Nghiên cứu thực hiện bồi thường khi nhà nước thu hồi đất cho dự án núi pháo, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Danh mục chữ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục sơ đồ

x

Danh mục hình

x

Danh mục biểu đồ

x

PHẦN I MỞ ĐẦU


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

3

1.5

4

Nội dung nghiên cứu

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1

5

Cơ sở lý luận của đề tài

5

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

5



2.2.2 Tình hình thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

27

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Dự án Núi Pháo

31

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

3.1

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực Dự án Núi Pháo

32

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực Dự án Núi Pháo

33

3.2


48

4.1

Thực trạng thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho Dự án Núi Pháo

48

4.1.1 Giới thiệu khái quát về Dự án Núi Pháo

48

4.1.2 Tình hình thực hiện bồi thường

49

4.1.3 Tác động của thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đến đời
sống người dân

81

4.1.4 Đánh giá chung về thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Dự
án Núi Pháo
4.2

90

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất Dự án Núi Pháo



99

4.2.7 Công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật đất đai
4.3

100

Giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất cho Dự án Núi Pháo

100

4.3.1 Hoàn thiện quy định xác định giá đất và tài sản trên đất để tính bồi
thường, hỗ trợ

100

4.3.2 Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cấp, các ngành

102

4.3.3 Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý

102

4.3.4 Tăng cường công tác quản lý đất đai

103



109

TÀI LIỆU THAM KHẢO

110

PHỤ LỤC

112

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vi


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ Viết Tắt

Nội Dung

1

ADB

Ngân hàng Phát triển châu Á

2


GCN

Giấy chứng nhận

8

GPMB

Giải phóng mặt bằng

9

GTSX

Giá trị sản xuất

10



Lao động

11

SL

Số lượng

12


WB

Ngân hàng Thế giới

18

XD

Xây dựng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1

Tên bảng

Trang

Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã khu vực Dự án Núi Pháo qua 3
năm 2012 – 2014

34

3.2


4.3

Ý kiến của người dân về kết quả xác định đối tượng, điều kiện được
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

58

4.4

Ý kiến của người dân về phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng

63

4.5

So sánh mức độ chênh lệch giữa giá bồi thường về đất của Dự án Núi
Pháo và giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất năm 2014

66

4.6

Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ về đất của Dự án Núi Pháo

67

4.7

Ý kiến về sự hiểu biết của người dân về giá đất thực tế trên thị trường


Kiến nghị của người dân về bồi thường về tài sản trên đất

75

4.13

Ý kiến của người dân về trình tự thực hiện bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất

4.14

77

Đánh giá của người dân về các nội dung trong thực hiện bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất Dự án Núi Pháo

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

78
Page viii


4.15

Khó khăn của hộ sau khi bị thu hồi đất

4.16

Tình hình thu nhập của hộ sau khi bị thu hồi đất và nhận bồi thường,


89

4.21

Ý kiến của người dân về thời gian thực hiện thủ tục bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất

4.22

96

Ý kiến của người dân về thái độ làm việc của các cán bộ thực hiện
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

96

Page ix


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
3.1
4.1

Tên sơ đồ

Trang

Sự thay đổi cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ trước và sau khi thu hồi
đất và nhận bồi thường, hỗ trợ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

82

Page x


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và là yếu tố
mang tính quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác
trên trái đất. Nếu không có đất đai sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào,
cũng như không thể có sự tồn tại của loài người. Kinh tế ngày càng phát triển
theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH), nhu cầu xây dựng các
khu công nghiệp và đô thị ngày càng tăng, trong khi đất đai lại có hạn. Vì vậy thu
hồi đất chính là cách thức thường được thực hiện trong tiến trình CNH – HĐH đất
nước ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng
(GPMB) ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của
các quy luật kinh tế. Vì thế, công tác bồi thường, GPMB trong thời gian qua đã
đạt được các kết quả khá khả quan. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được cũng còn những tồn tại, vướng mắc khi tiến hành bồi thường, GPMB, trong
đó đặc biệt là vấn đề giá đền bù gây những tác động tiêu cực đối với thị trường
bất động sản. Việc thu hồi đất nhưng chưa có giải pháp phát triển bền vững dẫn
đến tình trạng bần cùng hóa người nông dân, khiến họ không có đất sản xuất,
phải di cư tự phát tới các đô thị làm thuê, làm bốc vác, khai thác khoáng sản hoặc

bồi thường cho các hộ bị thu hồi đất, từ đó thấy được những tồn tại, hạn chế và
đề ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất. Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thực hiện bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất cho Dự án Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng
đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho Dự án Núi Pháo, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
cho Dự án Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và rút ra bài học kinh
nghiệm cho các dự án khác.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


- Phân tích thực trạng bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho Dự án Núi Pháo.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất cho Dự án Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên hiện nay và trong thời gian tới và rút ra bài học kinh nghiệm cho các dự
án khác.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tại sao phải nghiên cứu thực hiện công tác bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất cho Dự án Núi Pháo?
- Những vấn đề về thực hiện công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là gì?

từ năm 2012 đến 2014, số liệu điều tra được tiến hành trong thời gian gần nhất (năm
2015). Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 08/2014 đến tháng 08/2015.
1.5 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Tình hình thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho Dự án Núi
Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất cho Dự án Núi Pháo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
Trong tiểu mục này, luận văn đi sâu phân tích các khái niệm về thu hồi
đất, bồi thường và các khái niệm có liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất.
a. Khái niệm thu hồi đất
Thu hồi đất là hình thức chuyển giao quyền sử dụng diện tích đất đai nhất
định từ chủ thể này sang chủ thể khác. Như vậy, thu hồi đất là giai đoạn kết thúc
việc sử dụng đất của chủ thể này nhưng là bước kế tiếp trong việc sử dụng đất
của chủ thể mới. Do đó các quy định về thu hồi đất cần đảm bảo sự hài hòa giữa
việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, nhà đầu tư và người bị
thu hồi đất.
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử

đã gây ra”. Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một
chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội.
Luật Đất đai năm 2013 quy định “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá
trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có năm đặc điểm cơ bản. Thứ nhất,
bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất, trách nhiệm này được quy định trong pháp
luật đất đai. Thứ hai, bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi
đất của Nhà nước gây ra, điều này có nghĩa là bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh
sau khi có hành vi thu hồi đất của Nhà nước. Thứ ba, bồi thường diễn ra trong
mối quan hệ song phương giữa một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi
đất) với bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu
hồi đất của Nhà nước gây ra. Thứ tư, căn cứ để xác định bồi thường là diện tích
đất thực tế bị thu hồi, thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và
khung giá đất do Nhà nước quy định. Thứ năm, người sử dụng đất khi bị Nhà
nước thu hồi đất muốn được bồi thường phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật
quy định (Nguyễn Quang Tuyến, 2009).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


c. Khái niệm giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến
việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên
một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng
một công trình mới.
Quá trình GPMB được tính từ khi bắt đầu thành lập Hội đồng GPMB đến
khi giải phóng xong và giao mặt bằng cho chủ đầu tư mới. Đây là một quá trình

nhân dân.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở,
người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức như bồi thường
bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để người dân
tự lo chỗ ở.
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong
chính sách GPMB. Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải
được thực hiện như các dự án phát triển khác.
2.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
a. Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Trong quá trình hình thành các triều đại phong kiến, các hình thức sở hữu
đất đai luôn được giai cấp thống trị chú trọng. Ngay từ thời kỳ phát triển Nhà
nước Trung ương tập quyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho người
thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi
thường cho ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại
đất khác. Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy
định chặt chẽ, tương xứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất.
Ở thời kỳ này đất đai chưa có giá trị nhiều nên các chính sách bồi thường,
GPMB còn nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trị bồi thường, phương
thức thực hiện. Tuy nhiên, những chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực
trong việc GPMB để dành đất cho việc xây dựng các công trình quan trọng trong
hệ thống cơ sở hạ tầng ban đầu của đất nước.
b. Thời kỳ 1993 - 2003
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Luật Đất đai năm 1993 quy định “đất có
giá” và người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa
rất quan trọng đối với công tác bồi thường, GPMB.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


lại giá đất cho phù hợp với thị trường đối với trường hợp giá đất do UBND cấp
tỉnh quy định và công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực
tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, quy định mở rộng khung giá, nâng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


mức giá tối đa của khung giá một số loại đất (các loại đất nông nghiệp, đất ở và
đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn) tăng thêm 50%.
Thứ tư là quy định về hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất.
Các quy định về trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có mức sống
thuộc diện hộ nghèo được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo, trường hợp hộ gia đình,
cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông
nghiệp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng được
hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng cách giao đất để làm mặt
bằng sản xuất hoặc kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Thứ năm là quy định về những trường hợp hộ gia đình, cá nhân có đất bị
thu hồi được giao đất TĐC có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ tiền sử dụng
đất trên giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất.
2.1.3 Mục đích, ý nghĩa của thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Đất đai ngày càng trở nên khan hiếm và có giá trị, vì vậy thực hiện bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc làm có ý nghĩa to lớn trong điều kiện
nước ta hiện nay.
Thứ nhất là nhằm bù đắp những tổn thất cho người dân mất đất và khuyến
khích người dân giao đất. Đất là điều kiện để xây dựng kết cấu hạ tầng, xây
dựng khu đô thị, là điều kiện để thực hiện các dự án kinh tế, xã hội, quốc phòng
nên chính sách bồi thường phải hướng đến việc bù đắp những tổn thất cho
người dân mất đất, từ đó khuyến khích người dân tự nguyện giao đất (Nguyễn
Văn Dương, 2014).

Thứ ba là nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa việc bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Theo Điều 4, Luật Đất
đai (2013) quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng
đất theo quy định của Luật này”. Như vậy, về mặt pháp lý, quyền sở hữu về đất
đai ở nước ta thuộc về toàn dân. Còn quyền sử dụng đất thực tế được giao cho
các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà
nước. Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu quan hệ này được thiết lập hợp lý, chính sách bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất sẽ dễ triển khai hơn.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng nắm một phần quyền sử dụng đất về mặt
pháp lý, tức là nắm quyền quy định mục đích sử dụng cho các thửa đất theo quy
hoạch. Nhà nước nắm quyền này là để định hướng sử dụng đất đai cho phù hợp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


với lợi ích của toàn xã hội về các phương diện cân đối các nhu cầu sử dụng đất,
sử dụng đất hiệu quả, hạn chế tình trạng đất hoang hóa, lãng phí, không bảo vệ
đất. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để đảm bảo đất có
chủ sử dụng thực sự, tạo điều kiện cho thị trường quyền sử dụng đất hoạt động
hiệu quả, khuyến khích người dân sử dụng đất có hiệu quả.
Trong rất nhiều mối quan hệ chồng chéo đó, để đảm bảo hài hòa lợi ích
giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân sử dụng đất là vấn đề vô cùng phức tạp,
nhưng nếu không giải quyết được các quan hệ này, chính sách bồi thường,
GPMB sẽ khó triển khai. Do vậy, Luật Đất đai nước ta quy định khi Nhà nước
thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, hỗ
trợ và TĐC cho người dân bị mất đất. Để đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các

Thứ nhất là chính sách, pháp luật của Nhà nước quy định về vấn đề bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất. Các chính sách, pháp luật về đất đai chính là
căn cứ pháp lý để các cấp chính quyền và người dân thực hiện khi tiến hành bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất. Khi các chính sách này được hoạch định một
cách khoa học và hợp lý, công tác thu hồi đất, cũng như việc bồi thường cho
người dân mất đất sẽ được tiến hành một cách thuận lợi, đảm bảo tiến độ thực
hiện các dự án (Phan Thành Phi, 2011).
Thứ hai là hiệu lực pháp lý về quản lý đất đai. Hiệu lực pháp lý về quản
lý đất đai có ảnh hưởng đến thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Ở
những nơi công tác quản lý đất đai tốt như đã hoàn chỉnh bản đồ địa chính có
chất lượng, làm rõ nguồn gốc đất, ban hành công khai hạn mức diện tích đất ở và
đất canh tác, khâu đo đạc, xác định tính pháp lý của đất để áp giá bồi thường
hoặc hỗ trợ, di chuyển TĐC thường thuận lợi hơn. Ngược lại, những nơi chưa
tiến hành tốt những công việc thuộc nội dung quản lý đất đai nói trên sẽ gặp
không ít khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất, chủ sở hữu hợp pháp, diện
tích, ranh giới của khu đất giữa thực địa và hồ sơ giấy tờ do mất nhiều thời gian
để đối chiếu, xác minh (Phan Thành Phi, 2011).
Thứ ba là năng lực tổ chức thực hiện của cơ quan có thẩm quyền trong
việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Năng lực tổ chức thực hiện đó là khả
năng tổ chức thực hiện và giải quyết các thủ tục hành chính cũng như giải quyết
những vướng mắc phát sinh trong thực hiện bồi thường, GPMB của cơ quan có
thẩm quyền (Phan Thành Phi, 2011).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


Những phức tạp trong bồi thường, GPMB thường nảy sinh do việc không
đạt được sự đồng thuận giữa người dân với cơ quan quản lý về mức giá đền bù,



là “sát” với thực tế chuyển nhượng trên thị trường trong điều kiện bình thường,
khung giá đất không bao giờ theo kịp được diễn biến giá thực tế trên thị trường,
chưa có cơ chế hữu hiệu để giám sát việc xây dựng, cập nhật, điều chỉnh bảng giá
đất, dẫn đến việc nhiều địa phương quyết định giá đất thấp để tạo môi trường
thuận lợi thu hút đầu tư và giảm kinh phí trong bồi thường khi nhà nước thu hồi
đất. Từ những hạn chế đó dẫn đến việc khó xác định giá đất, đồng thời tạo ra
nhiều thắc mắc và khiếu kiện của người dân (Phan Thành Phi, 2011).
Thứ sáu là nguồn lực của nhà đầu tư. Khả năng tài chính và năng lực quản
lý, điều hành của nhà đầu tư trong quá trình tham gia triển khai công tác thu hồi
đất với tư cách là một thành viên trong Hội đồng bồi thường GPMB. Nhà đầu tư
phải đủ khả năng tài chính để kịp thời chi trả bồi thường cho các hộ gia đình theo
đúng kế hoạch, tiến độ đã được thông báo. Ngược lại, công tác bồi thường sẽ bị
trì hoãn và có thể tạo ra sự bất bình, phản ứng tiêu cực, thiếu hợp tác và khiếu
kiện trong nhân dân. Trong quá trình thu hồi đất, sự tham gia tích cực, năng động
của nhà đầu tư cùng với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khó khăn,
vướng mắc có vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến độ GPMB (Phan
Thành Phi, 2011).
Khả năng hoàn thành khu TĐC, bố trí di dời mồ mả phục vụ cho công tác
di dân, TĐC và khu TĐC được xây dựng có điều kiện bằng hoặc tốt hơn khu dân
cư có đất bị thu hồi cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ bảy là công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật đất đai và chính
sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu
hồi đất. Công tác tuyền truyền chưa thường xuyên, sâu rộng dẫn đến sự hiểu biết
về pháp luật của người dân còn hạn chế nên người bị thu hồi đất có suy nghĩ so
sánh, khiếu nại về chính sách và giá đền bù giữa người được áp dụng theo thời
điểm đã ban hành chính sách cũ với người đang được thực hiện chính sách mới
(có khả năng sinh lợi cao hơn). Từ đó đã nảy sinh nhiều khiếu kiện của dân về

Thứ nhất là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê
trả tiền thuê đất hàng năm, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là giấy
chứng nhận (GCN)) hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCN theo quy định của
UBND tỉnh mà chưa được cấp; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16


tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có
GCN hoặc có đủ điều kiện được cấp GCN theo quy định của UBND tỉnh mà
chưa được cấp.
Thứ hai là cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất
mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có GCN hoặc có đủ điều
kiện để được cấp GCN theo quy định của UBND tỉnh mà chưa được cấp.
Thứ ba là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất
có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có GCN hoặc có đủ điều
kiện được cấp GCN theo quy định của UBND tỉnh mà chưa được cấp.
Thứ tư là tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho
thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử
dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp,
tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có
GCN hoặc có đủ điều kiện được cấp GCN theo quy định của UBND tỉnh mà
chưa được cấp.
Thứ năm là tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước
cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có GCN hoặc có đủ

Quyết định thu hồi đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, TĐC
mà không cần chờ hết thời hạn thông báo (Luật Đất đai, 2013).
Bước 2 là thu hồi đất. Theo quy định của Luật Đất đai 2013, UBND cấp
tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã,
phường, thị trấn; đất của tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia
đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền
cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất (Luật Đất đai, 2013).
Bước 3 là kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất. Sau khi có quyết định thu
hồi đất của cấp có thẩm quyền, UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Tổ
chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất,
điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status