TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : ĐÀO ÁNH TUYẾT
STT : 131
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
HCM, Tháng 5/2011
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 2
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta không thể
không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại
và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là những cái nôi của
triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của
triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học thế giới sau này. Nét nổi bật
của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học mà
sau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo nội dung của thời đại
mình Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và giải quyết những vấn đề của
tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương đồng và khác nhau của triết học Hy Lạp cổ
đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học
phương Tây và triết học phương Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói

3. Những đặc điểm cơ bản
- Thứ nhất: thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô
thống trị.
- Thứ hai: Có sự phân chia và sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy
tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng
- Thứ ba: đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác.Các nhà triết học Hy Lạp cổ là
“những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để bảo vệ
quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý
- Thứ tư: gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực
khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống
nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.
- Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các
triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 6
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
4. Các tư tưởng, trường phái triết học
4.1 Chủ nghĩa duy vật:
4.1.1 Trường phái Milet: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường phái Milet
này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như khái niệm triết
học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú thêm những khái
niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
4.1.2 Trường phái Héraclite: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán đoán
thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau này Marx
đã đề cập và đi sâu. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học
Héraclite vào tư tưởng của nhân loại.
4.1.3 Trường phái đa nguyên Empédocle – Anaxago: Để giải thích tính đa dạng
của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empédocle và Anaxago cố vượt
qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái Milet, trường phái
Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng.
Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, còn hạn chế.

lý tưởng, lại vừa bảo vệ địa vị và lợi ích của chủ nô quý tộc.
4.2.4 Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết học Hy Lạp
cổ đại, người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, góp phần thúc đẩy lý trí
Hy Lạp nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển.
Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn và nhận thức:
+ Sinh thể (cả con người) đều có thể xác và linh hồn
+ Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất con người sinh
ra là để nhận thức.
+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con người mới sinh ra,
linh hồn như một tấm bảng trắng.
Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
+ XH tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưu lãnh đạo.
+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng XH & bình đẳng
giữa các cá nhân… Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện ra đời
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất
thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt. Xã
hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳng cấp bình dân tự
do, Đẳng cấp nô lệ. Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: Đạo Ấn (Thờ bò) (HinDu),
Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 10
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
1.2.Điều kiện về khoa học và văn hóa
- Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong phú về
nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp, kiến trúc…
- Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha trộn sự
thần bí.
2. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ

vũ trụ.
4.3 Hệ thống triết học không chính thống
- Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc tôn giáo, ra đời vào
khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
- Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata mang tính duy vật chủ
nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian tương đối ngắn
- Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ
đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường, duyên
khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ đế, nhân đế, diệt
đế, đạo đế.
CHƯƠNG 2: SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI & ẤN
ĐỘ CỔ ĐẠI
A. SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TH ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TH HY LẠP CỔ
ĐẠI
1. Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những thành
tựu rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, gắn bó mật thiết với khoa
học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng
một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất. Tuy Ấn Độ và Hy
Lạp cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau nhưng tất cả điều ảnh
hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học.
Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có sự
phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp tàn khốc đối với tầng lớp nô
lệ.
2. Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự ra đời của vạn vật
Nghiên cứu về con người, đạo đức nhân sinh quan, đặt vai trò của con người
lên hàng đầu. Tuy nhiên, triết học vẫn chưa tách rời được yếu tố thần linh ra khỏi ý
thức của con người. Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của
thần thánh, tôn giáo. Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua luân hồi.
Thế giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần bí.

3. Tương đồng trong nhận thức, thế giới quan duy vật và vô thần có tính biện chứng
sâu sắc.
• Ấn Độ:
- Nhận thức luận của Nyaga thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại khách quan
cần phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết luận, tương tự và
bằng chứng.
- Phái Nyaga và Vaisêsika đều xây dựng những phương thức logic học.
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 16
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
• Hy Lạp:
- Đêmôcrit đề cao nhận thức lí tính, xuất phát từ nhận thức cảm tính, để tìm ra
nhận thức lí tính
- Đêmôcrit cũng tiến hành xây dựng những phương pháp nhận thức logic học
như quy nạp, so sánh, giả thuyết, định nghĩa.
4. Ấn độ và Hy Lạp cổ đại có cả hai trường phái duy vật và duy tâm
• Ấn Độ:
- Duy vật : Gaimini,Gotama,Kanada,
- Duy tâm : Upanisad(bratman,atman)
• Hy Lạp:
- Duy vật : Talet,Anaximen,Hecraclit,Democrit,…
- Duy tâm : Pitago,Pacmenic,Xocrat ,Platong,…
5. Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại cho con
người cuộc sống hạnh phúc:
6. Bên cạnh những ưu điểm, hai nền triết học đều chưa rõ ràng, chưa hệ thống hóa
và giải thích được nguồn gốc, tính chất vai trò của phạm trù đối với nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
7. Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng lớp tri
thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền triết học
và khoa học đồ sộ, sâu sắc.
8. Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, đôi khi đã đạt tới ý tưởng siêu thực,

1.2 Triết học Hy Lạp gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên
Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp
mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình
độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân
tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể
để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết học đồng thời là
các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra
những kết luận triết học.
Sự xuất hiện của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo
nên một bước ngoặc lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và
tôn giáo nguyên thuỷ. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri
thức về khoa học tự nhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học -
tự nhiên của các nhà triết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ chưa phân
ngành nên các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà Vật lý học như
Talét, Pytago, Ácximét, Ơclít, Từ các yếu tố đó có thể khẳng định rằng, triết học
Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó với nhu cầu thực tiễn và gắn với
khoa học.
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 20
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
2. Triết học Ấn Độ có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa
phép biện chứng và phép siêu hình; Triết học Hy Lạp có sự phân chia và đối lập rõ
ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần
2.1 Triết học Ấn Độ có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,
giữa phép biện chứng và phép siêu hình
Do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa mà triết học Ấn Độ cổ đại không thể
phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng
và phép siêu hình mà chủ yếu được chia thành hệ thống chính thống và hệ thống
không chính thống. Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có sự đan xen giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình.

phân kỳ lịch sử trong các xã hội Ấn Độ không mạch lạc như phương Tây.
2.2 Triết học Hy Lạp có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường
phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần
Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và chia
ra thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy tâm) và
trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu thần, gắn
liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa
trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy tâm của Platông.
Hai học thuyết đó ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống phương Tây. Có thể nói triết học
Hy Lạp cổ đại rất nhất quán, kiên định một quan điểm, một lập trường.
Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy Lạp)
là Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên,
vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước, theo
Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là không
khí. Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản nguyên của
vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật.
Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở
miền nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có
những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế giới là
một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ trụ
(trường phái Pitago).
Đối lập lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn.
Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây
dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự nhiên
bắt nguồn từ ý niệm.
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 24
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp -
La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý

để đạt tới đồng nhất với "Tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối thì con người phải dốc
lòng toàn tâm tu luyện hành động và tu luyện tri thức. Bằng nhận thức trực giác,
thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi đó linh hồn
bất tử mới đồng nhất được với "linh hồn vũ trụ tối cao" và bắt đầu "siêu thoát"
(moksa).
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp báo" trong Upanishad, Phật
giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho
chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
(Nirvana). Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Thích Ca Mâu Ni đã
đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh ra
khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Thuyết “tứ diệu đế” là cốt lõi của
quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo.
Từ đó cho thấy xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan tâm
giải quyết các vấn đề nhân sinh dưới gốc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng “hướng
nội”. Có thể nói sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và là ưu thế của nhiều học
thuyết triết học Ấn Độ cổ đại.
3.2 Triết học Hy Lạp cổ đại đi từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận…từ
đó xây dựng nhân sinh quan con người
Các nhà triết học Hy Lạp đầu tiên có khuynh hướng chung là suy tư về bản
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 28
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
chất và khởi thuỷ của thế giới. Họ lấy một thực thể bản nguyên tượng trưng làm
nguồn gốc của tất cả mọi vật. Chẳng hạn đối với Talet đó là nước, đối với
Anaximăngđrơ đó là cái vô hạn bất định, đối với Anaxago đó là tinh thần. Pytago
tìm cái chìa khoá phổ quát của hiện thực trong các con số, Pacmênic cho rằng bản
chất của thực thể nằm trong tồn tại; Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự vật đều
được tạo thành từ những nguyên tử, là những phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia
được nữa và số lượng của chúng là vô hạn. Hêraclit đưa ra quan niệm mọi sự vật của
thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các yếu tố vật chất là vô hạn, vì vậy cái bất
biến trong thế giới chỉ có thể được thừa nhận chính là sự biến đổi, chuyển hoá vĩnh

Tư tưởng triết học cốt lõi của trường phái Yôga là sự thừa nhận nguyên lý
hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể, thông qua các phương pháp Yôga mà mỗi cá thể
có thể tập luyện để khai thác được sức mạnh vũ trụ tiềm ẩn trong mình để làm chủ
mình, tiến tới làm chủ môi trường, và sau cùng là vươn đến sự giải thoát.
Từ thế giới quan triết học “thiên nhân hợp nhất” là cơ sở quyết định nhiều
đặc điểm khác của triết học Ấn Độ cổ đại như: lấy con người làm đối tượng nghiên
cứu chủ yếu – tính chất hướng nội, hay nghiên cứu thế giới cũng để làm rõ con
người và vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ cổ đại bị mờ nhạt.
4.2 Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để nhận xét
khách quan
Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi
con người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan. Đặt
trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 32
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi. Cho nên triết học Hy Lạp cổ đại thể
hiện đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Platông đã chia thế giới thành thế giới ý niệm (lý tính, tồn tại trên trời, mang
tính phổ biến, chân thực tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng, duy nhất…) và thế giới sự
vật (cảm tính, tồn tại dưới đất, mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả biến, thoáng
qua, đa tạp…). Bằng thuyết ý niệm này, ông đã lý giải sự sinh thành của thế giới sự
vật, con người và hoạt động của linh hồn…
Triết học Hy Lạp có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho
khách quan. Phương tiện nhận thức của triết học Hy Lạp là khái niệm, mệnh đề, biểu
thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn
5. Triết học Ấn Độ cổ đại ngã về dung trực giác; Triết học Hy Lạp ngã về tư
duy duy lý
5.1 Triết học Ấn Độ cổ đại ngã về dung trực giác
Trường phái Mimansa coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức.
Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý đạo đức, nhận thức gắn liền với

triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ,
thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết, xuất phát từ tinh thần Vêđa chia ra làm hai hệ
thống: hệ thống chính thống ủng hộ tinh thần Vêđa và trường phái không chính
thống phản đối lại tinh thần Vêđa.
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ,
bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là
vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy nó
không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không phủ
định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không gay gắt
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 36
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
và cũng không triệt để. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến kéo dài quá
lâu và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen, cộng sinh bên nhau.
6.2 Triết học Hy Lạp cổ đại có sự đấu tranh giữa các trường phái mang tính
chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt
Triết học Hy Lạp thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá
càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định
hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Mặc dù là học trò của Platông, nhưng Arixtốt đứng trên quan điểm duy vật
tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông. Về mặt bản thể luận, ông cho rằng việc
Platông chia thế giới thành thế giới ý niệm và thế giới sự vật là hoàn toàn thiếu cơ
sở. Về mặt nhận thức luận, ông bác bỏ hoàn toàn quan niệm Platông cho rằng ý
niệm là cái có trước và độc lập so với sự vật, theo Arixtốt điều này là vô dụng ngược
đời. Theo ông, bản chất phải nằm ngay bên trong sự vật và phải được nhận thức của
con người khái quát thành cái chung dưới dạng khái niệm, quy luật, phạm trù. Khái
niệm, quy luật, phạm trù không phải là cái có trước, sinh ra và quyết định sự tồn tại
của sự vật mà ngược lại sự tồn tại sự vật được phản ánh trong khái niệm, quy luật,
phạm trù của nhận thức.
Theo khuynh hướng duy vật. Empêđốc cho rằng, bản nguyên của vũ trụ
không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà gồm 4 thực thể:

người…
STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 40
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại cương lịch sử Triết học – TS Bùi Văn Mưa & TS Nguyễn Ngọc Thu chủ
biên; Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh; Năm 2003
2. Triết học Mác-Lênin – GSTS Nguyễn Ngọc Long & GSTS Nguyễn Hữu Vui
chủ biên
3. Triết học Mác-Lênin – Nguyễn Thị Hồng Vân, Đỗ Minh Sơn và Trần Thảo
Nguyên biên soạn
4. www.chungta.com
5. www.hoailinhthoai.com
6. tamlinhvahanhphuc.forumotion.net
7. Thư viện trực tuyến Hoàng Ngọc Vĩnh: hngocvinh54.violet.vn
8. Blog Đào Duy Thanh: daoduythanh999.blogspot.com
9. />10. />STT 131 - ĐÀO ÁNH TUYẾT - K20 - Đ1 42


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status