Tiểu luận triết học Tư tưởng triết học pháp gia và những giá trị hạn chế - Pdf 24

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Tên đề tài:
Tên đề tài:
GVHD:
GVHD:

TS. Bùi Văn Mưa
TS. Bùi Văn Mưa
Lớp:
Lớp:

CHKT K21 – Đêm 5
CHKT K21 – Đêm 5
Nhóm:
Nhóm:04
04
HVTH:
HVTH:Nguyễn Hồng Giang

PHỤ LỤC:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học cổ đại Phương Đông nói chung và triết học cổ đại Trung Hoa nói
riêng đã để lại cho nền văn minh nhân loại nhiều tinh hoa quý báu. Trong đó,
những tư tưởng Pháp gia đã để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử to lớn đối với quá
trình thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước. Trong quá trình
nghiên cứu những tư tưởng Pháp gia nói chung và học thuyết của Hàn Phi nói
riêng đã để lại trong nhận thức của cá nhân em nhiều điều mới mẻ. Nguồn dữ
liệu gồm có: ấn phẩm xuất bản(Từ điển Triết học Trung Quốc, Lịch sử Triết học
Phương Đông, Lịch sử Triết học Trung Quốc – Tập 1, Triết Học – Phần I: Đại
cương về lịch sử Triết học ), tài liệu số(các dạng file word, pdf, ebook…) và
nguồn tham khảo trên các trang web. Chủ trương của Pháp gia đã có những thành
quả to lớn, nó thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử Trung Hoa cổ đại, mang
lại cái nhìn tiên bộ hơn so với những tư tưởng triết học thời bấy giờ và làm cho
pháp luật trở nên công bằng, bình đẳng hơn. Tuy nhiên họ đã quá chú trọng vào
pháp luệt, xem phát luật là chuẩn mực chung để đánh giá con người mà xem
thường long nhân đạo, chỉ tôn quân triệt để mà không yêu quý nhân dân. Do vậy
những tư tưởng của Pháp gia tuy đã bị lưu mờ dần về sau nhưng vẫn còn những
giá trị nhất định cần được khám phá, tìm hiểu.
1
I. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA
1.1. Bối cảnh lịch sử và sự hình thành của phái Pháp gia
Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, thời kỳ loạn lạc nhất trong lịch sử Trung
Hoa nhưng đồng thời cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của triết học Trung
Hoa cổ đại ‘‘Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng’’. Thời Xuân Thu thiên hạ đã
loạn, nhà Chu suy yếu dần, vương đạo tuy không còn, nhưng nước mạnh đối với
nước yếu còn giữ chút nhân tình, chút đạo nghĩa. Sang thời Chiến Quốc, tiến bộ
trong khả năng chế tác đồ sắt, sử dụng sức kéo gia súc và xây dựng công trình
thủy lợi, và như thế là thóc lúa càng tích trữ nhiều càng nuôi được nhiều giáp sĩ,

+ Hành pháp thì phải chuẩn bị, công bố cho rõ ràng, thi hành cho nghiêm
chỉnh, đừng thay đổi hoài, mà phải chí công vô tư, "vua tôi sang hèn đều phải
theo luật pháp"
+ Ông chủ trương tôn quân , biết thuận ý dân và sau cùng ông cũng chú
trọng đến đạo đức, bảo lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn điều cốt yếu.
Trên thực tế Quản Trọng vẫn chịu ảnh hưởng của Nho gia cho nên chúng ta
có thể coi ông là thuỷ tổ của Pháp gia mà cũng là chiếc cầu nối Nho gia với Pháp
gia, biết dung hoà thực tế với lý tưởng, trọng kinh tế, võ bị mà cũng biết lễ nghĩa,
nhân tín.
b) Tử Sản
Tử Sản sinh sau Quản Trọng một trăm năm, cầm quyền nước Trịnh từ -554
đến khi chết -523. Ông là một công tôn của nước Trịnh, tên là Kiều, nên thường
gọi là Công tôn Kiều [8]. Trong nước ông cương quyết và ngay thẳng, áp dụng
Pháp chế, cho đúc "hình thư"(những cái đỉnh để ghi lại hình pháp), khi đặt ra một
luật lệ mới, ông để cho dân tự do phê bình. Tử Sản chưa phải chủ trương pháp trị,
nhưng cũng đã làm cho pháp luật có tính cách khách quan hơn trước, nhà cầm
quyền không thể tự ý giải thích theo quyền lợi của mình nữa; vì dân vì quốc gia
giàu mạnh.
c) Lý Khôi
Lý Khôi làm quan thú đất Thượng Địa rồi làm tướng quốc cho Ngụy Văn
hầu, không rõ năm sinh tử, chỉ biết sống ở hậu bán thế kỷ thứ 4 [8]. Ông là người
theo tư tưởng pháp trị và chính sách hưng nông cường quốc. Ông đã đã tham
khảo luật pháp các nước đương thời, soạn thành bộ “Pháp Kinh” gồm 6 thiên:
Đạo pháp, Tặc pháp, Tù pháp, Bổ pháp, Tạp pháp và Cụ pháp với nội dung nhằm
bảo vệ lợi ích tư hữu cho giai cấp địa chủ. Ông được xem là nguời đầu tiên biên
soạn sách luật pháp của Pháp gia. Sau này, các bộ “Tần luật” đời Tần; “Cửu
3
chưong luật” đời Hán, “Pháp kinh” đời Thanh đều chịu ảnh hưởng từ bộ Pháp
Kinh của Lý Khôi. Ông cũng là nhà chính trị Pháp gia đầu tiên dùng chính sách
hưng nông cường quốc, khai thác tối đa tiềm lực đất đai của quốc gia.[9]

ly khai chính trị ra khỏi đạo đức, nên có người cho rằng chính ông mới thực là
thuỷ tổ của Pháp gia. Ông chú trọng nhất đến "thuật", tức phương tiện, mưu mô
để đạt được mục đích: vua chọn và dùng bề tôi cách nào, thử tài họ, điều tra họ ra
sao. Ông cho rằng "thuật" là cái "bí hiểm" của vua, theo đó nhà vua không được
lộ ra cho kẻ bề tôi biết là vua sáng suốt hay không, biết nhiều hay ít, yêu hay ghét
mình bởi điều đó sẽ khiến bề tôi không thể đề phòng, nói dối và lừa gạt vua.
b) Phái Trọng Thế :
Thế được hiểu là tính chính thống, quyền lực hay uy tín. Chính vị trí của
nhà vua cai trị, chứ không phải nhà vua, nắm giữ quyền lực. Vì thế việc phân tích
khuynh hướng, hoàn cảnh và những yếu tố thực tại là điều căn bản của một vị
vua cai trị thực sự. Pháp gia đặt địa vị, quyền thế lên trên tài đức; miễn là tài đức
trung bình mà có quyền thế là trị nước được rồi. Trọng cái “thế” tức là trọng sự
cưỡng chế. Vì trọng sự cưỡng chế, cho nên pháp gia chủ trương:
+ Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào vua.
+ Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để.
Đại diện cho phái này là Thận Đáo (370 – 290 TCN ) [8] .Ông là người
nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo của Lão Tử,
nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật. Ông khác
hẳn các Pháp gia trước và sau ông, không làm chính trị, ông thuần túy là một tư
tưởng gia Đây là một tư tưởng khá tiến bộ mà sau này Hàn Phi đã tiếp thu và
hoàn thiện. Trong phép trị nước, đặc biệt Thận Đáo đề cao vai trò của "Thế", đề
cao sức mạnh và tác dụng của quyền thế, địa vị. Vì trọng "thế" nên Thận Đáo chủ
trương tập quyền, cấm không được lập bè đảng, địa vị và quyền lợi của vợ lớn
bé, con cả con thứ phải rõ ràng, đại thần không được lấn vua, phải bỏ ý riêng mà
chỉ theo luật.
c) Phái Trọng Pháp :
. . Pháp được hiểu là luật hay quy tắc. Pháp luật tức là một thứ tiêu chuẩn để
biết đâu là chính, đâu là tà, để khen đúng người phải, trách đúng kẻ quấy. Luật
pháp phải được trình bày rõ ràng và thông báo rộng rãi cho công chúng. Tất cả
thần dân của nhà cai trị đều bình đẳng trước pháp luật. Luật pháp phải thưởng

làm mờ tối mà trở nên ác. Ngược thuyết tính thiện là thuyết tính ác của Tuân Tử,
thầy Hàn Phi. Ba đặc điểm nữa của con người là hiếu lợi, đố kỵ, thích thanh sắc.
Tính của con người cũng bao gồm cái thôi thúc phải đáp ứng những nhu cầu vốn
6
có ấy và là nguyên nhân suy ra “tính người vốn ác”. Hàn Phi cho rằng trừ một số
ít thánh nhân, còn thì hạng thường nhân:
+ Tranh nhau vì lợi .
+ Làm biếng, khi có dư ăn rồi thì không muốn làm gì nữa.
+ Chỉ phục tòng quyền lực.
Vậy thì cơ hồ ông cho rằng con người có một số rất ít tính vốn thiện, còn
đại đa số tính vốn ác, ông thiên về Tuân, nhưng cũng nhận Mạnh có lí. Trong học
thuyết của mình, Hàn Phi không phủ nhận hoàn toàn khả năng giáo hóa của Nho
gia, vẫn dẫn ra nhiều nhà Nho có tư cách tốt, như Tăng Sâm, Sử Ngư, những
người bề trên không nghiêm trị mà vẫn có đức hạnh. Vì chỉ là thiểu số nhỏ bé
nên Hàn Phi xem dạng người đó như không tồn tại. Bỏ qua số cá nhân hiếm hoi,
con người từ trên xuống dưới là những kẻ đầy lòng ham muốn. Ai cũng có những
ưa ghét bẩm sinh và có động lực mạnh mẽ khi đối diện những nhu cầu tự nhiên
đó. Hàn Phi cho rằng các mối quan hệ như thầy lang - bệnh nhân, cha mẹ – con
cái, chủ ruộng - người làm công… đều vì một chữ lợi.
Khổng Tử chủ trương “trung thứ”, từ mình suy ra người, từ trong suy ra
ngoài. Cho nên có hiếu với cha mẹ mình mới trung tín được với người, con mình
không thương nỗi thì làm sao thương được người khác. Bởi vậy khẩu hiệu của đế
vương đời sau có câu “lấy hiếu để trị thiên hạ”. Quan hệ cha con đối với Nho Gia
quan trọng như vậy nên Đại Nho Tuân Tử dù lập thuyết tính ác cũng không dám
động đến. Chỉ có Hàn Phi là cực tả được ảnh hưởng của lợi ích cá nhân trong tình
phụ tử thiêng liêng đó. Ông thấy người ta “sanh con trai thì mừng, sanh con gái
thì giết. Trai gái đều trong lòng cha mẹ mà ra, mà con trai thì mừng, con gái thì
giết, là do nghĩ đến sau này, đứa nào có lợi lâu dài cho mình hơn”. Thoạt nghe
thật tàn nhẫn nhưng ngẫm ra cũng rất thực tế. Ngày nay, chuyện giết gái giữ trai
vẫn còn tồn tại, có điều dưới hình thức nạo phá thai, đỡ cắn rứt lương tâm hơn.

con’’. Mạnh tử nói ‘‘không cha, không vua, ấy là cầm thú’’. Khổng tử và Mạnh
tử suy nghĩ sự chính danh theo đạo đức, chú trọng mặt luân lý. ‘‘Danh’’ là tên
gọi để chỉ ‘‘thực’’ (sự vật), nhằm phân biệt giống và khác nhau. Đối với các mối
quan hệ trong xã hội, danh nhằm phân biệt sang hèn trên dưới. Khổng tử nói
chính danh là muốn làm cho danh ấy đúng với thực : vua đúng thực là vua, tôi
8
đúng thực là tôi Tuân tử kế thừa tinh thần truyền thống của Nho giáo : ‘‘Trước
là làm rõ sang hèn, sau là phân biệt giống và khác’’.
Trong ‘‘thuật’’ mà Pháp gia rao giảng có một cách thức mang tính triết học
khá nhiều, gọi là ‘‘tổng hợp danh xưng với thực tế và khảo sát chúng’’. Đó là lý
luận của các biện giả về chính danh và thực được ứng dụng vào nền chính trị
thực tế. Quản Trọng cho rằng danh xưng đúng với thực tế và pháp luật hoàn bị
thì người trị vì chẳng có việc gì phải bận lòng. Hàn Phi nói : ‘‘Khi dùng cách duy
trì sự thống nhất thì lấy danh xưng làm đầu. Danh xưng có đúng thì sự vật mới
xác định, hễ danh xưng lệch lạc thì sự vật đổi dời. Cho nên thánh nhân nắm sự
thống nhất và giữ yên tĩnh, khiến danh xưng tự ra lệnh, khiến sự vật tự xác định.
Kẻ dưới dù không thấy bóng dáng của chủ nhận cũng tỏ ra chất phát và chính
trực. Vua nhân đó mà dùng họ, khiến họ tự chọn việc ; nhân đó mà giao quyền
cho họ, để họ tự đề cử nhau. Nếu không biết danh xưng thì xem xét thực tế. Nếu
danh xưng và thực tế phù hợp nhau thì dùng kết quả của chúng. Hễ thực tế và
danh xưng trung thực với nhau thì kẻ ở dưới bộc lộ bản chất của họ. Vua nắm lấy
danh xưng, bầy tôi thực hiện theo danh xưng. Thực tế và danh xưng phù hợp
nhau, thì người trên kẻ dưới hòa điệu nhau’’ [3,445].
Khổng tử rao giảng chính danh vì muốn các hạng người trong xã hội đúng
với thực chất của họ. Pháp gia rao giảng chính danh, vì muốn nêu ra phương
pháp cho vua chế ngự thần dân. Chính danh của Pháp gia là nhằm xem xét sự
phù hợp giữa danh xưng và thực tế, để cho hễ có danh xưng ấy thì ắt phải có sự
thực ấy. Thí dụ như vua ban cho ai một chức vị, thì phải buộc người ấy chịu trách
nhiệm về hiệu quả công việc tức là khiến cho sự thực phải khớp với danh xưng
của nó. Như thế khi bầy tôi nhận lĩnh công việc thì đều tự nhiên cố gắng cho

vô tư, phải bỏ tư lợi tà tâm mà theo phép công thì nước mới thịnh được.
Hàn Phi cho rằng trừ một số ít siêu nhân, còn thì hầu hết loài người có
nhiều tật xấu tham lợi, tranh giành nhau, làm biếng, chỉ sợ sức mạnh nên không
mong gì họ làm điều thiện được, chỉ cầu sao họ biết sợ mà đừng làm điều ác thôi,
vậy phải dùng chính sách cưỡng chế chớ không cảm hóa được. Tính người là có
ưa có ghét - ưa tư lợi, ưa được khen, ghét bị cực khổ, bị hình phạt - cho nên có
thể dùng sự thưởng phạt để dắt dẫn dân, ngăn cấm họ. Chính sách cảm hóa của
đạo Nho đẹp nhất nhưng Hàn chê là không thực tế. Hàn Phi cho cách thưởng
phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia:
10
+ Thưởng thì phải “tín”, phạt thì phải “tất”. Nghĩa là hễ có công thì phải
được thưởng theo như luật định, trái lại không có tội thì dù là kẻ mình ghét cũng
không được trừng phạt; không có công mà thưởng thì là thi ân, mầm của loạn vì
dân sẽ không gắng sức làm việc nước để được thưởng mà tìm cách hối lộ quan
lại, quan lại sẽ thi ân cho dân để mua lòng dân, kéo họ về phe mình mà mưu tư
lợi. Ngay vua cũng không được thi ân cho dân, vì như vậy là trái phép, bất công,
vả lại dân sẽ trông vào sự thi ân mà biếng nhác công việc. Và kèm theo đó, khi
đã có tội thì phải phạt và phạt một cách cương quyết.
+ Thưởng thì phải trọng hậu, phạt thì phải nặng. Thưởng trọng hậu thì dân
mới thấy lợi mà ham: phạt nặng thì dân mới sợ mà tránh.Vậy dùng hình phạt
nặng thì dân mới sợ mà mau có kết quả, nước sẽ hết loạn, chỉ có lợi cho dân chứ
không làm thương tổn gì cho họ cả. Hơn nữa, còn là nhân từ đối với dân nữa, vì
nếu dùng hình phạt nhẹ, dân không sợ mà mắc tội, như vậy không khác gì bẫy
dân, còn dùng hình phạt nặng là tránh cho dân sa vào bẫy.
+ Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư. Nói tới thưởng
phạt, nhất là phạt Hàn Phi thường kèm theo với pháp luật. Vì pháp luật như cái
dây mực, cái thủy chuẩn, cái quy cái củ, cứ theo đó thì hành động không sai.
Tóm lại thưởng phạt không được vì tư tình, không được có tư ý, không được để
lộ vui buồn của mình ra nữa, mặt phải lạnh như tiền. Cứ theo đúng pháp luật mà
thưởng phạt, thì kẻ bị trừng phạt không oán bề trên, kẻ được thưởng cũng không

vua chúa cần phải có pháp độ hướng dân chúng vào khuôn khổ, dùng thế, dùng
uy quyền mà ban hành pháp luật và dùng thuật để kiểm soát bầy tôi dưới quyền .
Và Hàn Phi tin rằng theo chính sách độc tài về chính trị, tự do về kinh tế, thì nhà
vua chẳng cần làm gì, cứ ngồi ở trên kiểm soát kẻ dưới, là nước sẽ trị. Chủ
trương "vô vi nhi trị" đó thực trái hẳn chủ trương của Lão Tử, Trang Tử; chính ra
nó là một thứ cực hữu vi.
II. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
2.1.Những giá trị của tư tưởng triết học Pháp gia:
Chủ trương của Pháp gia đã hoàn toàn thành công thống nhất được Trung
Hoa, lập được chế độ quân chủ chuyên chế nhờ họ:
+ Không ngăn cản sự biến chuyển của giòng lịch sử mà còn thúc đẩy nó tiến
mau hơn.
12
+ Trọng thực tế, không bàn suông, chỉ nhắm kết quả ngắn hạn, tách rời chính
trị và đạo đức.
Phái Pháp gia đã làm sáng rõ vai trò quan trọng của pháp luật, về một số
mặt đã có cái nhìn tiến bộ hơn các học thuyết đương thời. Thực hiện công bằng
còn có nghĩa là mọi người, chẳng kể sang hèn, đều bình đẳng trước pháp luật.
Điểm này có tính cách tiến bộ, ngược lại với tính cách gia cấp của “lễ”.Cái học
của Hàn Phi nói riêng và của Pháp gia nói chung đã giúp Tần Thủy Hoàng hoàn
thành được công việc thống nhất Trung Quốc, lập chế độ quân chủ chuyên chế
thay chế độ phong kiến. Trong thời kỳ của Hàn Phi, các học thuyết của Khổng,
Mặc đã thất bại trong việc cứu vãn thời thế; Hàn Phi đã thành công nhờ dùng
trọn các thuyết của Pháp gia. Phái nhân trị quá lý tưởng trong thời loạn, phải hạ
lần lần lý tưởng của mình xuống: mới đầu Khổng Tử đề cao đức nhân, sau Mạnh
Tử hạ xuống mà trọng nghĩa, Tuân Tử hạ xuống nữa, trọng lễ mà chính môn sinh
của ông cũng không theo, họ trọng pháp, thấp nhất, và dẹp được loạn.
.Pháp gia coi trọng quyền lực của nhà lãnh đạo. Là một bước tiến lớn, trong
tư tưởng chính trị thời cổ Trung Hoa. Mục đích chính của quyền lực là để giúp
cho nhà lãnh đạo có đủ phương tiện, mưu cầu quốc gia phú cường. Tuy rằng

không phải là luôn luôn ngu si dốt nát, mà đại đa số là ngại sự thay đổi, muốn
được yên thân, không nghĩ xa; phải kiên nhẫn, khéo léo giảng cho dân hiểu, mà
khi dân đã vui vẻ theo đường lối của chính quyền rồi thì kết quả có thể sẽ mau
đấy nhưng không bền. Hàn Phi chê dân chúng chỉ thấy cái lợi trước mắt mà
không thấy cái lợi lâu dài, nhưng chính ông cũng mắc cái lỗi đó.
Pháp gia đã đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật với việc cai trị dựa vào
các hình phạt nghiêm khắc. Chúng ta tưởng tượng mỗi một xã hội mà từ trên
xuống dưới chỉ biết tuân pháp luật, không còn lòng thương, không còn chút tình
nghĩa gì nữa, và kẻ nào tỏ ra có chút tình người thì bị nghi ngờ ngay là vị lợi, và
bị phạt. Xét chung, các Pháp gia chỉ muốn công bằng mà không muốn có tình
thương, nhưng thiếu tình thương thì sao có thể công bằng được. Pháp gia đã quá
chú trọng đến biện pháp trừng phạt nặng nề, phủ nhận tình cảm đạo đức, thủ tiêu
văn hóa giáo dục, như vậy là đã đi ngược lại với xu thế phát triển của văn minh
nhân loại.
c) Tập trung quyền lực vào một cá nhân vua, xây dựng Pháp luật của vua, do vua,
vì vua
14
Pháp gia chủ trương rằng nhà cầm quyền nên thi hành pháp trị, nhưng nếu
gặp ông vua hôn ám như Kiệt, Trụ chẳng hạn thì không nghĩ ra cách nào ngăn
cản được, mà hạng sĩ giỏi pháp thuật có lòng như ông đành trốn qua nước khác
hoặc chịu chết; còn dân chúng thì Pháp gia lại càng không quan tâm tới, họ phải
ráng mà chịu. Pháp gia chỉ bày mưu thuật cho vua, chỉ tìm cách làm cho nước
giàu và mạnh, mà không xét đến nỗi đau khổ của dân, chỉ cho dân mỗi cái quyền
này: kẻ làm lợi cho nước thì được thưởng, thế thôi. Muốn được hưởng cái quyền
đó, dân và các quan lớn nhỏ tuyệt đối phải phục tùng vua.
d) Bỏ qua yếu tố tình người, lòng nhân ái, không đề cao đạo đức của con người
Hàn Phi nói riêng và Pháp gia nói chung xem động cơ hành động của con
người chỉ bao gồm lòng hiếu lợi và thói hiếu danh. Thực tế động lực của chúng ta
còn bao gồm nhiều thứ khác. Nếu trong xã hội tồn tại những tên bệnh hoạn giết
người hàng loạt mà không có động cơ, vui sướng trên sự đau đớn của đồng loại

2. GS Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Triết học Phương Đông, Nhà xuất bản
Từ Điển Bách Khoa, Năm 2006;
3. Phùng Hữu Lan, Lịch sử Triết học Trung Quốc – Tập 1: Thời Đại Tử
Học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Năm 2006;
4. TS Bùi Văn Mưa (Chủ biên), Triết Học – Phần I: Đại cương về lịch sử
Triết học, Tài liệu dùng cho Học viên cao học và nghiên cứu sinh, Lưu
hành nội bộ, Năm 2011;
5. Nguyễn Thị Kim Bình (Đại học Đà Nẵng), Tư tưởng trị nước của Pháp
gia và vai trò của nó trong lịch sử, Đăng trên Tạp chí Khoa học và Công
nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 3 (26), Năm 2008;
6. Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi, Hàn Phi Tử, Nhà xuất bản Văn Hóa, Năm
1994 ;
7. ;
8. ;
9. ;
10. />thuyet-phap-tri-cua-han-phi-tu-%E2%80%9Cxay-dung-nha-nuoc-
phap-quyen-can-phai-co-trang-thai-phap-tri-tot-va-nha-cam-quyen-
tri-tue%E2%80%9D.html ;
11. ;
12. ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status