BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : NGUYỄN THỊ TUYẾT
STT : 132
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
HCM, Tháng 5/2011
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta
không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó chính là triết học
Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là
những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao
hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học
thế giới sau này. Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các
vấn đề cơ bản của triết học mà sau này các học thuyết triết học khác từng bước
giải quyết theo nội dung của thời đại mình Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại
đã đặt ra và giải quyết những vấn đề của tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương
đồng và khác nhau của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có
khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học phương
Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ
đó chúng ta biết cách vận dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng
cao khả năng tư duy, nhận thức thế giới, con người và xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu::
4. Ấn độ và Hy Lạp cổ đại có cả hai trường phái duy vật và duy tâm: 13
5. Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại
cho con người cuộc sống hạnh phúc: 13
6. Chưa rõ ràng, chưa hệ thống hóa và giải thích được nguồn gốc, tính chất
vai trò của phạm trù đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn: 14
7. Đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng lớp tri thức 14
II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI & TRIẾT HỌC HY
LẠP CỔ ĐẠI 15
8. Triết học Ấn Độ cổ đại: 15
9. Triết học Hy Lạp cổ đại 18
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN 23
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 3
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
&TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
I. KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Điều kiện lịch sử ra đời:
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu
dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ. Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sở
cho sự phân hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân
tay. Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụng
hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học và khoa học. Như vậy, có thể thấy
rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinh
của cả một dân tộc, một thời đại.
2. Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại:
Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đọan: Giai đoạn hình thành, giai
đọan cực thịnh và giai đọan suy tàn. Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh
hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã
để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy
vật, Empédocle và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh
của các trường phái Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên
về bản chất của thế giới vật chất đa dạng. Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn
mang tính sơ khai, còn hạn chế.
4.1.4 Trường phái nguyên tử luận Leucippe – Démocrite: là một hệ thống
quan điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ nghĩa
duy vật đạt được đỉnh cao. Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của Xocrat
Platong sau này.
Quan điểm về nhận thức- đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn
+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức. Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn
hoà, không hại mình, không hại người.
Quan điểm về chính trị - xã hội:
+ XH tốt nhất được cai trị bởi nhà nước dân chủ chủ nô
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 5
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
+ Quản lý nhà nước là một nghệ thuật mang lại hạnh phúc, vinh quang, tự do &
dân chủ cho con người.
4.2. Chủ nghĩa duy tâm:
4.2.1 Trường phái Pytago: Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là
bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật. Chính trường phái Pytago đã
đặc nền móng ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp.
4.2.2 Trường phái Êle: Do Xenophan thành lập trên tinh thần duy vật, nhưng
sau đó được Pacmenit phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm
4.2.3 Trường phái duy tâm khách quan của Xocrat – Platong: do Xocrat đặt
nền móng và Platong, học trò của ông hoàn thiện
+ Xocrat: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của
điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sở của đạo
đức, tiêu chuẩn của đức hạnh.
(Thờ bò) (HinDu), Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc
1.2. Điều kiện về khoa học và văn hóa:
Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong phú về
nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp, kiến
trúc…Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha
trộn sự thần bí.
2. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại:
- Triết học thời kỳ Véđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ này tập
trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa,
mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và
đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học. Tuy nhiên qua các tập Véđa đã
thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một
nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh
thần và các nghi lễ.
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 7
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
- Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ VI
TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa
nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại sung đột lẫn nhau
3. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại:
- Thứ nhất, triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang
tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết
học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết
học mới. Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội ấn độ cổ đại.
- Thứ hai, triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín
ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo.
- Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở ấn độ cổ đại đều quan tâm tới vấn đề
nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo.
4. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại:
4.1. Tư tưởng triết học trong Upanisát:
được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường,
duyên khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế.
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 9
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
CHƯƠNG II. SO SÁNH TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ
HY LẠP CỒ ĐẠI
I. SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ & HY LẠP CỔ
ĐẠI
1. Tư tưởng triết học Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng của sự tác động
từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội:
- Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những thành tựu
rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, … , gắn bó mật thiết với
khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm
xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất. Tuy
Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau
nhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học.
+ Tại Ấn, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc
nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn
Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảo lưu một
cách rộng rãi, trong đó một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởng khác tới cả
ngàn năm.
+ Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với khoa học
tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng tới việc
xây dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học của các khoa
học".
- Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có sự
phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp tàn khốc đối với tầng lớp
nô lệ.
+ Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia
luân hồi.
• Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánh
sáng tạo và an bài. Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 11
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
thực tuyệt đối. Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý
niệm, do thần Tạo hóa mô phỏng từ ý niệm. Linh hồn vũ trụ là thần linh,
tồn tại dưới dạng các tinh tú, và chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ
của con người. Con người bao gồm thể xác khả tử và linh hồn bất tử.
- Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thế giới tạo thành từ vật
chất, không tồn tại thần thánh.
+ Ấn Độ:
• Trường phái Nyaga với thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế giới vật chất
được cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
• Trường phái Vaisêsika cũng ủng hộ thuyết nguyên tử luận.
• Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi tứ đại bao gồm đất, nước, gió, lửa
+ Hy Lạp:
• Trường phái duy vật cho rằng khởi nguyên vũ trụ hình thành bởi các yếu
tố vật chất. Talet cho rằng nước là khởi nguyên của sự vật. Heraclit cho
rằng lửa tạo ra van vật. Êm pê đốc nhận định vạn vật tạo bởi đất nước,
không khí, kết hợp với lực tình yêu và hận thù.
• Thuyết nguyên tử luận của Lơxíp – Đêmôcrit nhận định vũ trụ được cấu
thành từ nguyên tử và chân không. Nguyên tử tụ lại hình thành sự vật, tan
rã thì sự vật mất. Không có thần thánh sáng tạo ra sự vật.
3. Tương đồng trong nhận thức ,thế giới quan duy vật và vô thần có tính biện
chứng sâu sắc:
- Ấn Độ:
• Nhận thức luận của Nyaga thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại khách
quan cần phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết luận,
tương tự và bằng chứng.
và giải thích được nguồn gốc, tính chất vai trò của phạm trù đối với nhận thức và
hoạt động thực tiễn:
• Ấn Độ: cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm xung quanh
các vấn đề bản nguyên vũ trụ, con người, linh hồn, đạo đức. Con người
quan niệm về thế giới, đời sống bằng các biểu tượng huyền thoại, đa thần.
• Hy Lạp: Triết học Hy Lạp có sự phân chia & đối lập giữa các trào lưu,
trường phái duy vật, duy tâm, hữu thần – vô thần. Các nhà triết học phát
hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng nhưng chưa trình bày chúng như
một hệ thống lý luận chặt chẽ.
7. Đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng lớp tri thức
- Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng lớp
tri thức ,họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền
triết học và khoa học đồ sộ và sâu sắc:
• Ấn Độ: Người Ấn Độ có những tri thức rất sớm & phong phú về nhiều
lĩnh vực như thiên văn, toán học, y học, …đặc biệt về kiến trúc, đã để lại
những phong cách kiến trúc tinh tế, độc đáo.
• Hy Lạp: chế độ chiếm hữu nô lệ tạo cơ sở cho sự phân hoá lao động & đề
cao lao động trí óc. Trong thời đại này, người Hy Lạp đã xây dựng một
nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là đã
để lại một di sản triết học đồ sộ & sâu sắc.
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 14
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI & TRIẾT
HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
8. Triết học Ấn Độ cổ đại:
8.1.Triết học có sự đan xen với tôn giáo:
- Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng
tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu
sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh Vêđa, Upanisát.
- Thực tế kinh Vêđa không phải là thiên khải, cũng không do một nhân vật nào
trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này và cả kiếp sau, gọi là
"nghiệp báo" (Karma). Do vậy, linh hồn bất tử cứ bị giam hãm vào hết thể xác
này đến thể xác khác, bị che lấp, ràng buộc bởi thế giới hiện tượng như ảo ảnh,
gọi là sự "luân hồi" (Samsara), không nhận ra và không trở về đồng nhất với
chân bản của mình là Brahman được.
- Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng vây hãm của luân hồi, nghiệp báo để
đạt tới đồng nhất với "Tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối thì con người phải dốc
lòng toàn tâm tu luyện hành động và tu luyện tri thức. Bằng nhận thức trực giác,
thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi đó linh hồn
bất tử mới đồng nhất được với "linh hồn vũ trụ tối cao" và bắt đầu "siêu thoát"
(moksa).
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp báo" trong Upanishad, Phật giáo
đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho
chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
(Nirvana).
8.4. Triết học Ấn Độ cổ đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ
giữa con người và vũ trụ theo nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất”
- Các nhà triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng muốn nhận thức tốt thì phải hòa hợp
giữa chủ thể và khách thể với nhau.
- Xu hướng chính của Upanisát là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm tôn giáo
trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sáng tạo và chi phối thế
giới này. Upanisát cho rằng “tinh thần vũ trụ tối cao” Brátman là thực thể cao
nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy
sinh ra và nhập về với nó sau khi chết, là khách thể. Còn Atsman là tinh thần con
người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hóa, là chủ thể, và chẳng qua chỉ là linh
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 16
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
hồn vũ trụ cư trú trong con người mà thôi. Linh hồn con người “Átman” chỉ là sự
biểu hiện, là một bộ phận của “Brátman”.
- Rig Vêđa đã suy tư về quan hệ giữa thế giới vĩ mô và vi mô, quan hệ giữa tự
- Có thể thấy được triết học Ấn Độ cổ đại thiên về giải quyết mặt thứ hai của vấn
đề cơ bản triết học “con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?” Triết
học Ấn Độ đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những câu cách
ngôn, ngụ ngôn nên có thể hiểu theo nhiều cách, gói được cái ngẫu nhiên mà
ngày nay khoa học gọi là khoa học hỗn mang – dự báo.
9. Triết học Hy Lạp cổ đại
9.1. Triết học gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên
- Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi
hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do
trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ
xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó nghiên cứu tự nhiên
trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
- Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri thức về khoa học tự
nhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học - tự nhiên của các
nhà triết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ chưa phân ngành nên các
nhà triết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà Vật lý học như Talét,
Pytago, Ácximét, Ơclít, Từ các yếu tố đó có thể khẳng định rằng, triết học Hy
Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó với nhu cầu thực tiễn và gắn với
khoa học.
- Hy Lạp cho rằng triết học là sự ham hiểu biết, yêu thích sự thông thái
(philosophia). Triết học được coi như “người mẹ” của các ngành khoa học, “triết
học là khoa học của mọi khoa học”.
9.2. Triết học có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường
phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần
- Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và chia ra
thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy tâm) và
trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu thần, gắn
liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong đó điển hình là cuộc đấu tranh
giữa trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy tâm của
các nhà ngụy biện. Con người, thước đo sự vật, không phải là cá nhân riêng biệt
mà là phổ quát. Bản chất của con người là lý trí và được tìm thấy trong một xã
hội được xếp đặt theo trật tự duy lý. Cái tư tưởng hiện đại cho rằng cá nhân
không thể tách khỏi xã hội và "nhân tính" là hình thành do xã hội và phát triển
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 19
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
trong xã hội, tư tưởng đó không lớn mạnh trong tư tưởng Hy Lạp Xôcrat và
Platông thì chỉ rõ xã hội là sự phóng rọi của bản chất con người trên tấm vải thô
lớn, hay là sự phản ánh được khuếch đại của bản chất con người. Con người chỉ
thực sự sống trong xã hội, không thể sống ngoài xã hội Arixtốt, một nhà duy
lý, chấp nhận các nguyên lý chính yếu của Platông “Con người không thể là con
người nếu không có xã hội "
9.4. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để nhận xét
khách quan
- Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con
người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan. Và cũng
chính từ thế giới khách quan khác nhau nên dẫn đến hướng nghiên cứu tiếp cận
cũng khác nhau
- Lịch sử triết học Phương Tây khi bàn về thời kỳ triết học Hy Lạp đều khẳng
định có hai hình thức chủ đạo. Hình thức thứ nhất là triết học đồng nhất với đạo
đức học. Nghĩa là triết gia là người tìm hiểu căn nguyên sự vật không phải để biết
mà còn để sống, để hành động cho phù hợp với đạo trời. Do đó, bầu khí của thời
đại này mang đầy tính cách thánh thiêng và thuần thần. Hình thức thứ hai : triết
học chính là tri thức. Hình thái này chủ chương muốn thực hành đạo đức, nhất
thiết phải biết tri thức là gì, căn nguyên của tri thức từ đâu mà có và tại sao con
người phải thi hành những bổn phận đó? Nhờ vậy, con người có thể tự mình suy
tư và tự mình giải thích vũ trụ bằng lý trí của mình. Người đầu tiên trình bày
quan niệm này chính là triết gia Nietzche. Ông cho rằng Socrate là người tiêu
diệt ý thức huyền thoại và xây dựng hệ thống triết học mới bằng cách dùng lý trí
để suy tưởng về sự vật. Trước thời của ông, ý tưởng huyền hoặc, hoang đường
chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt
- Triết học Hy Lạp thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng
phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn
toàn cái ở giai đoạn trước.
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 21
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
- Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường
phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường phái
Talét, Hêraclit đến Đêmôcrit. Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại có thể chia làm
ba thời kỳ. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đê-
mô-crít và đường lối duy tâm của Pla-tôn.
Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới
hình thành. Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo,
thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, về vũ
trụ. Trên cơ sở đó, triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức
(khoa học của khoa học) ra đời.
Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V. tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu
nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ
đại Hy Lạp. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang
các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Trong
đó, kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học.
Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng & suy
vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá
mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và
học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô- crit
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 22
Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại & triết học Ấn Độ cổ đại.
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN
Tuy xuất phát từ hai nền văn hoá khác nhau nhưng cả triết học Hy Lạp cổ đại và
chứng tự phát. Về chính trị xã hội, đạo Phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng
cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng
xã hội, nêu lên ước nguyện giải thoát con người khỏi nỗi bi kịch cuộc đời,
khuyên người ta sống đạo đức, từ bi bác ái. Tuy nhiên, trong luận thuyết về nhân
sinh và con đường giải thoát tư tưởng Phật giáo vẫn còn hạn chế, mang nặng tính
bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính duy
tâm, không tưởng về những vấn đề xã hội.
Triết học Hy Lạp cổ đại được xem là thành tựu rực rỡ của văn minh
phương tây, tạo nên cơ sở xuất phát của triết học châu Âu sau này sự xuất hiện
của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một bước
ngoặt lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo
nguyên thuỷ, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó với nhu
cầu thực tiễn và gắn với khoa học. Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã
hội này đã phát triển lên chế độ chiếm hữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ
nô và nô lệ nên nó là hệ tư tưởng, là thế giới quan của giai cấp chủ nô thống trị,
đồng thời nó còn là công cụ bảo vệ, duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp chủ nô,
là công cụ nô dịch, đàn áp các giai cấp khác về mặt tư tưởng. Bên cạnh tính giai
cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng, đề cao vai trò của con người, coi
con người là tinh hoa của tạo hoá. Do là một trong những nền triết học mở đường
trong lịch sử triết học nhân loại hơn nữa các quan niệm triết học được rút ra trên
cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan sát trực tiếp các sự kiện xảy ra trong tự
nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ đại mang nặng tính sơ khai, chất
phác, ngây thơ. Tuy nhiên, từ trong sự khởi đầu đó, các nhà triết học sau này đã
nhìn thấy ở triết học Hy Lạp cổ đại nền mống của tất cả các kiểu thế giới quan
sau này và xem nó là một đỉnh cao của triết học nhân loại.
- Triết học cổ Hy Lạp như hồi chuông tỉnh thức giấc mộng thần thánh muôn đời
của người dân Hy Lạp, là nhịp cầu vững chắc nối những bến bờ triết học sau này.
Tách ly vai trò của thần thánh ra khỏi ý thức hệ của con người, những thành tựu
mang lại xứng đáng ghi một mốc son trong lịch sử triết học loài người. Cuộc đấu
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA - HVTH: NGUYỄN THỊ TUYẾT - K20 – ĐÊM 1 Trang 24