TIỂU LUẬN Đề tài SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : NGUYỄN THU TRANG
STT : 142
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
HCM, Tháng 5/2011
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ
CỔ ĐẠI
1
1.1 Triết học Hy Lạp cổ đại
2
1.1.1 Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển
2
1.1.2. Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
2
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản
2
1.1.4 Các tư tưởng, trường phái triết học
3

Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
CHƯƠNG 2 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA TRIẾT
HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỒ ĐẠI
9
2.1 Sự tương đồng giữa triết học Hy lạp cổ đại và Ấn độ cổ đại
9
2.1.1 Tư tưởng triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại chịu ảnh
hưởng của sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội.
9
2.1.2 Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự
ra đời của vạn vật
9
2.1.3 Tương đồng trong nhận thức ,thế giới quan duy vật và vô
thần có tính biện chứng sâu sắc.
11
2.1.4 Hy Lạp và Ấn độ cổ đại có cả hai trường phái duy vật và
duy tâm
11
2.1.5 Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm
cách đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc
12
2.2 Sự khác biệt giữa triết học Hy lạp cổ đại và Ấn độ cổ đại
13
2.2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại quan tâm sâu sắc đến khoa học tự
nhiên, trong khi Triết học Ấn Độ cổ đại lại mang đậm dấu ấn tôn
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 4
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
giáo
13
2.2.2 Sự phân chia trường phái triết học

dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng cao khả năng tư duy, nhận thức
thế giới, con người và xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu::
Bài viết không chỉ nêu lên hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, những tư tưởng cùng
những trường phái của hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại, mà mục
đích chính của bài viết là làm rõ nét được những tương đồng và khác biệt giữa hai
nền triết học cổ đại này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp
phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được kết
quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện.
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 6
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ
ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.1. Triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.1 Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và
sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch
sử - chế độ chiếm hữu nô lệ. Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sở cho sự phân
hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân tay. Điều này thúc
đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận
để nghiên cứu triết học và khoa học. Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết
học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một
thời đại
1.1.2. Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đọan: Giai đoạn hình thành, giai đọan cực
thịnh và giai đọan suy tàn. Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất
nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã để lại dấu ấn sâu
đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.

Empédocle và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các
trường phái Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản
chất của thế giới vật chất đa dạng. Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính
sơ khai, còn hạn chế.
d. Trường phái nguyên tử luận Leucippe - Démocrite
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 8
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Là một hệ thống quan điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử
làm cho chủ nghĩa duy vật đạt được đỉnh cao. Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy
tâm của Xocrat Platong sau này.
Quan điểm về nhận thức- đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn
+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức. Sống có đạo đức là sống đúng mực,
ôn hoà, không hại mình, không hại người.
Quan điểm về chính trị - xã hội :
+ Xã hội tốt nhất được cai trị bởi nhà nước dân chủ chủ nô
+ Quản lý nhà nước là một nghệ thuật mang lại hạnh phúc, vinh quang, tự do
và dân chủ cho con người.
1.1.4.2 Chủ nghĩa duy tâm:
a. Trường phái Pytago:
Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là bản nguyên của thế
giới, là bản chất của vạn vật. Chính trường phái Pytago đã đặc nền móng ban đầu
cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp.
b. Trường phái Êle :
Do Xenophan thành lập trên tinh thần duy vật, nhưng sau đó được Pacmenit
phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm
c. Trường phái duy tâm khách quan của Xocrat – Platong :
Do Xocrat đặt nền móng và Platong, học trò của ông hoàn thiện
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 9
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA

Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ
ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc
nghiệt. Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳng cấp
bình dân tự do, Đẳng cấp nô lệ. Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: Đạo Ấn (Thờ bò)
(HinDu), Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc
1.2.1.2 Điều kiện về khoa học và văn hóa:
- Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong
phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp, kiến
trúc…
- Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha trộn
sự thần bí.
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ
Triết học thời kỳ Véđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ này tập trung
phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có
thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo,
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 11
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
chưa có những khái quát triết học. Tuy nhiên qua các tập Véđa đã thể hiện sự phát
triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với
sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ.
Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ VI
TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa nhưng
các trường phái triết học Ấn Độ lại xung đột lẫn nhau .
1.2.3. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ nhất, triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang
tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học
có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới.
Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội ấn độ cổ đại.
Thứ hai, triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín
ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo.

tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy ra như một nguồn có giá
trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một cách vô điều kiện.
- Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo lớn
của Ấn Độ cố đại. Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ đại được
thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường, duyên khởi
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 13
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ đế, nhân đế,
diệt đế, đạo đế.
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 14
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
CHƯƠNG 2 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỒ
ĐẠI
2.1 Sự tương đồng giữa triết học Hy lạp cổ đại và Ấn độ cổ đại
2.1.1 Tư tưởng triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại chịu ảnh hưởng của sự tác
động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội.
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những thành tựu
rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên nhằm xây dựng một bức tranh
về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất. Tuy Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại có
điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau nhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc
đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ.
 Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với khoa học tự
nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng tới việc xây
dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học của các khoa học".
 Tại Ấn Độ cổ đại, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền
triết học độc nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế
giới, triết học Ấn Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý
tưởng được bảo lưu một cách rộng rãi.
Bên cạnh đó, cả hai nền triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có sự

 Ấn Độ:
• Trường phái Upanisat với khái niệm đại ngã, tiểu ngã dựa trên ý niệm
thần thánh hóa cặn nguyên vạn vật, xem đại ngã là linh hồn vũ trụ,
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 16
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
sinh ra vạn vật. Tiểu ngã là linh hồn con người, biểu hiện cụ thể của
đại ngã, chịu luân hồi báo ứng.
• Trường phái Vêđanta tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của đại ngã và tiểu
ngã, khuyến khích giải thoát tiểu ngã khỏi vây hãm thể xác, quay về
với đại ngã.
Ngoài những trường phái tin tưởng tuyệt đối vào thần thánh thì lại cũng có
những trường phái cho rằng thế giới tạo thành từ vật chất, không tồn tại thần thánh,
cụ thể
 Hy Lạp:
• Trường phái duy vật cho rằng khởi nguyên vũ trụ hình thành bởi các
yếu tố vật chất. Talet cho rằng nước là khởi nguyên của sự vật.
Heraclit cho rằng lửa tạo ra van vật. Êm pê đốc nhận định vạn vật tạo
bởi đất nước, không khí, kết hợp với lực tình yêu và hận thù.
• Thuyết nguyên tử luận của Lơxíp – Đêmôcrit nhận định vũ trụ được
cấu thành từ nguyên tử và chân không. Nguyên tử tụ lại hình thành sự
vật, tan rã thì sự vật mất. Không có thần thánh sáng tạo ra sự vật.
 Ấn Độ:
• Trường phái Nyaga với thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế giới vật
chất được cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
• Trường phái Vaisêsika cũng ủng hộ thuyết nguyên tử luận.
• Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi đất, nước, gió, lửa
2.1.3 Tương đồng trong nhận thức, thế giới quan duy vật và vô thần có tính
biện chứng sâu sắc.
 Hy Lạp:
• Đêmôcrit đề cao nhận thức lí tính, xuất phát từ nhận thức cảm tính, để

2.1.6. Hai nền triết học đều chưa hệ thống hóa và giải thích được nguồn gốc, tính
chất vai trò của phạm trù đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 18
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
2.1.7. Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng
lớp tri thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền
triết học và khoa học đồ sộ và sâu sắc.
2.1.8. Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, đôi khi đã đạt tới ý tưởng siêu
thực; vượt qua tầm suy nghĩ, nhận thức giác quan đạt tới những phán đoán siêu hình
về sự tồn tại.

2.2 Sự khác biệt giữa triết học Hy lạp cổ đại và Ấn độ cổ đại
2.2.1 Sự khác biệt về phương tiện nhận thức
Sự khác biệt nổi bât nhất giữa hai nền triết học là triết học Ấn độ cổ đại ít khi tồn
tại dưới dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái
nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có những
triết gia với những tác phẩm triết học độc lập. Và có những thời kỳ người ta đã lầm
tưởng triết học là khoa học của khoa học như triết học Ấn độ đan xen tôn giáo với
nghệ thuật, còn triết học Hy Lạp ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học
độc lập với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau
triết học.
+ Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp
mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó.
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 19
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Quá trình lịch sử lâu dài với không ít những thăng trầm của vùng đất Hy Lạp cổ
đại gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội và tư tưởng triết học của nó trong đó sự
phân chia xã hội thành giai cấp, sự phân công lao động xã hội thành lao động trí óc
và lao động chân tay đã dẫn tới sự hình thành một đội ngũ các nhà trí thức chuyên

phép siêu hình.
Triết học phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõ nét hơn và các hình
thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô sơ đến duy vật siêu hình rồi
đến duy vật biện chứng, còn ở phương Đông thì đan xen các trường phái, yếu tố duy
vật, duy tâm biện chứng, siêu hình không rõ nét. Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn
đi sâu vào những nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật, sơ kỳ là
duy vật, hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giới quan thiếu nhất
quán, thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử trong các xã hội phương Đông
cũng không mạch lạc như phương Tây.
Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và chia ra
thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy tâm) và
trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu thần, gắn
liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa
trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy tâm của Platông.
Học thuyết Đêmôcrit ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần, còn học thuyết
Platông để lại dấu ấn sâu đậm đến đời sống tinh thần. Có thể nói triết học Hy Lạp cổ
đại rất nhất quán, kiên định một quan điểm, một lập trường.
 Chủ nghĩa duy vật nổi bật với các trường phái:
+ Trường phái Milê: là trường phái duy vật đơn nguyên
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 21
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
+ Trường phái Lơxip – Đêmôcrit: cũng là trường phái duy vật đơn
nguyên. Đêmôcrit đã hoàn thiện chủ nghĩa duy vật, đưa nó lên đỉnh cao
đủ sức mạnh chống lại trào lưu duy tâm.
 Chủ nghĩa duy tâm: Xuất phát từ Pytago và dừng lại phát triển đỉnh cao
với trường phái của Xôcrat – Platông, đặc biệt là quan điểm Platông đã
hoàn thiện chủ nghĩa duy tâm .
 Chủ nghĩa nhị nguyên: nổi bật là triết học của Arixtốt. Ông đứng trên cả
2 trường phái duy vật và duy tâm để thấy được cái hay cái dở của từng
trường phái.

về nhân sinh quan con người, linh hồn… trong khi triết học Ấn Độ cổ đại đi từ sự bế
tắc trong cuộc sống, gửi gắm vào các thế lực tâm linh, thần linh để đi đến nhận thức
về vũ trụ, trời đất, giải thích sự vận động của vũ trụ quan.
Các nhà triết học Hy Lạp đầu tiên có khuynh hướng lấy một thực thể bản nguyên
tượng trưng làm nguồn gốc của tất cả mọi vật. Chẳng hạn đối với Talet đó là nước,
đối với Anaximăngđrơ đó là cái vô hạn bất định, đối với Anaxago đó là tinh thần.
Pytago tìm cái chìa khoá phổ quát của hiện thực trong các con số, Pacmênic cho
rằng bản chất của thực thể nằm trong tồn tại; Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự
vật đều được tạo thành từ những nguyên tử. Hêraclit đưa ra quan niệm mọi sự vật
của thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các yếu tố vật chất là vô hạn.
Từ thế giới quan, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới đi đến vấn đề nhân sinh
quan, đạo đức, xã hội. Mỗi con người là thước đo sự vật cho mình, không phải chỉ
sự vật được nhận thức, mà cả sự vật thuộc thiện, ác trong xã hội. Con người, thước
đo sự vật, không phải là cá nhân riêng biệt mà là phổ quát. Cấu trúc xã hội và cấu
trúc linh hồn (hay tự ngã) của con người phản ảnh lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau.
Bản chất của con người là lý trí và được tìm thấy trong một xã hội được xếp đặt theo
trật tự duy lý. Xôcrat và Platông chỉ rõ xã hội là sự phóng rọi của bản chất con
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 23
Tiểu Luận Triết Học GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
người trên tấm vải thô lớn, hay là sự phản ánh được khuếch đại của bản chất con
người. Con người chỉ thực sự sống trong xã hội, không thể sống ngoài xã hội
Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản
chất, ý nghĩa đời sống, nguồn gốc nổi khổ của con người) nhằm tìm kiếm phương
tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên và kinh
tế - xã hội khắc nghiệt mà không thấy mối quan hệ giữa con người trong lao động
sản xuất.
Trường phái Upanishad bàn tới vấn đề "luân hồi", "nghiệp báo". Những cảm
giác, ham muốn dục vọng và hành động của con người nhằm thỏa mãn những ham
muốn đó trong đời sống trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này
và cả kiếp sau, gọi là "nghiệp báo" (Karma).

đại đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con
người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan.
Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự
nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức,
không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc để giải phóng con người.
Con người có thể tự mình suy tư và tự mình giải thích vũ trụ bằng lý trí của mình.
Con người cá thể, riêng biệt và tự do không có chỗ đứng, không có ý thức phản tỉnh
về cái tôi riêng biệt và độc đáo của mình. Họ chỉ biết cúi đầu thuần phục vẻ linh
thiêng, vĩnh cửu của vũ trụ. Tuy nhiên, dù sống trong trào lưu tư tưởng đó, con
Nguyễn Thu Trang – Nhóm 8 – K20- Đêm 1 Page 25

Trích đoạn Khác biệt trong sự kế thừa, ra đời và phát triển của các trường phái mới.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status