Luận văn thạc sĩ pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tại thành phố đà nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TÂN CẢNH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TÂN CẢNH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


ĐẤT ..........................................................................6 1.1. Khái niệm, đặc điểm và
vai trò của pháp luật bồi thường ...................................6 1.2. Cơ cấu của pháp luật
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ..............................14 CHƯƠNG 2. THỰC
TRẠNG PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .27 2.1. Thực trạng quy
định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất...........27 2.2. Thực trạng
thực hiện các quy định pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng....................................................................39 CHƯƠNG 3.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BỒI
THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG.......................................................................................49 3.1. Nhu
cầu hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thành
phố Đà Nẵng....................................................................................................49 3.2.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................................51
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn
thành phố Đà Nẵng....................................................................................................55
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................60
KẾT
LUẬN ..............................................................................................................69 TÀI
LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân như Việt Nam
thì đất đai luôn là vấn đề rất nhạy cảm và nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn
xã hội. Đặc biệt khi đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực

vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ là có tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bồi thường khi thu hồi đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai.
Chế định này khi đi vào cuộc sống trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của người bị thu
hồi đất, lợi ích của cộng đồng và lợi ích của nhà đầu tư, nên đã nhận được sự quan
tâm của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
Thời gian qua, theo nghiên cứu của tác giả đã có một số công trình nghiên
cứu về lĩnh vực này dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn, trên những địa bàn nhất
định. Tiêu biểu là các công trình khoa học nghiên cứu đã được công bố như sau:
Thời gian vừa qua đã có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh
vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình nghiên cứu
của các tác giả: Nguyễn Vĩnh Diện, “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ (2012);
Hoàng Thị Thu Trang, “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An”, Luận văn Thạc
sĩ (2012); Nguyễn Thị Tâm, “Pháp luật về thu hồi đất trong việc giải quyết mối
quan hệ giữa nhà nước – nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi”, Luận văn Thạc sĩ
Luật học (2013); Phạm Thu Thủy,“Pháp luật về Bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp ở Việt Nam”; Luận văn (2013) của Trần Phương Liên với nội
dung “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp -Thực trạng và hướng hoàn thiện".
Bên cạnh đó, còn có một số bài báo khoa học liên quan đến vấn đề trên đây,
được công bố trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành, như Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, Tạp chí Khoa học Tài chính, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế...như: TS. Trần
Quang Huy, “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số

2




4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định của Pháp luật Việt
Nam về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thực trạng áp dụng các quy định
này trong thực tiễn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; so sánh
với bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo các văn bản pháp luật ban hành trước
năm 2013.
- Tập trung nghiên cứu vào việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở, đất
nông nghiệp vì mục đích an ninh quốc phòng và mục đích phát triển kinh tế xã hội;
về giá đất và các yếu tố khác.
- Địa bàn nghiên cứu: thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian: từ 2012 đến hết năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin là phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng. Bên cạnh đó dựa trên
cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chủ trương và chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, đề tài này còn vận dụng các biện pháp nghiên cứu
cụ thể như sau: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp…
Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và các số liệu thực
tế khi áp dụng để tìm ra những điểm bất cập trong công tác bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả áp dụng trong quá trình thực hiện pháp luật về bồi thường khi

hồi đất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thực
tiễn tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật bồi thường

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn
hại gây ra” [20]. Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi
một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã
hội. Trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà
nước thu hồi đất.
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi
cho người bị thu hồi đất”. Khái niệm nêu trên chỉ xác định bồi thường về đất, trong
khi đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên
quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi

đe dọa tính mạng con người. … người sử dụng đất mới được bồi thường. Bên cạnh
đó, tùy từng trường hợp Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ cho người bị
thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 2013 đã quy đinh các căn cứ thu hồi đất:
Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh: Làm nơi đóng quân,
trụ sở làm việc; Xây dựng căn cứ quân sự; Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia,
trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; Xây dựng ga, cảng quân sự;
Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục
vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang
nhân dân; Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; Xây dựng
cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ

7


trang nhân dân; Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng
cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng: Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương
đầu tư mà phải thu hồi đất; Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm (Dự án xây khu công
nghiệp, chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Dự án xây dựng trụ sở cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở
của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài,
bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; Dự án xây dựng kết
cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước,
điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc
gia; công trình thu gom, xử lý chất thải).

nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng
cho; Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; Đất không được
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do
thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối
với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành; Đất trồng
cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây
lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không
được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để
thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục
hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ
khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa
đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà
nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian
chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ
đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường
về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản,

9


quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật
về đất đai.
Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại
đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người: Tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền
sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi
khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của
Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm
hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có

Bồi thường khi thu hồi đất, mức bồi thường sẽ được tính dựa trên mục đích
sử dụng đất và giá cụ thể của từng loại đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
Theo đó, về cơ bản, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có
cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì
được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp
tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất tại Khoản 2 Điều 74 Luật Đất
đai năm 2013. [22]
Thứ tư, các phương pháp tiến hành, kết hợp phương pháp hành chính và
phương pháp thỏa thuận. Ngoài ra, cần sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như:
phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và phương pháp kinh tế. Trình tự,
thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất, trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch
UBND cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện
cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị
cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp
hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì
Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế có
quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất
cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì
Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có
liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế từ
chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện
bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận
lại tài sản.


11


Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế


12


Thứ nhất, pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trước hết là nhằm
bảo đảm lợi ích công cộng
Thu hồi đất là biện pháp của Nhà nước nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật về
sử dụng đất giữa một bên là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất, cho thuê
đất và một bên là Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai. Thông
qua việc thu hồi đất, Nhà nước có được một quỹ đất cần thiết đáp ứng nhu cầu xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển các cơ sở kinh tế, công
nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, khu đô thị v.v... Qua đó, làm tăng tính hấp
dẫn của môi trường đầu tư; kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Đồng thời, ở một mức độ nhất định, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất cũng góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ
trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Khi diện
tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện
pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi
nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới. Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao
động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và
dịch vụ.
Thứ hai, pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải
quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi đất
của người sử dụng đất để sử dụng cho các mục đích khác nhau. Điều này sẽ gây ra
những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người bị thu hồi
đất. Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến
tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích
đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ở thái cực

Về cơ cấu bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì phải thực hiện các quy
định như sau:
(i) Quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:
Về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại
Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013.
“Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất”

14


Thứ nhất, người sử dụng đất đảm bảo các điều kiện về loại đất mà mình đang
sử dụng, về chứng nhận quyền đối với đất đó. Nếu không đảm bảo các điều kiện
theo pháp luật quy định thì người sử dụng đất không được bồi thường. Theo đó chỉ
bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát
triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Còn thu hồi đất trong
những trường hợp còn lại sẽ không được bồi thường. Điều kiện để người sử dụng
đất được bồi thường quy định của thể trong Điều 75 Luật Đất đai 2013.
Thứ hai, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích
sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Thứ ba, phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, hiệu quả, dân chủ, tiết kiệm
ngân sách và hỗ trợ người khó khăn khi bị thu hồi đất. Biểu hiện cụ thể của những
nguyên tắc này là khi thu hồi phải đảm bảo sự công bằng về giá đất, về mức hỗ trợ,
về đối tượng thụ hưởng, về địa vị pháp lý…giữa các đối tượng thu hồi, giữa người
bị thu hồi với Nhà nước hay chủ đầu tư đảm bảo sự hài hòa về lợi ích, minh bạch
về mọi vấn đề liên quan, làm sao để người dân tự nguyện giao đất thực hiện dự án,
công trình phát triển đô thị, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh.
Nguyên tắc trên thể hiện khi nhà nước lấy đi phần lợi ích của người dân mà
người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách nhiệm phải

thay vì phó mặc gánh nặng hỗ trợ đào tạo nghề đối với người mất đất cho Nhà
nước, nhà đầu tư cần phải được yêu cầu cùng bàn bạc với người mất đất về cơ hội
tìm sinh kế mới cho họ; đồng thời, nhà đầu tư phải chi trả cho người mất đất một
khoản tiền tương ứng với mức thu từ sử dụng đất trước đây cho tới khi người bị mất
đất có nguồn thu nhập mới và theo nguyên tắc, càng để lâu, chi phí bồi thường càng
lớn để bắt buộc nhà đầu tư không thể trì hoãn. Theo nguyên tắc này, nhà đầu tư cần
nghiên cứu rất kỹ lưỡng đất đai trong bài toán đầu tư để chi phí ít nhất, chính quyền
địa phương cũng khó đánh đổi mọi giá cho sự phát triển, như vậy chắc chắn sẽ giảm
được tham nhũng từ đất đai và bảo vệ được nguồn lực đất đai.
(ii) Quy định về nội dung bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:
Thứ nhất, về việc bồi thường về đất ở khi Nhà nước thu hồi
đất:
Luật Đất đai năm 2013 tách riêng việc bồi thường về đất và bồi thường về tài


16


sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành hai điều riêng biệt
tại Điều 74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013 với các quy định cụ thể để thống
nhất thực hiện. Đối với đất sử dụng có thời hạn, mức bồi thường cho người có đất
thu hồi không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời
hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó. Luật Đất đai
năm 2013 cũng quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại cho
một số trường hợp không được bồi thường về đất; bổ sung quy định về việc bồi
thường đối với các dự án đặc biệt…
Đồng thời, quy định của pháp luật hiện hành, theo đó, các trường hợp không
được bồi thường về đất:
Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận
khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status