1
TRƯỜNG CÁN BỘ THANH TRA
LỚP NGHIỆP VỤ THANH TRA NÂNG CAO TIỂU LUẬN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC
TRONG HỆ THỐNG THANH TRA HIỆN NAY
‘ HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ THUẬN
TỔ: 6
ĐƠN VỊ: ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC Hà Nội tháng 8 năm 2006 2
hành pháp. Hiện nay, theo Luật Thanh tra đã được Quốc hội thông qua
ngày 28 tháng 5 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 10
năm 2004
thì: Về cơ bản hệ thống các tổ chức thanh tra thanh tra nhà nước
vẫn được qui định như Pháp lệnh thanh tra năm 1990, tuy nhiên có một số
thay đổi như : Cơ quan thanh tra ở trung ương gọi là Thanh tra Chính phủ;
Hệ thống thanh tra nhà nước chia làm hai loại( cơ quan thanh tra theo cấp
hành chính gồm thanh tra chính phủ, thanh tra cấp tỉnh, thanh tra cấp
Huyện); Cơ quan thanh tra theo ngành và theo lĩnh vực( thanh tra Bộ ; thanh
tra Sở). Vấn đề cải cách hành chính theo xu hướng hiện nay cuả Đảng và
Nhà nước ta thì việc xây dựng loại hình Bộ đa ngành đa chức năng với hai
nhiệm vụ song trùng là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành là
một trong những nội dung đổi mới trong hoạt động tổ chức thanh tra ở Bộ.
Tuy nhiên, hiện tại trong thực tế thì tổ chức thanh tra cấp Bộ còn vướng mắc
và chống chéo với tổ chức thanh tra chuyên ngành. Đây là vấn đề cần được
xem xét và có qui định lại trong tổ chức thanh tra Bộ hiện nay.
I. Vài nét về hệ thống tổ chức Thanh tra Nhà nước ta .
Nhà nước ta luôn rất coi trọng công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo, phòng ngừa đấu tranh chống tham nhũng là những nhiệm vụ gắn liền
với tổ chức và hoạt động cuả hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước. Trong
lịch sử 60 năm thành lập của Ngành kể từ ngày được thành lập Ban thanh tra
đặc biệt theo Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945. Từ đó đến nay,
Thanh tra Nhà nước đã lần lựợt được đổi tên là: Ban Thanh tra Chính phủ
4
theo Sắc lệnh số 138/SL ngày 19 tháng 12 năm 1949, Ban thanh tra Trung
ương của Chính phủ theo sắc lệnh số 261/SL ngày 28 tháng 3 năm 1956;Ủy
ban thanh tra của Chính phủ trên cơ sở Ban thanh tra Trung ương của Chính
phủ năm 1959; ủy ban ban thanh tra của chính phủ và Ban thanh tra của các
Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính: (Điều 13- Luật Thanh tra).
Thanh tra chính phủ: (ĐIều 14 ):
Đây là tên gọi mới của Thanh tra Nhà nước trước kia( theo Pháp lệnh
Thanh tra). Thanh tra chính phủ là cơ quan cuả Chính phủ, chịu trách
nhiệm trước chính phủ về thực hiện, quyền hạn thanh tra trong phạm vi
quản lý nhà nước của Chính phủ. Thanh tra Chính phủ có Tổng thanh tra,
Phó Tổng thanh tra và thanh tra viên. Tổng thanh tra là thành viên của
chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc Hội phê chuẩn và Chủ
tịch nước bổ nhiệm. Quyền hạn của Thanh tra chính phủ được qui định
tại ĐIều 15. Có thể nói, về cơ bản, nhiệm vụ quyền hạn cuả Thanh tra
chính phủ không khác nhiều so với nhiệm vụ quyền hạn của Thanh tra
Nhà nước đã được qui định tại Pháp Lệnh Thanh tra năm 1990. Nó vẫn
bao gồm quyền hạn về thanh tra trực tiếp và quyền hạn liên quan đến
trách nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra. Với quan điểm
quản lý nhà nước chủ yếu thuộc trách nhiệm của cơ quan thanh tra cấp
trung ương, do đó Luật Thanh tra đã lồng ghép cùng với nhiệm vụ quyền
hạn chung của thanh tra Chính phủ. Thêm vào đó là việc nhấn mạnh công
tác chống tham nhũng một vấn đề nóng bỏng đang có nguy cơ trở thành
quốc nạn của một bộ phận không nhỏ cán bộ biến chất trong hệ thống
quản lý nhà nước ta hiện nay. Ở một mặt nào đó, nạn tham nhũng đã và
6
đang là cản trở sự nghiệp đổi mới của nhà nước ta, cản trở sự phát triển
của đất nước.
Thanh tra cấp tỉnh: (Điều 17)
Là cơ quan thanh tra được tổ chức ở địa phương theo cấp hành chính. So
với Pháp lệnh Thanh tra 1990 thì thanh tra cấp tỉnh theo Luật thanh tra
2004 là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách
nhiệm giúp ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác
thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính trong
của Thanh tra tỉnh. Theo qui định, Chánh Thanh ra huyện có quyền đề
nghị thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện thanh
tra trong phạm vi trách nhiệm của cơ quan đó. Quyền hạn nhiệm vụ của
Chánh Thanh tra huyện được qui định tại ĐIều 21.
Cơ quan thanh tra theo ngành theo lĩnh vực ( Điều 23)
Thanh tra Bộ(Điều 24)
Các cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực gồm có: Thanh tra bộ, cơ
quan ngang bộ( gọi chung là thanh tra bộ) Thanh tra bộ có thanh tra hành
chính và thanh tra chuyên ngành. Đây là một qui định mới so với Pháp
lệnh thanh tra 1990. Qui định này của Luật đã xác định rõ một vấn đề vẫn
thường gây ra tranh luận đó là ở mỗi bộ chỉ có một cơ quan thanh tra vừa
làm nhiệm vụ thanh tra hành chính vừa làm nhiệm vụ thanh tra chuyên
ngành. Điều này thể hiện quan điểm chỉ đạo để xây dựng luật Thanh tra
nhằm thực hiện chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước ta
là thu hẹp bớt các đầu mối hoạt động các cơ quan trong Chính phủ, xây
dung mô hình Bộ đa ngành đa lĩnh vực đa chức năng, đảm bảo sự quản lý
thống nhất theo ngành theo lĩnh vực ở các Bộ. Như vậy, thanh tra bộ là
cơ quan đầu mối giúp Bộ trưởng nắm toàn bộ công tác thanh tra của toàn
8
Bộ về cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành( thanh tra đối
với những ngành , lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ). Để thực hiện
được điều này, thanh tra Bộ sẽ được tổ chức theo hướng có bộ phận thực
hiện công tác thanh tra hành chính; có một bộ phận làm công tác thanh
tra chuyên ngành( phụ thuộc vào lĩnh vực mình quản lý). Các cơ quan
thanh tra chuyên ngành có thể đặt ở bộ, nằm throng cơ cấu của thanh tra
bộ hoặc thành lập ở các cục, tổng cục được giao quản lý nhà nước về
ngành lĩnh vực, chịu trách nhiệm quản lý về ngành, lĩnh vực, chịu sự chỉ
đạo, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Chánh thanh tra bộ, đồng thời
chịu sự điều hành của người chịu trách nhiệm quản lý ngành, lĩnh vực
nào? Đây là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu khi xây dựng Nghị định
về tổ chức thanh ra bộ trong thực tế hiện nay.
2.2.2. Thanh tra Sở ( Điểm b khoản 1 Điều 23 và Điều 27)
Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý
nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo qui
định của pháp luật. Như vậy có thể hiểu rằng, không phải tất cả các sở
đều thành lập và nhất thiết phải có tổ chức thanh tra, mà chỉ có ở những
sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước mới cần có tổ chức thanh tra. Vì
theo qui định cuả Luật tổ chức Hội đông nhân dân và Ủy ban nhân dân
thì Sở là cơ quan chuyên môn, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà
nước về một lĩnh vực chuyên môn. Sở không phải là một cấp trong hệ
thống các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên cũng như thanh tra Bộ,
Thanh tra sở cũng thực hiện cả nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính
và thanh tra chuyên ngành( Điều 27). Trong thực tế, sở là cơ quan chuyên
môn gíup Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh
vực tại địa phương, song bên cạnh đó sở cũng đồng thời là cơ quan quản
10
lý trực tiếp đối với cơ quan đơn vị khác nhất là các đơn vị sự nghiệp. Do
đó, ngoài nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương, sở còn thanh tra cả việc thực
hiện chính sách pháp luật nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị thuộc quyền
quản lý trực tiếp của Sở. Theo qui định tại Pháp lệnh thanh tra thì Chánh
Thanh tra sở do Giám đốc sở đề nghị Chánh Thanh tra tỉnh trình Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nay theo qui
định tại Luật, Chánh thanh tra sở do Giám đốc sở quyết định sau khi
thống nhất với Chánh thánh tra tỉnh( Khoản 2 Điều27). Thanh tra sở chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc sở, đồng thời chịu sự hướng dẫn về
công tác, nghiệp vụ thanh tra hành chính của thanh tra tỉnh, về nghiệp vụ
thanh tra chuyên ngành của thanh tra bộ. Như vậy, Thanh tra sở về
và đối tượng của thanh tra bộ, ngành và thanh tra các cấp
- Thanh tra bộ, ngành( thanh tra nhà nước ở bộ, ngành) có quyền thanh
tra các đối tượng, các lĩnh vực do bộ, ngành quản lý trong phạm vi cả
nước. Như vậy có sự chồng chéo với thanh tra chuyên ngành và thanh
tra theo cấp hành chính.
- Thanh tra nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện có quyền thanh tra các lĩnh
vực, các đối tượng do ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý . Như vậy sẽ
trùm lên thanh tra sở, chồng chéo với thanh tra chuyên ngành, bộ
ngành.
Nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo trên là vì:
Thứ nhất: các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ,
12
nhưng lại thiếu sự phân định rành mạch, rõ rằng cả về nội dung và đối
tượng quản lý
Thứ hai: vịêc phân định phạm vi, ranh giới về nhiệm vụ quyền hạn giữa
các tổ chức thanh tra nhà nước chưa rõ ràng, nhất là vấn đề thanh tra
chuyên ngành không được làm rõ nên cũng dẫn đến sự trùng lặp.
Thực trạng thể chế nhà nước ta hiện nay nghi nhận sự tồn tại nhiều loại
hình hoạt động thanh tra , kiểm tra, giám sát. Về mặt tích cực đây là các
mũi nhọn trong việc phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật, góp phần nâng
cao hiệu quả quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và công
dân. Tuy có cùng mục tiêu, nhưng sự tồn tại nhiều loại hình tổ chức
thanh tra, kiểm tra, giám sát với những phương thức gần giống nhau đã
gây nên tình trạng chồng lấn trong hoạt động của các cơ quan có chức
năng thanh tra, kiểm tra, giám sát. Một đối tượng của quản lý phải chịu
rất nhiều sự thanh, kiểm tra, giám sát của nhiều cơ quan khác nhau. Thậm
chí có lúc có nơi một đối tượng quản lý bị nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra,
14