Pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH LONG

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH LONG

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

..............................................................................................................................20
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI
TỈNH QUẢNG NAM .........................................................................................25
2.1. Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất .....................25
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại
tỉnh Quảng Nam ...................................................................................................41
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NAM ....................................................................................................54
3.1 Định hướng hoàn thiện các quy định thực thi pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất ....................................................................................................54
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ...................................................................57
KẾT LUẬN .........................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BT

: Bồi thường

CNH - HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


: quyền sử dụng đất

SDĐ

: Sử dụng đất

TĐC

: Tái định cư

THĐ

: thu hồi đất

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại,
phát triển của mỗi con người và các sinh vật khác trên trái đất, là yếu tố đầu vào
không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, do đó nhà nước cần
phải THĐ và thực hiện việc BT, GPMB cho các đối tượng sử dụng đất để phục
vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Công tác THĐ, BT, GPMB là vấn đề

và củng cố lòng tin của người nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của nhà nước, tôi chọn đề tài: “Pháp luật bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu tìm hiểu
trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bồi thường khi NNTHĐ là một trong những chế định quan trọng của pháp
luật quản lý về đất đai. Chế định này khi đi vào cuộc sống đã trực tiếp ảnh hưởng
đến cuộc sống của người dân, cộng đồng dân cư nơi có đất bị thu hồi và lợi ích
của nhà đầu tư nên thời gian qua đã có rất nhiều sách báo, công trình nghiên cứu
về lĩnh vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn, tiêu biểu là các công trình nghiêu
cứu của các tác giả như: luận văn (2010) của Lê Hải Yến với đề tài: “Pháp luật về
BT khi NNTHĐ qua thực tiễn áp dụng tại địa bàn Quận Tây Hồ, Thành phố Hà
Nội”; Luận văn (2012) của Hoàng Thị Thu Trang với đề tài: “Pháp luật về BT khi
Nhà nước THĐ nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại
Nghệ An”; Luận văn (2012) của Đỗ Phương Linh với đề tài: "Pháp luật về hỗ trợ,
tái định cư người có đất bị thu hồi trong GPMB-thực trạng và giải pháp hoàn
thiện"; Luận văn (2013) của Trần Phương Liên với đề tài: “Pháp luật về BT, hỗ
trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước THĐ nông nghiệp-Thực trạng và
hướng hoàn thiện"; Luận văn (2014) của Phạm Thu Thủy với đề tài: “Pháp luật
về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”;luận văn (2014)
của Trần Cao Hải Yến với đề tài: “Thực thi pháp luật về BT, hỗ trợ khi NNTHĐ
trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay”; luận văn (2016), Nguyễn Văn Thiện với

2


đề tài: “Đánh giá Công tác BT, HT và TĐC tại dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ
1, đoạn qua huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam”;….
Trong các công trình nêu trên, các tác giả đã nghiên cứu phân tích nhu cầu
THĐ trong quá trình CNH-HĐH đất nước là nhu cầu tất yếu khách quan, từ đó

ngược trở lại để chia sẻ với những khó khăn mà doanh nghiệp và Nhà nước gặp
phải trong quá trình BT; nghiên cứu phân tích cơ chế hỗ trợ khi THĐ nông
nghiệp đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người nông dân khi bị THĐ, từ đó có
nhìn nhận một cách khách quan để đánh giá đúng thực trạng của vấn đề này, làm
cơ sở để đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về BT khi NNTHĐ trong thời gian đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
(qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam) của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, Luận văn xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BT khi NNTHĐ; khái niệm,
đặc điểm và yêu cầu của pháp luật về BT khi NNTHĐ.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm rõ khái niệm, đặc điểm, các yếu tố
chi phối pháp luật về BT khi NNTHĐ, lịch sử hình thành và phát triển của pháp
luật cũng như cơ cấu pháp luật điều chỉnh về BT khi NNTHĐ ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về BT khi NNTHĐ trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế;
trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra định hướng và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BT khi NNTHĐ ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

4





được xem xét trong quá trình từ hình thành đến phát triển qua các giai đoạn lịch
sử khác nhau. Bên cạnh đó, tôi cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong điều kiện xây
dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cùng với những phương pháp trên, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu thập
chủ yếu là các quy định của cơ quan nhà nước ở tỉnh Quảng Nam và các cơ quan
liên ngành về BT, HT và TĐC khi NNTHĐ. Nguồn thông tin này được thu thập
chủ yếu qua báo cáo, văn bản chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh Quảng Nam,
các cơ quan liên ngành và thông qua các công trình, bài viết, tạp chí,
internet…để lấy thông tin, số liệu liên quan đến thực trạng áp dụng pháp luật về
BT khi NNTHĐ tại tỉnh Quảng Nam.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: được sử dụng để tổng hợp và phân tích
các quy định của pháp luật về BT khi NNTHĐ, cũng như các thông tin về thực
tiễn áp dụng. Phương pháp này còn được sử dụng để nhận xét, đánh giá trong
luận văn.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng nhằm xử lý các
tài liệu, các số liệu mà tôi thu thập từ thực tiễn áp dụng pháp luật về BT khi
NNTHĐ. Qua đó, tôi có được các số liệu, thông tin tin cậy trình bày trong luận
văn. …
Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng các phương pháp: diễn dịch, quy nạp, so sánh,
logic...để nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” có những đóng góp chủ yếu sau đây:

1.1. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để có cách hiểu toàn diện và sâu sắc thuật ngữ “bồi thường”, cụm từ “bồi
thường khi Nhà nước thu hồi dất” ta cần phải xem xét, nghiên cứu trên nhiều
phương diện khác nhau.
Trong đời sống thực tiễn, “bồi thường” được sử dụng trong trường hợp một
người nào đó có hành vi gây thiệt hại cho một người khác phải có trách nhiệm
BT những thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Hình thức BT có thể là vô hình
(xin lỗi) hoặc hữu hình (BT bằng tiền hoặc bằng hiện vật khác). Việc BT có thể
do các quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc do chính sự thỏa thuận giữa các
bên [40, tr.36].
Riêng lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ “bồi thường” khi NNTHĐ được
ghi nhận từ rất sớm. Tại Nghị định 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng
Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề
cập việc “bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp theo, LĐĐ
năm 1987 thuật ngữ “đền bù” được sử dụng thay cho thuật ngữ “bồi thường”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LĐĐ năm 2001, tại Điều 1, Khoản 9 (sửa
đổi, bổ sung Điều 27, LĐĐ năm 1993), thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở
lại và thay thế thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ “bồi thường” tiếp tục được sử
dụng tại LĐĐ năm 2003, LĐĐ 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất
đai 2013 [40, tr. 36].
Đề cập khái niệm này Khoản 12, Điều 3, LĐĐ năm 2013 đưa ra cách giải
thích như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với
diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất” [47, tr.7].
Tóm lại, BT khi NNTHĐ chỉ diễn ra khi Nhà nước thu hồi một diện tích đất
8


nào đó vì lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát
triển kinh tế. Thực chất, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa

giúp người bị THĐ giảm bớt các khó khăn về thu nhập, về việc làm, về cuộc
sống... Còn TĐC là việc Nhà nước thực hiện BT cho người bị THĐ trong trường
hợp phải di chuyển chỗ ở.
Về vị trí, vai trò, BT khi NNTHĐ đóng vai trò trung tâm và có tính chất
quyết định trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị THĐ, Nhà nước có nghĩa
vụ BT ngang giá và sát với giá thị trường về những thiệt hại hữu hình và vô hình
phát sinh trực tiếp từ hoạt động THĐ. Với hỗ trợ lại khác, đây là một giải pháp
nằm trong BT, nó đóng vai trò bù đắp vào khoảng trống mà các quy định về BT
còn thiếu, chưa hoàn thiện và không vươn tới được chức năng của BT. Nhà nước
quy định và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhằm mục đích giúp cho người bị
THĐ nhanh chóng ổn định sản xuất, khôi phục, cải thiện và nâng cao mức sống.
Còn TĐC chính là việc Nhà nước BT về đất, các tài sản gắn liền với đất và các
chi phí di chuyển, ổn định cuộc sống của người bị THĐ trong trường hợp phải di
chuyển chỗ ở, do đó TĐC giữ vai trò là yếu tố bổ trợ giúp các quy định về BT
được áp dụng triệt để và có tính khả thi cao trong thực tiễn [40, tr. 39].
1.1.3. Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất đai, nhất là trong giai đoạn
thực hiện CNH-HĐH, tốc độ đô thị hóa nhanh đã gây áp lực rất lớn cho việc
SDĐ. Điều này đòi hỏi việc phân bổ quỹ đất quốc gia nói chung và ở mỗi địa
phương nói riêng phải chi tiết, mang tính khoa học và có tầm nhìn chiến lược.
Để hoàn thành mục tiêu này, không thể tránh khỏi việc NNTHĐ của các chủ thể
đang sử dụng. Do đó, việc BT khi NNTHĐ đóng vai trò hết sức quan trọng được
thể hiện trên các phương diện sau đây:
Thứ nhất, đảm bảo chia sẻ về mặt lợi ích và bù đắp những thiệt hại để
người bị THĐ sớm ổn định đời sống, sản xuất, tạo việc làm và thu nhập ổn định
cho người bị THĐ. Trên cơ sở đó, góp phần duy trì và ổn định về chính trị, trật
tự an toàn xã hội, cũng như tạo ra động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
đất nước [34, tr.20].
Thứ hai, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa cũng như tính chất
10

11


xã hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các quan
hệ này đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà nước,
của các bên tham gia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội. Trong lĩnh vực
đất đai, để thực hiện việc THĐ chính phủ, các cấp, các ngành đã ban hành hàng
loạt các quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề phát sinh khi NNTHĐ.
Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về BT khi
NNTHĐ là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai Việt Nam và được
hiểu về mặt lý luận như sau: “Pháp luật về BT khi NNTHĐ là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình BT khi NNTHĐ, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của chủ đầu tư và của người bị THĐ” [40, tr.46]
Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về BT khi NNTHĐ được thể hiện bằng việc
Nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào hành vi xử sự của các chủ thể theo
hướng: Một là, đối với những hành vi xử sự phù hợp với quy định của pháp luật
về BT khi NNTHĐ thì pháp luật bảo vệ, khuyến khích để nó phát triển; Hai là, đối
với những hành vi xử sự trái hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật về
BT khi NNTHĐ thì pháp luật xử lý, ngăn ngừa và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời
sống xã hội; qua đó, việc tuân thủ pháp luật về BT khi NNTHĐ được xác lập và
thực hiện triệt để.
Mặt khác, tác động của cơ chế điều chỉnh pháp luật về BT khi NNTHĐ thể
hiện trên hai phương diện: (i) Phương diện tích cực: Nếu nội dung các quy định
của pháp luật về BT khi NNTHĐ phù hợp với thực tiễn khách quan, đáp ứng yêu
cầu phát triển của đất nước thì sẽ điều chỉnh, hướng dẫn hành vi xử sự của các
chủ thể tuân thủ đúng pháp luật và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế; (ii)
Phương diện tiêu cực: Ngược lại, nếu nội dung các quy định của pháp luật về BT
khi NNTHĐ lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn khách quan và chậm sửa đổi,
bổ sung sẽ trở thành rào cản hành vi xử sự của các chủ thể trong quan hệ BT.

Có thể nói, pháp luật về BT khi NNTHĐ là một lĩnh vực pháp luật nhạy
cảm. Các quy định về BT khi NNTHĐ được ban hành phù hợp với thực tiễn, bảo

13


hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì được họ đồng tình ủng hộ, việc
THĐ được thực hiện nhanh chóng, dứt điểm. Ngược lại, các quy định về BT khi
NNTHĐ không phù hợp với thực tế, tác động tiêu cực đến tâm lý, suy nghĩ của
người dân thì sẽ không nhận được sự đồng thuận, phát sinh các tranh chấp, khiếu
kiện kéo dài tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội; hậu quả là việc THĐ
gặp nhiều khó khăn, phức tạp và thậm chí là không thực hiện được [40, tr.48].
1.2.2. Các yêu cầu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1. Các thiệt hại cần xem xét, xác định khi Nhà nước thu hồi đất để bồi
thường
Trên phương diện lý luận, thiệt hại về vật chất và tinh thần của người bị
THĐ là hậu quả phát sinh trực tiếp từ việc THĐ của Nhà nước. Trong khi đó,
quyền SDĐ và quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân đã
được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Do vậy, chúng ta phải xác định
đúng, đầy đủ và khách quan những thiệt hại xảy ra khi Nhà nước THĐ để xây
dựng phương án BT “thỏa đáng” trên cơ sở đảm bảo hài hòa quyền lợi Nhà
nước, của NĐT, nhất là đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
THĐ. Với cách tiếp cận nêu trên, các thiệt hại mà người bị THĐ có thể phải
gánh chịu bao gồm:
Thứ nhất, thiệt hại về công sức đầu tư mà người bị THĐ bỏ ra để làm tăng
giá trị quyền SDĐ. Không những thế, đây còn là thiệt hại về quyền khai thác và
hưởng các lợi ích từ diện tích đất đai do bị Nhà nước thu hồi.
Thứ hai, thiệt hại về tài sản là thành quả lao động và kết quả đầu tư của
người bị THĐ được tạo ra trong quá trình SDĐ, gồm: nhà cửa, các công trình
kiến trúc, cây trồng và các tài sản khác gắn liền với đất.

NNTHĐ, tùy từng trường hợp cụ thể mà người bị thu hồi sẽ được BT về đất, về
tài sản gắn liền với đất, BT các chi phí khác có liên quan, được hưởng các chính
sách hỗ trợ (hỗ trợ di chuyển, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp…) và bố trí
TĐC đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở. Đây là vấn đề hết sức khó khăn,
phức tạp và nhạy cảm. Để giải quyết vấn đề này một cách “thấu tình, đạt lý” thì
cần phải xác định đầy đủ, khách quan và đúng các thiệt hại mà người bị THĐ
phải gánh chịu. Ngược lại, khi xác định không đúng và giải quyết không thấu
15


đáo các vấn đề nêu trên, một mặt các quyền và lợi ích của người SDĐ sẽ không
được đảm bảo, mặt khác nó còn dẫn đến các hệ lụy khác gây bất ổn an ninh
chính trị cũng như gia tăng sự nghèo đói của một bộ phận dân cư [34, tr.11].
1.2.2.2. Giải quyết hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất
và người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất của Nhà nước
Nhằm tạo ra quỹ đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, Nhà nước phải tiến hành THĐ. Điều
này sẽ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần cũng như làm ảnh hưởng đến
đời sống, sản xuất của người bị THĐ. Bởi vậy, khi tiến hành THĐ, Nhà nước
cần có những biện pháp thỏa đáng để giải quyết mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà
nước, người bị THĐ và những người được hưởng lợi từ việc THĐ. Để đảm bảo
lợi ích giữa các chủ thể nêu trên cần cân nhắc và giải quyết theo hướng sau:
Về phía Nhà nước: tiến hành THĐ là nhằm phân phối lại quỹ đất cho phù
hợp với mục tiêu quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế- xã hội. Thêm vào đó,
với chức năng đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước sẽ thực hiện vai trò điều tiết các
lợi ích kinh tế của các chủ thể liên quan đến việc THĐ chủ yếu thông qua các
chính sách tài chính về đất đai nhằm đem lại nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Về phía người được hưởng lợi từ việc THĐ (nhà đầu tư, các tổ chức, cá
nhân khác…): có thể nói những chủ thể này ít nhiều đều được hưởng lợi ích nhất
định từ hoạt động THĐ của Nhà nước. Do đó, lợi ích này cần phải tính toán và

[34, tr.14]. Để dễ hình dung, tôi xin đưa ra hình vẽ 1.1 dưới đây:
Nhà nước

Người được

Người bị THĐ

hưởng lợi từ việc THĐ

17


1.3. Nội dung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về BT khi NNTHĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh hoạt động BT khi NNTHĐ. Đây là nội dung quan trọng, là cơ sở pháp lý
để thực hiện công tác GPMB, căn cứ thực hiện việc BT khi NNTHĐ. Do đó, để
công tác BT khi NN THĐ được triển khai thực hiện hiệu quả, thì pháp luật về
BT khi NNTHĐ phải sát thực tiễn, đảm bảo tốt nhu cầu, lợi ích của người bị
THĐ, nhà nước và nhà đầu tư.
1.3.1. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Khi nhà nước thực hiện THĐ, các cơ quan thực thi công tác BT sẽ căn cứ
vào các nội dung, đối chiếu với điều kiện, yếu tố theo quy định để thực hiện việc
BT. Tùy vào những trường hợp cụ thể mà người bị THĐ có thể được xem xét
BT hoặc không BT khi NNTHĐ. Nếu người bị THĐ có đủ giấy tờ pháp lý theo
quy định của pháp luật hoặc đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ thì được BT về
đất khi NNTHĐ. Đồng thời, đối tượng được xem xét BT bao gồm các tổ chức,
cá nhân sử dụng đất, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các cơ sở tôn giáo,
cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải đất do nhà nước giao, cho
thuê mà đủ các điều kiện đề được BT. Đối với người sử dụng đất có nguồn gốc

kinh doanh, hạn chế thấp nhất những biến động, thiệt hại khi NNTHĐ.
1.3.2. Bồi thường về tài sản khi nhà nước thu hồi đất
Khi NNTHĐ thì tài sản trên đất của người có đất bị thu hồi bao gồm nhà
cửa, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, vật nuôi, mồ mã trên đất sẽ được xem xét
BT. Tùy vào mức độ thiệt hại khi NNTHĐ, người bị THĐ sẽ được xem xét
BT, HT hợp lý, người bị THĐ có thể được hỗ trợ toàn bộ công trình bị thiệt
hại, hoặc có thể được hỗ trợ phần bị thiệt hại và chi phí sửa chữa, hoàn thiện
phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước
khi phá dỡ. Mức BT nhà, công trình = giá trị hiện có của nhà, công trình bị
thiệt hại + một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của
nhà, công trình. Trong đó giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được
xác định bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân

19


với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương
đương do Bộ Xây dựng ban hành. Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm
theo giá trị hiện có của nhà, công trình do UBND cấp tỉnh quy định, nhưng
mức BT tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình
có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại; trường
hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử
dụng được phần còn lại thì BT phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa
chữa, hoàn thiện.
Pháp luật về BT khi NNTHĐ cũng đã quy định việc BT đối với hoa màu
khi THĐ nông nghiệp, mức BT đối với cây hàng năm được tính theo năng suất
của vụ cao nhất trong 3 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và
giá trị trung bình tại thời điểm THĐ; Mức BT đối với cây lâu năm được tính
bằng giá trị hiện có của vườn cây theo thời giá ở địa phương tại thời điểm THĐ
mà không bao gồm giá trị QSDĐ; Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status