Tiểu luận môn quản lý nhà nước hệ chuyên viên. Đề tài: “Xử lý việc giải phóng mặt bằng Công trình xây dựng Nhà máy gạch không nung tại khu Công nghiệp ĐH, xã QLa, huyện QL” để làm đề tài cuối khóa lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chu - Pdf 44

LỜI NÓI ĐẦU
Để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, một trong những nội
dung cần tập trung thực hiện đó là vấn đề đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế-xã hội, nhất là đầu tư hệ thống đường giao thông, các công trình phục vụ phát
triển kinh tế-xã hội, phúc lợi công cộng, phục vụ dân sinh. Tuy nhiên, trong quá
trình triển khai xây dựng các công trình đã nẩy sinh nhiều vấn đề, vụ việc bức xúc,
phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn ở các địa phương.
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, quy định, ban
hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến đất đai, về vấn đề
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong việc thu hồi đất, giải quyết các vấn đề
liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng xây dựng công trình. Các cơ quan
có thẩm quyền, các ngành chức năng đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu,
nghiên cứu, tìm ra nhiều giải pháp hữu hiệu nhất để tập trung thực hiện, nhưng
thực tế vẫn còn những tồn tại, hạn chế; vướng mắc trong việc giải quyết, xử lý liên
quan đến công tác quản lý sử dụng đất đai, về khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, áp giá
bồi thường, quyết định thu hồi đất, giải quyết các khiếu nại, làm chậm tiến độ bàn
giao mặt bằng triển khai các dự án, cản trở sự phát triển.
Về bản thân cá nhân, đã từng tham gia công tác quản lý nhà nước ở cơ
sở, hiện nay đang công tác ở cơ quan Đảng, nhưng cũng là người đang thực thi
chức năng, nhiệm vụ: trực tiếp tham mưu cho Huyện ủy về công tác tư tưởng,
đề xuất các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc,
khắc phục những tồn tại, hạn chế, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để
khẩn trương thi công hoàn thành các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn
huyện, tránh xẩy ra các vụ khiếu kiện kéo dài, tránh để các đối tượng cơ hội,
quá khích lợi dụng, trở thành điểm nóng.
Xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu bức xúc, tầm quan trọng và ý nghĩa của
vấn đề nêu trên; với những kiến thức về lý luận quản lý Nhà nước đã được các
Thầy, Cô truyền đạt, trang bị, cùng với việc nghiên cứu các tài liệu và tình hình
thực tế ở địa phương, tôi quan tâm và chọn tình huống: “Xử lý việc giải phóng
mặt bằng Công trình xây dựng Nhà máy gạch không nung tại khu Công nghiệp
ĐH, xã QLa, huyện QL” để làm đề tài cuối khóa lớp bồi dưỡng kiến thức quản

kinh tế - xã hội cũng như thu hút đầu tư. Trên thực tế, ngoài ưu điểm là địa
phương có mạng lưới giao thông thuận lợi khi có cả đường sắt, đường bộ (Quốc
lộ 1A và 48B) đi qua, có địa hình miền núi, đồng bằng và đặc biệt bờ biển dài
34 km với 3 của Lạch, huyện QL còn có thế mạnh về nguồn nhân lực khi quy
mô dân số 39 vạn người và gần 70% đang ở độ tuổi lao động. Bên cạnh đó, từ
tháng 9 năm 2009, QL được Chính phủ phê duyệt đưa vào vùng kinh tế trọng
điểm Nam T- Bắc N để đầu tư phát triển.
Chính vì vậy, bước vào năm 2011- năm đầu tiên bước vào thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXVI, tiếp nối thành tựu các năm trước,
Huyện ủy, HĐND và UBND huyện đã ban hành nhiều chủ trương, chương trình
phát triển kinh tế và thu hút đầu tư vào địa bàn như: rà soát bổ sung quy hoạch
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

2


tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện đến năm 2020; ban hành lộ trình và đầu
tư tập trung, toàn diện để thị trấn HM sớm hội đủ điều kiện, tiêu chí trở thành
Thị xã; cùng với đó là tiếp tục mở rộng, xây dựng thị trấn Cầu Gt, thành lập thị
trấn T, hình thành các thị tứ trung tâm vùng bãi Dọc, bãi Ngang ven biển…
Song song với giải pháp trên, để cải thiện môi trường thu hút đầu tư,
huyện đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học và công nghệ theo Đề án phát triển
nguồn nhân lực từ 2011-2015 và tính đến năm 2020, thực hiện đề án phát triển
kết cấu hạ tầng theo quy hoạch của tỉnh; tăng cường cải cách hành chính nhất là
trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng, triên khai các dự đầu tư xây dựng….
Cùng với đề ra nhiều chủ trương, huyện chủ động triển khai nhiều giải
pháp đồng bộ và toàn diện để thu hút đầu tư. Hiện nay, cùng với việc hoàn
thành cơ bản hạ tầng khu công nghiệp HM diện tích 297 ha và đang tập trung
cao điểm cho công tác giải phóng mặt bằng cho khu công nghiệp ĐH diện tích
1.436 ha. Đây sẽ là khu công nghiệp đa ngành để phát triển công nghiệp điện,

chặt đầu tư công, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra kết thúc năm 2011 kinh tế xã hội huyện vẫn đạt được những chuyển biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế đạt
14%; bình quân thu nhập đầu người đạt 17,86 triệu đồng, thu ngân sách nhà
nước giao đạt 140 tỷ đồng; toàn huyện có 21/43 xã, thị trấn hoàn thiện thiết chế
văn hóa, thông tin, thể thao đạt chuẩn…
Bước sang năm 2012, trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần
thứ XXVI đã đề ra, huyện QL tiếp tục phát huy nội lực, khai thác tiềm năng và
lợi thế, tích cực thu hút đầu tư để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; giải
quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Cụ thể, huyện
sẽ tập trung quản lý và thực hiện tốt quy hoạch được phê duyệt; tạo điều kiện
tối đa cho các dự án đầu tư phát triển công nghiệp trọng điểm trên địa bàn; tiếp
tục chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, chuyển đổi cơ cây trồng, mùa vụ, gắn sản xuất
với thị trường; chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế biển bằng đánh
bắt các hải sản xa bờ có giá trị kinh tế cao, gắn với dịch vụ, chế biến, tăng giá
trị, sản phẩm xuất khẩu; nâng cao năng suất, chất lượng nuôi trồng thủy sản; tăng
cường quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.
Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tình hình thực tế của địa
phương, huyện QL đã đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án lớn trên địa bàn như
xây dựng nhà máy Xi măng TT công suất 1,9 triệu tấn/năm, Nhà máy sản xuất
sắt xốp Kbe công suất 2 triệu tấn/năm Trung tâm thương mại chợ G…trong đó
có Nhà máy kết cấu bê tông, vật liệu không nung tại khu công nghiệp ĐH, xã
QLa, huyện QL. Dự án Xây dựng nhà máy gạch không nung tại xã QLa, huyện
QL bắt đầu chính thức triển khai từ tháng 10 năm 2011. Công trình này trong
quá trình tổ chức kiểm kê, áp giá bồi thường đã phát sinh vấn đề khiếu kiện của
một số hộ dân nằm trong khu vực giải toả, đòi hỏi các cấp, các ngành chức năng
phải tập trung giải quyết nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành khâu giải phóng
mặt bằng, để bàn giao cho đơn vị thi công tiến hành xây dựng công trình đảm
bảo tiến độ, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư tiếp tục triển khai các dự án tiếp
theo trên địa bàn, chuẩn bị điều kiện về cơ sở hạ tầng, tạo tiền đề cho việc thành
lập thị xã HM.
2. Diễn biến của tình huống

thanh tra 150 nội dung khiếu nại của 42 đơn, đoàn thanh tra xác định 16 nội dung
khiếu nại có cơ sở. Các trường hợp còn lại không có cơ sở do đất nằm ngoài quy
hoạch dự án hoặc đất khai hoang nhưng nằm trên đất 64, đất công ích của xã đã bỏ
hoang nhiều năm nên không có cơ sở để đền bù theo quy định.
Sau đó, huyện tiếp tục cử các tổ công tác xuống tuyên truyền vận động
nhân dân, đến ngày 20 tháng 4 năm 2012, UBND huyện tổ chức điều động lực
lượng từ các cơ quan xuống bảo vệ thi công. Một số người quá khích đã dùng
đá, gậy gộc ném, đánh làm một số thành viên trong lực lượng làm nhiệm vụ bị
thương. Do tình hình phức tạp xảy ra, lực lượng bảo vệ đành phải rút và ngừng
thi công.
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

5


Ngày 4 tháng 5 năm 2012, Phó Chủ tịch UBND tỉnh N, đã có buổi làm
việc với huyện QL. Kết luận tại buổi làm việc một lần nữa nói rõ: Dự án Nhà
máy KCBT-VLXD không nung ĐH là dự án đầu tiên khởi công trên KCN ĐH.
Ngoài dự án này, Vicem còn đầu tư dây chuyền Nhà máy Xi-măng HM II, Cảng
xi-măng ĐH. Vì thế việc nhanh chóng bàn giao mặt bằng cho dự án có ý nghĩa
quan trọng trong việc thu hút đầu tư của tỉnh, tạo tiền đề hình thành và phát
triển KCN ĐH. UBND tỉnh cũng giao huyện QL tiếp tục tổ chức đối thoại với
các hộ dân có kiến nghị, giải quyết dứt điểm các khiếu nại của các hộ dân nhằm
sớm ổn định tình hình để triển khai thi công thực hiện dự án. Tăng cường tuyên
truyền pháp luật để người dân hiểu rõ chính sách, chế độ về bồi thường GPMB,
lợi ích khi các dự án đầu tư trên địa bàn...
Trong biên bản làm việc giữa lãnh đạo Vicem và lãnh đạo tỉnh N ngày 28
tháng 5 năm 2012 về hợp tác thực hiện chương trình đầu tư phát triển và công
tác hỗ trợ an sinh xã hội của Vicem trên địa bàn tỉnh N đã ghi: Đối với dự án
Nhà máy KCBT-VLXD không nung: Vicem đã khởi công, đã chuyển tiền bồi

Huyện QL.
Tôi tên: Nguyễn Văn Triệu, xóm Đồng Thanh, xã QLa, huyện QL, tỉnh
N.
Xin khiếu nại lên Hội đồng đền bù GPMB nhà máy gạch không nung
huyện, nội dung sau:
1. Nhà tôi được giao 7 thửa đất, trong đó 6 thửa có trong bìa đỏ, 1 thửa
được giao nhưng không có trong bìa và không được tiền đền bù không rõ lý do.
2. Hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng huyện chưa cho tôi nhận số tiền
bồi thường 6 thửa có bìa đỏ như đã ghi trong Quyết định (do có phát sinh tranh
chấp về đất đai trong nội bộ gia đình, Toà án nhân dân huyện đang thụ lý giải
quyết, nên cơ quan chức năng không cho ông Triệu nhận tiền).
3. Đề nghị huyện điều chỉnh đơn giá bồi thường diện tích đất, cây hoa màu
đảm bảo quyền lợi kinh tế cho gia đình nhà tôi.
4. Do điều kiện kinh tế khó khăn, nên đề nghị huyện hỗ trợ thêm tiền di
dời nhà ở.
Đề nghị lãnh đạo huyện quan tâm, giải quyết.
QLa, ngày 15 tháng 6 năm 2012.
(đã ký tên)
Nguyễn Văn Triệu
II. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
Qua đánh giá, phân tích diễn biến của vụ việc và theo dõi tình hình nêu
trên, tôi xin trình bày nguyên nhân xảy ra, hậu quả và đề xuất, lựa chọn phương
án xử lý như sau:
1. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân khách quan:
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

7



đề về bồi thường, giải toả, hỗ trợ, tái định cư nên có những yêu cầu, đòi hỏi
thiếu căn cứ; một số hộ dân chưa thật sự quan tâm tham gia đóng góp ý kiến để
cùng với Tổ khảo sát, đo đạc, kiểm kê, áp giá bồi thường và tái định cư của Dự
án thực hiện tốt việc kiểm kê, tính toán áp giá cho chính xác ngay từ đầu, thậm
chí đến khi đã có Bảng tạm tính Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

8


được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân xã và trong cuộc họp lấy ý kiến đóng góp
của các hộ dân khu vực công trình mà cũng thiếu quan tâm đóng góp để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung, đến khi Phương án Bồi thường được phê duyệt và
nhận được Quyết định thu hồi đất, bồi thường thiệt hại đối với từng hộ dân mới
phát sinh đơn khiếu nại.
2.Hậu quả tình huống
Qua sự việc nêu trên, phần nào đã có tác động ảnh hưởng đến tình hình
phát triển, an ninh trật tự trên địa bàn xã QLa nói riêng và huyện QL nói chung,
cụ thể:
- Đây là Dự án đầu tư do Tổng Công ty công nghiệp xi-măng Việt Nam
(Vicem) thực hiện, mục tiêu của Dự án là cung cấp nguồn vật liệu xây dựng cho
khu vực, tạo tiền đề phát triển vùng kinh tế Nam T – Bắc N. Việc thực hiện dự
án có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ dự án xây dựng Nhà máy KCBT-VLXD
không nung, mà còn một số dự án khác như Nhà máy sắt xốp Kobelco... có ý
nghĩa quan trọng trong thu hút đầu tư của tỉnh, tạo tiền đề hình thành và phát
triển KCN ĐH như mục tiêu đề ra, sớm thành lập thị xã HM, thúc đẩy kinh tế
vùng phát triển; ngoài ra còn tăng cường năng lực quản lý cho các cơ quan Nhà
nước các cấp trong công tác lập kế hoạch. Do vậy, khi quá trình tổ chức thực
hiện Dự án xảy ra những vấn đề không hay như: phát sinh khiếu nại, một số hộ
dân chưa chịu bàn giao mặt bằng thi công và yêu cầu, đòi hỏi về quyền lợi

Tăng cương pháp chế XHCN, kỷ cương phép nước.
- Giải phóng được mặt bằng kịp thời hạn để thi công theo tiến độ đã định.
- Củng cố, nâng cao niềm tin, tăng cường sự đoàn kết, thắt chặt “Tình
làng, nghĩa xóm”, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân đối với chủ trương của
Đảng và Nhà nước, nhất là đối với chính quyền địa phương.
- Thực hiện tốt mục tiêu, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tạo
sự đồng thuận, thống nhất trong nhân dân trong triển khai dự án.
- Tạo môi trường chính trị, kinh tế-xã hội ổn định, nâng cao uy tín, tạo
hình ảnh, bức tranh sáng, hấp dẫn của địa phương trong quan hệ, kêu gọi, vận
động, thu hút các nguồn lực để đầu tư phát triển trên địa bàn.
IV. XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VÀ LỰA CHỌN
PHƯƠNG ÁN
1. Căn cứ giải quyết khiếu nại.
+ Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004
và năm 2005);
+ Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của
Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luậ Khiếu
nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.
+ Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15 tháng 12 năm 2009 quy định
quy trình giải quyết tố cáo;
+ Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009, của Bộ tài
nguyên môi trường về Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

10


+ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

khiếu nại sẽ nhanh chóng được giải quyết qua việc tuyên truyền, giải thích, giáo
dục, thuyết phục, vận động các hộ dân khiếu nại chấp hành, hy sinh quyền lợi
trước mắt nhưng bù lại sẽ được hưởng lợi về sau.
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

11


+ Việc giải phóng mặt bằng công trình, triển khai thi công sẽ nhanh
chóng được thực hiện.
- Hạn chế, nhược điểm:
+ Người dân bị mất quyền lợi, sự đồng thuận trong nhân dân sẽ không
cao, do vậy sẽ gây ra dư luận không tốt, phát sinh khiếu nại vượt cấp.
+ Lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước bị ảnh hưởng, do các ngành
chức năng không tiếp tục tìm hiểu, thẩm tra kỹ các vấn đề liên quan để nghiên
cứu, xem xét tìm biện pháp giải quyết có lợi cho nhân dân.
b. Phương án 2: Ngoài việc tiến hành họp dân để tuyên truyền, giải thích,
giáo dục, thuyết phục, vận động chấp hành; cần xem xét cụ thể từng nội dung để
vận dụng, có biện pháp linh động trong việc giải quyết, theo hướng tạo điều kiện
cho nhân dân được hưởng lợi nhiều nhất. Cụ thể: đối với 04 nội dung khiếu nại
của ông Nguyễn Văn Tr, sau khi xem xét, nhận thấy các nội dung khiếu nại đều
có cơ sở, vì hoàn cảnh gia đình của ông đang khó khăn, phải di dời nhà, bỏ công
ăn việc làm, thất thu kinh tế gia đình… Tuy nhiên, chỉ có thể giải quyết cho ông
ở 02 nội dung khiếu nại đầu tiên trong Đơn khiếu nại, đó là: khảo sát, đo đạc, đối
chiếu các căn cứ qui định để điều chỉnh về diện tích, loại đất, áp giá đền bù ở
mức cao hơn, đồng thời vận dụng, linh động giải quyết tái định cư cho hộ của
ông Tr (mặc dù cách giải quyết này không nằm trong qui định của phương án bồi
thường nhưng do Nhà nước đã quyết định thu hồi đất ở của ông khá nhiều, trên
50%); các nội dung khiếu nại còn lại vẫn bác đơn, với lý do không phù hợp với
qui định tại Phương án Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được Uỷ ban nhân

dung khiếu nại của ông Tr, sau khi xem xét, cân nhắc, mặc dù các nội dung
khiếu nại đều có cơ sở, do hoàn cảnh gia đình của ông đang khó khăn như: phải
di dời nhà, bỏ công ăn việc làm, thất thu kinh tế gia đình… Tuy nhiên, chỉ có
thể giải quyết cho ông đối với 01 nội dung khiếu nại đầu tiên trong Đơn khiếu
nại, các nội dung khiếu nại còn lại đều bị bác, không giải quyết, kể cả yêu cầu
về hỗ trợ tái định cư; đó là: Qua công tác khảo sát, đo đạc, rà soát, đối chiếu các
qui định xét thấy cần điều chỉnh theo yêu cầu của ông Tr, vì Tổ Khảo sát, đo
đạc, kiểm kê, áp giá bồi thường và tái định cư của Dự án khi lần đầu tiến hành
đo đạc đã có sai sót, không chính xác so với thực tế đã thẩm tra, xác minh lại;
cho nên, Uỷ ban nhân dân huyện đã ra Quyết định giải quyết trường hợp này
cho ông.
- Ưu điểm:
+ Giải quyết theo phương án này sẽ đảm bảo được cả 02 yếu tố: hợp tình,
hợp lý. Các hộ dân được các cơ quan chức năng Nhà nước quan tâm nghiên cứu
từng nội dung khiếu nại cụ thể để tìm biện pháp giải quyết theo hướng tạo điều
kiện để nhân dân được hưởng quyền lợi nhiều nhất, nhưng vẫn phải đảm bảo
tuân thủ nghiêm các qui định của pháp luật, nhất là các qui định trong Phương án
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Dự án đã được Uỷ ban nhân dân Tỉnh phê
duyệt.
+ Tính kỷ cương, kỷ luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước được tôn
trọng, đảm bảo thực hiện.
+ Thể hiện tính công khai, minh bạch, phát huy dân chủ, tính nghiêm minh
trong quá trình tổ chức thực hiện; Uy tín của các cơ quan Nhà nước được nâng lên.
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

13


- Hạn chế, nhược điểm:
+ Phải thực hiện nhiều bước thủ tục khi giải quyết, chậm thời gian.

hành đo đạc, rà soát, đối chiếu
các hồ sơ, tài liệu có liên quan
như: Bản đồ giải thửa đất, giấy
Chứng nhận Quyền sử dụng đất
của hộ, Biên bản đo đạc lần đầu
trước khi khiếu nại…; sau khi
xem xét, cân nhắc, Đoàn thanh
tra phát hiện có nội dung xác
HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu
14


Ngày
30/6/2012

2/7/2012

định về diện tích, loại đất của
hộ ông Triệu nằm trong vùng
qui hoạch được ghi trong Biên
bản đo đạc lần trước có sai sót
so với các giấy tờ có liên quan
và thực tế kiểm tra tại hộ, kéo
theo việc xác định số lượng
diện tích từng loại đất và áp
dụng mức giá bồi thường thấp,
làm thiệt hại cho hộ. Các nội
dung khiếu nại khác còn lại,
qua xem xét không nằm trong
qui định của Phương án Bồi

- Đoàn thanh tra.

HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

15


4/7/2012

10/7/2012

xuất của tôi):
+ Chấp thuận bồi thường 2
thửa đất 151b, 151c có trong
GCNQSD đất của ông T (bố
ông Tr) nằm trong vùng dự án
gạch không nung nhưng chưa
được nhận tiền đền bù.
+ Bác các yêu cầu còn lại
của ông Nguyễn Văn Tr. Lý do:
ông Nguyễn Văn T đã được bồi
thường, hỗ trợ theo Phương án
Bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư đã được Uỷ ban nhân dân
Tỉnh phê duyệt; thửa đất xóm
giao khoán cho ông T là đất
của UBND xã, không phải đất
xã giao theo NĐ 64CP, nên ông
không nhận được tiền đền bù.
Việc tranh chấp trong nội bộ gia

- Tổ chức thi công triển khai dự - Hội đồng đền bù 6/2013
án
GPMB.
- Chủ đầu tư dự
án.
- Đơn vị thi công.

VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong những năm qua, nhân dân đã tích cực đóng góp tiền của, công sức
để tham gia cùng với Nhà nước đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ
phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Nhiều công trình sau khi xây dựng hoàn
thành, đưa vào sử dụng đã mang lại hiệu quả hết sức to lớn, có ý nghĩa thiết
thực về mặt kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần cho
nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một số dự án đầu tư tiến độ triển khai thực hiện chưa
đảm bảo theo Kế hoạch đề ra; chất lượng, hiệu quả đầu tư đạt được chưa cao.
Một trong những nguyên nhân đó là công tác GPMB đã nẩy sinh những
tranh chấp, khiếu nại trong nhân dân. Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư đạt kết quả cao, kịp thời, đúng đắn đối với từng vụ, việc sẽ có tác
dụng tích cực đối với nền hành chính Nhà nước, đối với sự ổn định chính trị,
kinh tế-xã hội, nâng cao uy tín của các cơ quan Nhà nước đối với nhân dân.
Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi trong việc quan hệ, kêu gọi, vận động, thu
hút các nguồn lực trong và ngoài huyện để đầu tư phát triển ở địa phương. Ngược
lại, nếu quá trình tổ chức thực hiện, các biện pháp giải quyết không đúng đắn, kịp
thời, phù hợp, thiếu công bằng, dân chủ đối với từng vụ, việc sẽ gây ra nhiều vấn
đề tiêu cực, phức tạp, những yếu tố tiềm ẩn, khó lường, dẫn đến khiếu nại đông
người, khiếu kiện vượt cấp, phát sinh “điểm nóng”; từ đó, lòng tin của nhân dân
đối với Đảng, chính quyền bị suy giảm, dẫn đến sự mất ổn định trong xã hội.
Muốn vậy, quá trình tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư xây dựng công trình, các cơ quan thẩm quyền, các ngành chức năng phải

HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
------------ Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
2004 và năm 2005);
- Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của
Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Khiếu nại, tố cáo.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2004 của
Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15 tháng 12 năm 2009 quy
định quy trình giải quyết tố cáo.
- Dự án Xây dựng Nhà máy gạch không nung tại xã QLa, huyện Q
L, tỉnh N.
- Phương án Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Các Bộ hồ sơ của các gia đình khiếu nại về việc đền bù, giải
phóng mặt bằng Nhà máy gạch không nung ĐH, xã Q.La.
- Các tài liệu có liên quan khác.
-----------

HV: Nguyễn Anh Văn - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên – K26.2 – Quỳnh Lưu

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status