CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHU CÔNG NGHIỆP - Pdf 24

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Khu công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát
triển ở châu Á. Các khu công nghiệp phát triển nhanh chóng đem lại lợi ích về
kinh tế rất lớn cho các quốc gia.
Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là tốc độ phát triển kinh tế “nóng” của các
KCN và sự tập trung công nghiệp trong một khu vực nhất định đã kéo theo
nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường.
Số liệu thống kê cho thấy, trong số 131 KCN đã xây dựng xong và đưa vào
vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, 10 KCN đang xây dựng, các KCN
còn lại thì chưa xây dựng. Ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải
tập trung, thì chất lượng thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa
đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một
số KCN tập trung tập các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành
hoá chất độc hại cao.
Cùng với đó, người dân đang phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ
việc phát triển các KCN ở địa phương, sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sự
thoái hoá đất đai do những chất thải độc hại từ KCN gây ra
Từ những hậu quả nghiêm trọng nói trên thì việc đưa ra các quy định,
chính sách nhằm bảo vệ môi trường khu công nghiệp là vấn đề rất cấp thiết.
Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “ các công cụ
quản lý môi trường khu công nghiệp”.
II. NỘI DUNG:
1.2. Hiện trạng công tác quản lý môi trường khu công nghiệp
Việt Nam:
Theo thống kê, Việt Nam có trên 800.000 cơ sở sản xuất công nghiệp,
đóng góp của công nghiệp vào GDP là rất lớn. Tuy nhiên chúng ta cũng phải
chịu nhiều thiệt hại về môi trường do lĩnh vực công nghiệp mang lại. Hiện nay
khoảng 90% cơ sở sản xuất công nghiệp và phần lớn các khu công nghiệp chưa
có trạm xử lý nước thải. Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, nặng
nhất là công nghiệp nhiệt điện, công nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây

khu công nghiệp, chưa có những công cụ chính sách môi trường thích hợp và
chưa xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng môi trường cho khu công
nghiệp. Với chức năng được giao, Ban quản lý môi trường các khu công nghiệp
có thẩm quyền xử phạt các vi phạm về môi trường tương đương với cấp
quận/huyện nhưng do chưa có tổ chức thanh tra môi trường chuyên trách nên
chưa có sự phối hợp chặt chẽ và kịp thời với thanh tra môi trường Sở Khoa học,
Công nghệ và Môi trường.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong các khu công
nghiệp còn chưa hoàn chỉnh. Chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất
về công tác quản lý môi trường theo các loại hình ô nhiễm rắn, lỏng, khí và
chưa thích hợp với đặc điểm của các KCN - đòi hỏi quản lý ô nhiễm theo từng
ngành và theo cả hệ thống trong KCN là chưa phù hợp. Quy định về thẩm định
môi trường đối với các dự án trong KCN chậm được đổi mới và không có chế
tài mang tính bắt buộc. Ngoài cơ chế hỗ trợ theo Quyết định 183 năm 2003 của
Thủ tướng Chính phủ, thì cơ chế hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý chất thải ở
KCN vẫn chưa được hình thành. Hơn nữa, việc có nhiều đầu mối quản lý KCN
cũng dẫn đến hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý môi trường trong
KCN chưa được tốt.
So với những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ lệ các KCN đã
đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành đã
tăng lên đáng kể, từ gần 35% trong năm 2006 lên 60% năm 2011. Dự kiến Kế
hoạch 5 năm 2011-2015 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015, 100% các KCN đã đi
vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi
trường.
Ngoài việc tăng số lượng KCN xây dựng và vận hành công trình xử lý
nước thải tập trung, theo báo cáo của nhiều địa phương, đặc biệt là các địa
phương tập trung nhiều KCN như Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí
Minh, ý thức bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư hạ tầng KCN cũng như của
các doanh nghiệp thứ cấp trong KCN cũng đã được cải thiện theo hướng tích
cực. Các sở, ngành ở địa phương đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc doanh

thải một ngày từ các khu công nghiệp (KCN) được xả thẳng ra môi trường
không qua xử lý. Có đến 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý
nước thải tập trung, nước thải không qua xử lý từ các KCN xả thải trực tiếp vào
môi trường gây ra những thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông
nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận.
• Bụi, khí thải, và tiếng ồn:
Ngoài ra, tại các KCN, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm
khó kiểm soát. Khí thải của các cơ sở sản xuất chứa nhiều chất độc hại được xả
trực tiếp vào môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân quanh
vùng. Theo kết quả quan trắc, nồng độ chất SO
2
, CO, NO
2
gần KCN hoặc trong
các KCN đang gia tăng. Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều đã
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-6 lần. Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, công
nghiệp hoá chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng
sản trong KCN, nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là khí SO
2
) trong không
khí, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-5 lần.
3.2. Các công cụ quản lý môi trường khu công nghiệp:
3.2.1 Công cụ mệnh lệnh kiểm soát:
Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực môi
trường KCN đã nỗ lực xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách và triển khai
thường xuyên nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện
pháp luật về bảo vệ môi trường. Một số công việc cụ thể đã triển khai là:
+ Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008
quy định về KCN, KCX và KKT, trong đó quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm
của Ban quản lý KCN, KKT trong công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh

các hoạt động của KCN gây ra cho môi trường.
Quy chế quy định: KCN chỉ chính thức đi vào hoạt động khi có đủ các điều
kiện đảm bảo môi trường như: Có quy hoạch chi tiết phân khu cụm công
nghiệp; Có hệ thống cấp điện, nước đảm bảo cho nhu cầu sử dụng theo từng
giai đoạn phát triển; Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước mưa và thoát
nước thải riêng biệt; Có trạm xử lý nước thải tập trung đảm bảo đạt tiêu chuẩn
xử lý xả thải vào nguồn tiếp nhận tương ứng; Có địa điểm và phương tiện cần
thiết sẵn sàng cho việc trung chuyển và/hoặc lưu trữ tạm thời chất thải rắn công
nghiệp, chất thải nguy hại với điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh và an toàn cho
môi trường
Bộ KHCN&MT có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường đối với các KCN trên lãnh thổ Việt Nam; tổ chức, chỉ đạo và kiểm
tra việc thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường của các KCN. Bộ
KHCN&MT giao cho Cục Môi trường trực tiếp quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường KCN với các nội dung như: Tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM của
các dự án đầu tư xây dựng KCN; Thẩm định các dự án xây dựng nhà máy xử lý
nước thải tập trung, trạm trung chuyển, lưu giữ và bãi chôn lấp chất thải nguy
hại của KCN; Đề xuất việc điều chỉnh tiêu chuẩn thải cho phép với các KCN;
Tổ chức chỉ đạo xây dựng báo cáo thường niên về hiện trạng môi trường KCN
Việt Nam; Chỉ đạo, tổ chức các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, thanh tra môi
trường KCN, giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác bảo vệ môi
trường KCN và ra quyết định xử phạt các trường hợp vi phạm quy chế bảo vệ
môi trường trong phạm vi thẩm quyền; Làm đầu mối quản lý, cung cấp thông
tin hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ xử lý và quản lý môi trường KCN; Phối hợp với
các cơ quan chức năng xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển KCN trong
phạm vi cả nước phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
môi trường
Sở KHCN&MT chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh/thành phố trực thuộc
Trung ương về công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường KCN, đồng
thời chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ KHCN&MT về chuyên môn, nghiệp vụ,

nghiệp còn gặp nhiều khó khăn:
Một trong những nguyên nhân chính là do bài toán lợi nhuận: Điển hình
như trong vấn đề xử lý nước thải nếu như đầu tư hệ thống xử lý nước thải,
ngoài tốn chi phí mua máy móc, công nghệ, doanh nghiệp phải tốn thêm các
khoản như chi phí bảo trì, nhân công, hóa chất để vận hành dây chuyền này.
Trong khi đó mức phạt cao nhất đối với những trường hợp vi phạm cũng chỉ
100 triệu đồng, số tiền này so với phần lợi nhuận họ thu được từ việc xả thải mà
không xây dựng hệ thống xử lý là quá nhỏ cho nên thay vì bỏ một khoản chi phí
lớn để đầu tư xây dựng hệ thống thì họ sẵn sàng chấp nhận nộp phạt. Tình trạng
này diễn ra ở hầu hết các khu công nghiệp, điều này chứng tỏ các công cụ được
sử dụng chưa mang lại hiệu quả cao do chế tài xử lý chưa mạnh tay. Dù mức xử
phạt trong Nghị định 117/2009/NĐ-CP đã tăng hơn nhiều so với Nghị định
80/2006/NĐ-CP, nhưng vẫn thấp hơn so với thiệt hại mà doanh nghiệp vi phạm
gây ra.
Ngày 31/12/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 117/2009/NĐ-CP về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo đó, mức phạt
các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cao nhất có thể lên đến 500 triệu đồng/doanh
nghiệp. Ngoài việc nộp phạt hành chính, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm,
các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung, từ
tước quyền sử dụng đối với Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, Giấy
phép hành nghề vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại; Giấy phép xả nước thải
vào nguồn nước và các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề có nội dung liên
quan về bảo vệ môi trường… đến tạm đình chỉ hoạt động, cấm hoạt động và
buộc di dời. Đối với ô nhiễm nước thải, ngoài cảnh cáo thì mức phạt nhẹ nhất là
từ 100 – 500 nghìn đồng trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn
10m3/ngày đêm, mức phạt cao nhất là từ 400 - 500 triệu đồng cho các hành vi
xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật cho phép. Trong khi đó, mức phạt hành chính thấp nhất đối
với vi phạm về thải khí, bụi là 500 nghìn đồng đến 2 triệu đồng cho hành vi thải

vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định biện pháp công khai thông
tin về tình hình ô nhiễm và vi phạm pháp luật của các DN gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Điều này cho phép người ra quyết định xử phạt có quyền
chủ động công khai trên các website chuyên ngành, các phương tiện thông tin
đại chúng về vi phạm của DN nhằm răn đe những trường hợp tương tự.
Tuy nhiên, nhiều cán bộ, cơ quan có thẩm quyền xử phạt lại hiểu rằng chỉ
những trường hợp vi phạm được kết luận là nghiêm trọng mới được cung cấp
thông tin cho báo chí. Vì thế, rất nhiều vụ vi phạm được các cơ quan này phát
hiện, xử phạt nhưng khi báo chí đề nghị cung cấp thông tin thì chỉ nhận được
cái lắc đầu với lý do “không được phép công khai”. Cách hiểu như thế này rất
dễ tạo kẽ hở để người thực thi pháp luật với đối tượng vi phạm thỏa hiệp cùng
nhau để bưng bít thông tin mà lẽ ra dư luận có quyền được biết, từ đó giảm hiệu
quả răn đe của biện pháp xử lý vi phạm.
Một biểu hiện nửa vời trong xử lý vi phạm về môi trường lâu nay là công
tác kiểm tra sau xử lý không được thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng DN chỉ
cần nộp tiền phạt là có thể coi như đã chấp hành xong quyết định xử phạt, còn
việc khắc phục thế nào thì tới đâu hay tới đó.
Mặt khác, đối với các DN vi phạm, bị phạt tiền nhiều hay ít không đáng
ngại bằng việc bị công khai ra trước dư luận vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, hình
ảnh DN. Cách đây vài năm, Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp
TP.HCM đăng công khai “danh sách đen” các DN gây ô nhiễm tại các khu chế
xuất, khu công nghiệp trên địa bàn và hiệu quả thấy rõ là các DN sau đó chạy
đua với thời gian để khắc phục vi phạm nhằm sớm được rút tên khỏi danh sách.
Ngoài những khó khăn trên, trong thực tế công cụ quản lý ô nhiễm bằng
mệnh lệnh kiểm soát chưa hát huy hiệu quả cao còn do hệ thống văn bản pháp
luật về bảo vệ môi trường của nước ta hiện nay nhìn chung vẫn còn chưa đầy
đủ, chưa hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ; thiếu những văn bản chi tiết hướng dẫn
việc thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại; các địa phương áp dụng chưa
thống nhất và còn nhiều lúng túng và nhất là thiếu các chế tài xử phạt cụ thể đối
với các hành vi vi phạm. Phạm vi điều chỉnh của các điều khoản mới chỉ dừng

thải công nghiệp của các khu công nghiệp, xử lý nước thải của nhà máy, xí
nghiệp, xử lý ô nhiễm làng nghề, xử lý khói bụi xi-măng và các loại bụi khác,
triển khai công nghệ sạch, thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng
Trong suốt thời gian hoạt động (từ năm 2002 và chính thức cho vay từ năm
2004), quỹ đã cam kết cho vay hơn 566 tỷ đồng với tổng số 113 dự án trải khắp
33 tỉnh, thành phố trong cả nước, tài trợ số tiền hơn 21 tỷ đồng, ký quỹ phục hồi
môi trường trong lĩnh vực khai thác khoáng sản đạt gần 25 tỷ đồng, thu lệ phí
bán CERs hơn 31 tỷ đồng. Trong đó, các dự án thuộc lĩnh vực xử lý chất thải
của các khu công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất 45,14%, trong khi các dự án
Triển khai công nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng vẫn còn
hạn chế, mới chỉ ở mức 4,26% với 17 dự án.
+Phí môi trường: Nghị định 67/2007/NĐ-CP của Việt Nam quy định thu
phí với 7 chất gây ô nhiễm đối với nước thải công nghiệp ở tất cả các cơ sở sản
xuất công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản.
Đối với quản lý nước thải:
Mức thu phí và cách tính phí nước thải công nghiệp ở Việt Nam: Theo
nghị định 67/2003/NĐ-CP mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
công nghiệp của Việt Nam được tính theo từng chất gây ô nhiễm có trong nước
thải, theo từng môi trường tiếp nhận.
Thu phí nước thải không có nghĩa là thu nước thải ra mà là thu những chất
gây ô nhiễm hòa tan trong lượng nước thải. Nếu nước thải chứa càng nhiều hợp
chất gây ô nhiễm môi trường thì thu phí càng nhiều và ngược lại
Thu phí nước thải chỉ là một trong số nhiều công cụ kinh tế quản lý môi
trường đã, đang và sẽ được đẩy mạnh áp dụng trong hời gian tới. Giải pháp ưu
tiên này đã được ghi rõ trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt.
Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện đang được các tổ
chức doanh nghiệp, hộ gia đình rất quan tâm. Tuy nhiên, trong quá trình triển
khai, thực hiện việc thu phí nhiều địa phương, doanh nghiệp vẫn còn lúng túng
và bản thân nhà quản lý cũng gặp không ít khó khăn.

trường sống thông qua giảm thiểu sử dụng và tiêu dùng năng lượng, vật liệu
cũng như các loại chất thải sinh ra do quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu
dùng các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng phục vụ đời sống.
Để đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường, Chương trình Nhãn xanh Việt
Nam thực hiện đánh giá khả năng kiểm soát, hạn chế tác động đối với môi
trường của các loại sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng theo quan điểm “xem xét toàn
bộ vòng đời sản phẩm”. Theo đó, lợi ích môi trường mà mỗi sản phẩm có khả
năng mang lại từ việc giảm thiểu phát thải các loại chất gây ô nhiễm, chất độc
hại ra môi trường từ các khâu khai thác nguyên/vật liệu, sản xuất, kinh doanh,
tiêu dùng cho đến khi thải bỏ đối với loại hình sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng đó
sẽ được xem xét và đánh giá trên cơ sở các bộ tiêu chí được xây dựng riêng cho
từng loại hình sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng.
Người tiêu dùng và khách hàng có nhiều thông tin hơn về các tác động của
sản phẩm hoặc dịch vụ đối với môi trường và sức khoẻ con người, và họ ngày
càng có nhận thức cao hơn đối với những vấn đề môi trường. Những lý do này
làm cho ngày càng có nhiều người tiêu dùng muốn chuyển tải những nhận thức
của họ sang sự thay đổi về ý thức mua hàng cái mà người ta vẫn dùng là “người
tiêu dùng xanh”.
Mục đích của nhãn sinh thái là khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng
những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường
trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa
nhãn sinh thái là một lĩnh vực mà các lợi ích kinh tế - môi trường chủ yếu có
thể được nhận qua việc khai thác mối quan tâm đến môi trường của người tiêu
thụ sản phẩm.
Sự ra đời của nhãn sinh thái có mục đích giúp cho ngời tiêu dùng nhận biết
được những tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ, để
từ đó đưa ra sự lựa chọn của mình. Nếu sản phẩm được cấp nhãn sinh thái càng
ngày càng được nhiều người tiêu dùng lựa chọn thì điều đó chứng tỏ nó đã kích
thích các doanh nghiệp thay đổi quá trình công nghệ nhằm đáp ứng được các
tiêu chí môi trường và yêu cầu của người tiêu dùng, hay nói cách khác các

quản lý môi trường lẫn chi phí cho việc chứng nhận đăng ký nhãn sinh thái,vì
vậy rất tốn kém, trong khi khả năng tài chính của các doanh nghiệp lại có hạn.
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò cấp thiết của SXSH trong công
nghiệp, ngày 07/9/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1419/QĐ-
TTg phê duyệt "Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm
2020". Quyết định này đã nêu ra những chỉ tiêu, lộ trình cụ thể và những dự án
mà các Bộ, ngành địa phương cần phải làm để thúc đẩy các doanh nghiệp mở
rộng SXSH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên
liệu, nhiên liệu, vật liệu; Giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô
nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo
đảm phát triển bền vững.
Theo đó đến năm 2015 sẽ có 25% doanh nghiệp áp dụng các giải pháp sản
xuất sạch hơn. Tuy nhiên, điều mà các doanh nghiệp quan tâm chính là làm sao
để có một nguồn tài chính với lãi suất vay hợp lý để các doanh nghiệp có thể
tiếp cận các dự án đầu tư, đổi mới công nghệ và xử lý môi trường của doanh
nghiệp mình, khi mà vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường trong
quá trình sản xuất, kinh doanh đang ngày càng trở nên bức thiết hơn bao giờ
hết. Và vấn đề này đã dần được giải quyết nhờ vào các chính sách cơ chế hỗ trợ
của nhà nước và các cơ quan chức năng: Quỹ ủy thác tín dụng xanh do Trung
tâm sản xuất sạch hơn điều phối, Quỹ sẽ hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
đầu tư công nghệ sach hơn từ trung đến dài hạn với mức bảo lãnh tối đa 50%
tổng giá trị khoản vay, trả thưởng tối đa 25% tổng giá trị vay tại 3 ngân hành
thương mại ACB, Techcombank và VIB. Thời gian xem xét cho một dự án là
75 ngày, triển khai đầu tư trong 3-6 tháng. Theo đại diện Quỹ, 1 doanh nghiệp
muốn đầu tư thiết bị giá 100.000 USD với lợi ích hàng năm 200.000 USD, nếu
đầu tư thông thường thì thời gian hoàn vốn là 5 năm nhưng nếu đăng ký với
Quỹ thì mức hỗ trợ tối đa là 25% và thời gian hoàn vốn sẽ là 3,75 năm.
Với lãi suất cho vay ưu đãi 5,4%/năm, thời hạn cho vay không quá mười
năm và mức hỗ trợ cho vay không vượt quá 70% trên tổng mức đầu tư dự án thì
các nguồn vốn vay từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đang thật sự hấp dẫn

Bên cạnh đó, việc áp dụng trên thực tế quy trình sản xuất sạch của các xí
nghiệp không phải là công việc dễ dàng. Đây là cả một quá trình lâu dài và gặp
không ít những khó khăn. Khó khăn đầu tiên gặp phải là do nhận thức của phần
lớn cán bộ công nhân viên các xí nghiệp chưa đúng đắn và đầy đủ về vấn đề
này . Khó khăn tiếp theo là do sức ép về vốn của các xí nghiệp do họ cần ưu
tiên đầu tư vào những lĩnh vực cấp bách khác . Vấn đề quan trọng nữa là vấn đề
công nghệ sản xuất sạch ở nước ta còn nhiều hạn chế xây dựng và phát triển
KCN, KKT theo hướng bền vững.
3.2.3. Tuyên truyền giáo dục:
+Tổ chức các hội thảo chuyên đề về bảo vệ môi trường KCN, KCX, KKT,
qua đó thu thập thông tin, ý kiến của các cơ quan Nhà nước Trung ương, địa
phương và doanh nghiệp để nắm bắt tình hình thực tế, nghiên cứu điều chỉnh
các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường KCN,
KCX, KKT.
Có các chương trình phổ biến và hướng dẫn cho các Doanh nghiệp hiểu rõ
những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, các mức xử phạt vi
phạm hành chính đối với từng trường hợp cụ thể, giúp Doanh nghiệp hạn chế
tối đa các thiếu sót và những sai phạm không đáng có, đồng thời góp phần
chung vào công cuộc Bảo vệ môi trường – Phát triển bền vững, ngày
04/08/2010, Công ty cổ phần Long Hậu đã tổ chức chương trình Phổ biến nghị
định số 117/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc xử lý vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực Bảo vệ môi trường.
+ Chính sách khuyến khích các DN đầu tư vào các dự án xanh, sạch hơn.
Đi đôi với việc xử phạm vi phạm cần có cơ chế, chính sách khen thưởng các cá
nhân, DN có thành tích tốt trong việc bảo vệ môi trường, có như vậy, môi
trường KCN mới được đảm bảo và phát triển bền vững.
III. Phương hướng giải quyết:
Để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ môi trường KCN, trong thời gian tới
cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
1. Thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về

môi trường cần điều chỉnh theo hướng:
- Xây dựng cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp giữa Sở Tài nguyên
và Môi trường, Ban quản lý KCN, KKT địa phương, cảnh sát môi trường trong
công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý Nhà nước về môi trường KCN, KKT; tăng
cường phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài nguyên và Môi trường
và các cơ quan liên quan trong công tác quản lý Nhà nước về KCN, KKT.
- Tăng cường phân cấp cho Ban quản lý KCN, KKT trong việc thực hiện
nhiệm vụ quản lý Nhà nước về môi trường trong KCN, KKT gắn với tăng
cường cơ chế phối hợp, hướng dẫn giữa các cơ quan Trung ương và địa phương
cũng như tăng cường bộ máy, nhân lực, thiết bị cho Ban quản lý KCN, KKT,
Sở Tài nguyên và Môi trường để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ môi trường
KCN, KKT.
- Xác định rõ vị trí, vai trò của Thanh tra Ban quản lý KCN, KKT trong hệ
thống Thanh tra Nhà nước để đảm bảo thẩm quyền của Ban quản lý KCN, KKT
trong việc thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính đối với hoạt động
của KCN, KKT nói chung và bảo vệ môi trường KCN, KKT nói riêng.
- Tăng cường vai trò của các cơ quan Nhà nước trong công tác tuyên
truyền, vận động, tăng cường năng lực và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
trong quá trình sản xuất kinh doanh, xây dựng.
Sớm sửa đổi Thông tư 08 để tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý môi
trường các KCX, KCN; nâng cao vai trò trách nhiệm của các Công ty PTHT
KCX, KCN trong việc nắm tình hình, kiểm tra, giám sát hoạt động BVMT của
DN trong KCX, KCN; tiếp tục phát huy vai trò của bộ phận chuyên môn về
BVMT của KCX, KCN.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra các DN về công tác BVMT. Tuy
nhiên, công tác thanh tra cần phải có kế hoạch, tránh chồng chéo. Từng bước
hạn chế việc khai thác, sử dụng nước ngầm để bảo vệ nguồn tài nguyên nước
ngầm chung. Ngành Tài nguyên và Môi trường phối hợp với ngành Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn và địa phương rà soát, xác định các nguồn thải
trên địa bàn để có cơ sở xác định trách nhiệm của các đơn vị xả nước thải làm

quả khả quan trong công cuộc bảo vệ môi trường khu công nghiệp.
Bên cạnh những mặt đã làm được cần chủ trương hơn nữa, đẩy nhanh hơn
nữa quá trình hoàn thiện các công cụ quản lý môi trường, đặc biệt là các công
cụ quản lý môi trường ở các khu KCN nhất là đối với các nước đang trong tiến
trình công nghiệp hóa đất nước như Việt nam hiện nay, đó là điều kiện cần cho
sự phát triển bền vững đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước quá độ
đi lên xã hội chủ nghĩa.
Tài liệu tham khảo:
1. />nuoc-thai-cong-nghiep-cua-viet-nam-va-philippines
2. />ID=164&CID=164&IDN=2398&lang=vn
3. />portalid=1&tabid=359&itemid=338
4. />nhiem_t77c545n20261tn.aspx
5. />%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-kinh-t%E1%BA%BF-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-m
%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-g%E1%BB%93m-nh%E1%BB%AFng-lo
%E1%BA%A1i-n%C3%A0o
6. />7. />8. />%E1%BB%9Bithi%E1%BB%87uNh%C3%A3nxanhVi%E1%BB%87tNam.aspx


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status