ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƢƠNG
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƢỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60310501
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng
THÁI NGUYÊN, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích
dẫn có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong
bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên,
Khoa sau Đại học là cơ sở đào tạo Thạc Sĩ. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của
Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, các Thầy, Cô giáo trong khoa của trường Đại Học
Sư Phạm Thái Nguyên, Đại Học Sư Phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm đến Sở tài nguyên môi trường, Sở Công Thương Thái
Nguyên, Trung tâm quan trắc môi trường Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân huyện
Đại Từ, Công ty khái thác chế biến khoáng sản Núi Pháo và các cơ quan, cá
nhân đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Tổ bộ môn, các đồng nghiệp
nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè luôn động
viên, ủng hộ, giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Hương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Chƣơng 2: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
NÚI PHÁO 24
2.1. Tổng quan khu vực nghiên cứu 24
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 24
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 28
2.2. Đặc điểm khoáng sản Núi Pháo 29
2.2.1. Khoáng sản năng lượng 31
2.2.2. Khoáng sản kim loại 31
2.3. Hiện trạng hoạt động khai thác khoáng sản của Núi Pháo 32
2.3.1. Quy mô khai thác 32
2.3.2. Quy trình khai thác và chế biến 33
2.3.3. Sản lượng khai thác 39
Tiểu kết chương 2 42
Chƣơng 3: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG
SẢN NÚI PHÁO ĐẾN MÔI TRƢỜNG 43
3.1. Nhân tố tác động đến môi trường. 43
3.2. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản Núi Pháo đến môi
trường 45
3.2.1. Tác động đến môi trường kinh tế xã hội 45
3.2.2. Tác động đến môi trường tự nhiên 48
3.3. Một số giải pháp bảo vệ môi trường 66
3.3.1. Giải pháp quản lý 66
3.3.2. Giải pháp môi trường 68
3.3.3. Giải pháp đầu tư 73
Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sản lượng dự kiến sản xuất các loại tinh quặng của công ty
khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo 39
Bảng 3.1: Kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại Núi Pháo năm 2012 51
Bảng 3.2 : Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại M1 và M4 54
Bảng 3.3: Kết quả quan trắc môi trường nước ngầm tại Núi Pháo, năm 2012 55
Bảng 3.4 : Ước tính lượng ô nhiễm khí thải do đốt nhiên liệu và nổ mìn
trong các hoạt động khai thác mỏ tuyển của Núi Pháo 58
Bảng 3.5: Kết quả phân tích chất lượng không khí khu vực Núi Pháo,
năm 2012 59
Bảng 3.6: Ước tính lượng bụi sinh ra do các hoạt động khai thác, tuyển
hàng năm của khu vực Núi Pháo 60
Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng không khí khu vực Núi Pháo
Đơn vị: mg/m
3
61
Bảng 3.8: Tóm tắt kết quả As trong đất trên các khu vực của Núi Pháo,
năm 2012 64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Lược đồ vị trí khu vực khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo 24
khoáng được coi là tiền đề là cơ sở cho các ngành công nghiệp khác, góp
phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia cũng như mỗi địa phương.
Trên địa bàn Thái Nguyên hiện nay hoạt động khai thác khoáng sản
đang diễn ra sôi động, đặc biệt là khu vực Núi Pháo, thuộc huyện Đại Từ, tại
đây có nhiều loại khoáng sản có giá trị cao. Khai thác khoáng sản tại mỏ đa
kim Núi Pháo là một dự án lớn mang tầm cỡ quốc gia, khi dự án đi vào hoạt
động sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên hoạt động dự án sẽ có
những tác động đến việc phát triển kinh tế xã hội và môi trường địa phương.
Chính vì vậy sự lựa chọn đề tài “Hoạt động khai thác khoáng sản Núi Pháo
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên và tác động của nó đến môi trường.” có ý
nghĩa lớn trong vấn đề khai thác, sử dựng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
2. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận thực tiễn của hiện trạng khai thác và sự
tác động của hoạt động khai thác khoáng sản Núi Pháo đến sự phát triển
kinh tế xã hội và môi trường của địa phương. Trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp nhằm bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động khai thác
khoáng sản Núi Pháo.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, xử lý phân tích số liệu nhằm đưa ra được thực trạng của
hoạt động khai thác khoáng sản Núi Pháo.
- Phân tích mối quan hệ giữa hiện trạng khai thác và những biến đổi
quan hệ hữu cơ với nhau. Vì thế khi xem xét hoạt động khai thác khoáng sản
khu vực Núi Pháo đề tài đã nghiên cứu tổng hợp các hoạt động tới tất cả các
thành phần môi trường kinh tế xã hội và tự nhiên trong khu vực.
5.1.3. Quan điểm hệ thống
Quan điểm này luôn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu địa lí.
Theo quan điểm này, mọi đối tượng nghiên cứu đều được coi là một hệ thống,
mỗi hệ thống này bao gồm nhiều phân hệ cấu tạo nên, các phân hệ đều có
quan hệ mật thiết với nhau, hệ thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn và hệ thống
lớn nằm trong hệ thống lớn hơn. Chỉ cần sự thay đổi nhỏ của một bộ phận sẽ
dẫn tới sự thay đổi hoạt động chung của toàn bộ hệ thống.
5.1.4. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Trong lịch sử phát triển của một khu vực mọi hiện tượng và quá trình
luôn trong trạng thái vận động và không ngừng biến đổi về cả lượng lẫn chất.
Do đó khi nghiên cứu chúng ta không chỉ xét các sự vật hiện tượng trong một
thời gian nhất định hay trong một thời điểm nhất định mà phải thấy được quá
trình phát triển và biến đổi của nó từ quá khứ đến hiện tại và dự đoán trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
tương lai. Đề tài vận dụng quan điểm này trong quá trình nghiên cứu bắt đầu
xem xét từ khi tiến hành chuẩn bị cho dự án cho đến khi khai thác.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã thu thập các thông tin, số liệu từ
nhiều nguồn tư liệu khác nhau liên quan đến đề tài.Vì vậy cần có sự chọn lọc
thông tin thống kê các số liệu quan trắc, tổng hợp các tài liệu một cách có hệ
thống để sử dụng thuận tiện.
5.2.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp
dụng phương pháp toán học để tính kết quả trung bình của các mẫu đo.
6. Lịch sử nghiên cứu
Khu vực Núi Pháo có cấu trúc địa chất phức tạp, thuận lợi cho việc
thành tạo nhiều khoáng sản khác nhau nên khu vực này từ trước đến nay đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trước năm 1954, các công trình nghiên cứu được tiến hành bởi các
nhà địa chất Pháp. Các công trình nghiên cứu này đều mang tính chất khái
lược chỉ tập trung chủ yếu vào cấu trúc địa chất, với mục đích chính là nhằm
phát hiện và khai thác nhanh chóng tài nguyên khoáng sản.
Trên phạm vi cả nước các nhà địa chất Pháp đã thành lập được một số
bản đồ địa chất, phát hiện được nhiều tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên với
một diện tích nhỏ hẹp khu vực Núi Pháo chưa được quan tâm nghiên cứu.
Giai đoạn 1919 - 1925, Bourret R. và Patte E. thành lập tờ bản đồ địa chất
Đông Bắc Bắc Bộ tỷ lệ 1:500.000, trong đó xếp các đá biến chất trong vùng
này vào đới "Hạ lưu sông Gâm". Đồng thời các tác giả này cũng mô tả một số
đá magma ở Bắc Bộ và xếp đá magma ở khu Tam Đảo có tuổi Triat muộn.
Năm 1934, Lacroix A. đã xác định lại tên một số đá magma và đã đề cập tới
phức hệ xâm nhập gabro Núi Chúa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Năm 1952, Fromaget J. và Saurin E. đã khoanh định được vị trí không
gian của các thể địa chất và cho rằng các thành tạo phun trào Tam Đảo có
tuổi Triat giữa.
Sau năm 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, các nhà địa chất
Việt Nam cùng các chuyên gia Liên Xô đã có nhiều công trình nghiên cứu
trên phạm vi Miền Bắc. Các công trình này tập trung chủ yếu vào các khía
sản, do đó khu vực này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Song, các công trình khoa học ở đây chỉ tập trung vào một số khía cạnh như
nghiên cứu cấu trúc, thành lập bản đồ địa chất và tìm kiếm - thăm dò khoáng
sản. Việc nghiên cứu hoạt động khai thác khoáng sản và tác động của chúng
tới lĩnh vực môi trường vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là
vấn đề tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường khu vực
Núi Pháo.
7. Cấu trúc của luận văn
Gồm 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung gồm các phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Hiện trạng khai thác khoáng sản của Núi Pháo.
Chương 3: Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tại Núi Pháo
đến phát triển đến kinh tế xã hội và môi trường.
8. Đóng góp chính của luận văn
- Luận văn đã làm sang tỏ hiện trạng khai thác khoáng sản của khu vực
Núi Pháo.
- Trên cơ sở phân tích hiện trạng: quy trình, công nghệ khai thác, phân
tích những ảnh hưởng tác động môi trường gây ra trong quy trình khai thác
khoáng sản Núi Pháo.
- Đề xuất một số giải pháp trong đó tập trung giải pháp quản lí, giải
pháp môi trường, giải pháp đầu tư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
- Theo điều 3 luật khoáng sản 1996, khai thác khoáng sản là hoạt động
xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực
tiếp nhằm thu hồi khoáng sản.
- Theo luật khoáng sản 2010, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm
thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản, khai đào, làm giàu và các hoạt
động có liên quan.
1.1.2. Phân loại khoáng sản
Có nhiều cách phân loại khoáng sản nhưng cách phân loại phổ biến
nhất là dựa vào nguồn gốc, hình thái, mục đích, diện tích.
- Dựa vào nguồn gốc hình thành chia ra khoáng sản có nguồn gốc nội
sinh và khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh.
- Về mặt hình thái, khoáng sản tồn tại chủ yếu các dạng sau: ở thể rắn,
thể lỏng, thể khí.
- Dưa theo mục đích và công dụng, các loại khoáng sản được chia
thành khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim loại.
- Theo diện tích phổ biến của khoáng sản người ta chia ra tỉnh khoáng
sản, vùng (đới, bể, bồn ) khoáng sản, khu khoáng sản, bãi quặng, thân quặng
hay vỉa quặng.
1.1.3 Vai trò của khoáng sản đối với phát triển kinh tế xã hội
Cuộc sống của nhân loại trên trái đất liên quan trực tiếp với khả năng
và phương thức khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài
nguyên khoáng sản là loại quan trọng nhất. Tuy không có vai trò quyết định
sự tồn tại và phát triển như các thành phần môi trường nước, đất, không khí…
nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là yếu tố hết sức quan trọng trong việc
đảm bảo sự duy trì và phát triển xã hội. Xét từ phương diện cá nhân con người
có thể tồn tại mà không cần đến tài nguyên khoáng sản nhưng trên bình diện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
tự nhiên, không trải qua sản xuất ra như đối tượng của nền nông nghiệp, cũng
không được tạo ra trong phòng thí nghiệm thông qua những phản ứng. Chính
vì vậy để có tài nguyên khoáng sản phải trải qua quá trình khai thác.
* Vị trí
Ngành khai thác khoáng sản được xếp vào giai đoạn thứ nhất của toàn
bộ ngành công nghiệp nói chung. Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản
bao gồm những phân ngành khác nhau: khai thác khoáng sản kim loại, phi
kim loại… với những công đoạn như: khai thác, tuyển quặng, sơ chế…
* Tính chất
Sự phân bố ngành công nghiệp khai thác khoáng sản mang tính chất bị
động, phụ thuộc chặt chẽ vào sự phân bố của nguồn khoáng sản, không chỉ sự
phân bố địa điểm khai thác mà việc lựa chọn phương pháp kỹ thuật, phương
tiện khai thác, vốn đầu tư cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chủng loại, trữ lượng,
chất lượng, điều kiện khai thác của khoáng sản.
* Mối quan hệ
Ngành công nghiệp khai thác có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành
khác để tạo gia sản phẩm cuối cùng, nó có thể coi là một trong những mắt
xích đầu tiên của một dây truyền, khoáng sản là đối tượng của ngành khai
khoáng. Sản phẩm của ngành khai khoáng lại là nguyên liệu của ngành luyện
kim, hoá chất…, từ đó tạo ra máy móc và sản phẩm tiêu dùng.
* Phương pháp, kỹ thuật công nghệ và quy trình của công nghiệp
khai khoáng
- Phương pháp khai khoáng và các bước phát triển mỏ
+ Khảo sát, thăm dò: Phát hiện thân quặng, xác định quy mô, vị trí
phân bố quặng, khoáng sản, xác định chủng loại, mức độ và giá trị của
khoáng sản.
nhân tố này có tác động to lớn đến việc xác định địa điểm các xí nghiệp cũng
như phân bố các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp.
Đối với ngành công nghiệp khai khoáng vị trí địa lý mang tính chất bị
động cao do chịu sự chi phối của nguồn khoáng sản. Các điểm khai khoáng
thường phân bố ở những khu vực chứa quặng, thường xa đường giao thông và
khu dân cư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật
chất không thể thiếu cho việc phát triển và phân bố ngành công nghiệp khai
thác khoáng sản.
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu tố sau
- Khoáng sản
Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên quan trọng hàng đầu đối với công
nghiệp khai khoáng. Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản
và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức
ngành công nghiệp này. Tuy nhiên tài nguyên khoáng sản thuộc loại không
thể phục hồi được nên việc nghiên cứu khai thác chúng phải vừa đảm bảo
hiệu quả vừa mang tính bền vững, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
- Khí hậu và nguồn nước
Nuớc được sử dụng vào quá trình khai thác, tuyển quặng, sàng
lọc…Tuy nhiên lượng nước mưa, nước ngầm, nước thải tràn qua mỏ cũng gây
không ít khó khăn cho quá trình khai thác. Khí hậu cũng tác động to lớn đến
hoạt động khai thác, trong một số trường hợp chi phối cả kĩ thuật, công nghệ
khai thác.
- Ngoài ra các nhân tố tự nhiên khác như: địa chất, địa hình, đất đai cũng có
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và
tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ
Việt Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất
khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển
vọng lớn. Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy,
Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khoáng
sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít…, chủng loại
khoáng sản đa dạng, đây chính là điều kiện thuận lợi chohoạt động khai thác
và chế biến các loại khoáng sản:
* Nhóm khoáng sản nhiên liệu
- Dầu khí
Đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau năm
1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, đóng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
góp nhiều vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Dầu khí được tập
trung ở các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ
Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa. Qua kết quả thăm dò cho
thấy: Bể Sông Hồng chủ yếu là khí, bể Cửu Long chủ yếu phát hiện dầu, hai
bể còn lại là Nam Côn Sơn và Malay- Thổ Chu phát hiện cả dầu và khí, bể
Phú Khánh và Tư Chính- Vũng Mây mới chỉ dự báo triển vọng trên cơ sở
nghiên cứu cấu trúc địa chất. Khoáng sản dầu khí đang được thăm dò với
cường độ cao, trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 tỷ tấn và khí
đốt vào khoảng 835 tỷ m
3
, trữ lượng dầu được dự báo vào khoảng 6 tỷ tấn và
trữ lượng khí vào khoảng 4.000 tỷ m
Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ
300.000 – 450.000 tấn. Công suất khai thác của mỏ hiện nay thấp hơn rất
nhiều so với công suất thiết kế được phê duyệt. Năng lực khai thác quặng sắt hiện
nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.000 tấn/năm. Thị trường quặng sắt hiện nay
có 80% sử dụng trong nước, chủ yếu là để luyện thép, còn 20% xuất khẩu.
- Bô xít
Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít với tổng trữ lượng và tài
nguyên dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm
Đồng, Gia Lai, Bình Phước… Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài nguyên
bôxít lớn, chất lượng tương đối tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận
lợi. Mặt khác, thị trường cung – cầu sản phẩm alumin trên thị trường thế giới hiện
nay rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp nhôm ở nước ta.
- Quặng titan
Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất, cho tới nay đã phát hiện 59 mỏ
và điểm quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8
mỏ trung bình có trữ lượng > 100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng.
Xét về tổng thể, quặng titan Việt Nam không nhiều, nhưng đủ điều kiện để
phát triển ngành titan đồng bộ từ khâu khai thác và chế biến sâu với quy mô
công nghiệp không lớn, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay nhập khẩu.
Hiện nay, giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu USD/năm, có
hiệu quả kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa
phương suốt dọc ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Tài nguyên trữ
lượng quặng titan – zircon của Việt Nam không nhiều, chiếm khoảng 0,5%
của thế giới.
- Quặng thiếc
Ở nước ta, thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng
khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500