốt hơn, nhưng nó rất trừu tượng,
không rõ ràng không mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc. Như Anghen trong tác phẩm “
Lugwig Bererbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” đã nhận xét:“ về hình thức
Feuerbach là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm điểm xuất phát, song
hoàn toàn khong nói đến thế giới trong đó con người đang sống. Vì vậy, con người mà
ông nói luôn là con người trừu tượng vẫn chiếm cứ lĩnh vực triết học tôn giáo chính là vì

thống nhất mọi người trên tinh thần nhân bản!
Và chúng ta mong rằng nền tảng xã hội như Feuerbach mong muốn sẽ được lan tỏa
và thể hiện tốt hơn, đẹp hơn ở chính xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang sống, xây dựng
và phát triển.
HV: Hồ Châu Xuân Trường 20 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Chương 3: Kết luận
Feuerbach với tư cách là đại biểu cuối cùng của nền Triết học cổ điển Đức
đã khép lại nền triết học cổ điển phương Tây thông qua việc khôi phục và phát
triển chủ nghĩa duy vật, đề cao các khía cạnh phổ biến ảnh hưởng đến đời sống
con người là đạo đức và tôn giáo.
Đạo đức ở triết học của Feuerbach hướng tới cái thiện, cái xã hội đề cao
con người,đề cao tình yêu. Tình yêu là bản chất của loài người. Con người biết
sống trước hết là con người biết yêu."Đứa trẻ chỉ thành người khi nó yêu. Bản chất
tình yêu thể hiện ở một dạng tình yêu, đó là tình yêu của người đàn ông dành cho
người đàn bà".
Tôn giáo ở triết học của Feuerbach là xuất phát điểm của chủ nghĩa duy
tâm. Chính vì vậy, ông cho rằng chừng nào còn tồn tại tôn giáo thì con người chưa
có tự do. Con người cần thoát khỏi những ràng buộc của tôn giáo để được tự do
hơn. Tuy nhiên sau đó ông đã nhận thức được rằng con người sẽ không thề loại trừ
tôn giáo, và sau đó ông lại đi xây dựng một tôn giáo mới “ tôn giáo của tình yêu ”
trong đó con người yêu con người là trung tâm.
Tư tưởng triết học của Feuerbach với chủ nghĩa nhân bản thật gần với định
hướng xã hội mà cả nước chúng ta đang hướng tới.
Tuy còn nhiều hạn chế về nhận thức và tư tưởng nhưng bằng khả năng tư
duy rất riêng của mình cũng như tinh thần không chịu khuất phục trước những
định kiến và cô lập của xã hội đương thời Feuerbach đã để lại cho nhân loại quan
điểm duy vật điển hình để sau đó cùng với tư tưởng biện chứng của Kant và phép biện
chứng của Hegel trở thành tiền đề lý luận hình thành triết học Marx - Lenin.
Lugwig Feuerbach xứng đáng là là đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn
Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học
Kinh tế, 2010.
4. Trang 69 – Triết học phần 1 Đại Cương về lịch sử Triết học, TS. Bùi
Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn
Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học
Kinh tế, 2010.
5. Trang 116-117 - Triết học phần 1 Đại Cương về lịch sử Triết học, TS.
Bùi Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS.
Nguyễn Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại
học Kinh tế, 2010.
6. Triết học phần 1 Đại Cương về lịch sử Triết học, TS. Bùi Văn Mưa, TS.
Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn Ngọc Thu, TS.
Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học Kinh tế, 2010.
7. Triết học tôn giáo của Ludvig Feuerbach _ Lê Công Sự - tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo ( Số 1,2 – 2006).
8. Đại cương lịch sử triết học phương Tây, TS. Đỗ Minh Hợp, TS. Nguyễn
Thanh, TS. Nguyễn Anh Tuấn, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006.
9. Tập bài giảng triết học cổ điển Đức, Đại học khoa học xã hội nhân văn thành
phố Hồ Chí Minh, Đinh Ngọc Thạch.
10. Tạp chí triết học.
HV: Hồ Châu Xuân Trường 23 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status