TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Tên đề tài:
Tên đề tài:
GVHD:
GVHD:
TS. Bùi Văn Mưa
TS. Bùi Văn Mưa
HVTH:
HVTH:
Võ Ngọc Hoàng Giang (nhóm trưởng)
Võ Ngọc Hoàng Giang (nhóm trưởng)
Lớp:
Lớp:CHKT K21 – Đêm 5
CHKT K21 – Đêm 5
Nhóm:
Nhóm:04
04
STT:
STT:
40
2.2.5. Tính ác
7
II. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Pháp gia 7
1. Những giá trị của tư tưởng triết học Pháp gia 7
2. Những hạn chế của tư tưởng triết học Pháp gia 8
Kết luận 10
PHẦN MỞ ĐẦU
Trung Quốc cổ đại có một hệ thống triết học đồ sộ với hàng trăm học phái,
nổi bật là sáu học phái lớn : Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia,
Danh gia. Trong các học phái này, có thể nói Pháp gia nổi lên như là một học
phái mang tư tưởng khác biệt về phép trị nước so với các học phái khác, đó là
chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước. Chủ trương này đã phát huy tác
dụng như là một “liều thuốc đắng” cho “căn bệnh loạn lạc” thời bấy giờ. Chính sự
khác biệt trong tư tưởng và thành tựu mà Pháp gia đạt được là thống nhất được
Trung Quốc cổ đại đã tạo cảm hứng mạnh mẽ cho tôi khi tìm hiểu và viết về
Pháp gia.
Để hiểu một cách sâu sắc và có hệ thống về trường phái Pháp gia, những tài
liệu mà tôi tham khảo là những tài liệu chính thống, bao gồm: Từ điển Triết học
Trung Quốc (tác giả PGS.TS Doãn Chính), Lịch sử Triết học Phương Đông ( tác
giả GS Nguyễn Đăng Thục), Lịch sử Triết học Trung Quốc (Phùng Hữu Lan), –
(Chủ biên), Đại cương về lịch sử Triết học (tác giả TS Bùi Văn Mưa, Tài liệu
dùng cho Học viên cao học và nghiên cứu sinh); Hàn Phi Tử (tác giả Nguyễn
Hiến Lê & Giản Chi) và một số tài liệu khác.
Mục đích chính của tiểu luận này là tìm hiểu những tư tưởng nổi bật của
trường phái Pháp gia qua các đại diện tiêu biểu của trường phái này, trong đó
Hàn Phi được tách riêng để phân tích như là một đại diện xuất sắc, từ đó phân
tích được những giá trị và hạn chế của tư tưởng này.
I. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA
tưởng trị nước của Pháp gia. Trước hết Hàn Phi đề cao vai trò của pháp trị . Theo
ông, thời thế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thể viện dẫn theo
"đạo đức" của Nho gia, "kiêm ái" của Mặc gia, "vô vi nhi trị" của Đạo gia như
trước nữa mà cần phải dùng "pháp trị". Hàn Phi đưa ra quan điểm tiến hóa về lịch
sử, ông cho rằng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hoá và trong mỗi thời kỳ
Trang 2
lịch sử thì mỗi xã hội có những đặc điểm dấu ấn riêng. Do vậy, không có một
phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không có một thứ pháp luật luôn luôn
đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng ngàn năm. Từ đó, ông đã phát triển và
hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh và
thích ứng với thời đại lúc bấy giờ [8, 136].
2. Những tư tưởng cơ bản triết học Pháp gia
2.1. Những tư tưởng trước Hàn Phi
2.1.1. Phái trọng pháp
Pháp được hiểu là quy định, luật lệ có tính khuôn mẫu mà mọi người trong xã
hội phải tuân theo; là tiêu chuẩn khách quan để định rõ danh phận, trách nhiệm
của con người trong xã hội [1,73].
Thời đó, tầng lớp vua chúa và quan lại cho rằng hình luật càng được bảo vệ bí
mật càng co giá trị. Hình pháp chỉ để riêng cho quan lại biết mà thi hành và coi
đó là “nghề” của họ. Quản Trọng là người đầu tiên bàn về pháp như một cách cai
trị và cần phải công bố pháp luật rộng rãi. Tử Sản là người đầu tiên cho đúc hình
thư, nghĩa là cho đúc những cái đỉnh để ghi lại hình pháp. Dù Tử Sản chưa phải
chủ trương pháp trị, nhưng cũng đã làm cho pháp luật có tính cách khách quan
hơn trước, nhà cầm quyền không thể tự ý giải thích theo quyền lợi của mình nữa,
do đó ông cũng được đặt vào phái Pháp gia [7,145].
Đại diện tiêu biểu nhất của phái trọng pháp là Thương Ưởng, chủ trương của ông
là:
- Pháp luật phải rất nghiêm, ban bố khắp trong nước, và từ trên xuống dưới ai
cũng phải thi hành, không phân biệt giai cấp; pháp đã định rồi thì không ai được
bàn ra bàn vào nữa, không được "dùng lời khéo mà làm hại pháp", nghĩa là làm
thuật, cách thức, mưu lược điều khiển công việc và dùng người, khiến người triệt
để, tận tâm thực hiện pháp lệnh của vua mà không hiểu vua dùng họ như thế nào
[3,342].
Ngoài thuật dùng người, giám sát kiểm tra và thưởng phạt nghiêm minh, vua còn
phải sử dụng thuật ở trong lòng mình, gọi là tâm thuật. Vua luôn phải giấu kín
Trang 4
mọi sở thích, tâm ý của mình, không được tin ai, không cho mọi người biết mình
nghĩ gì, muốn gì, thì bề tôi sẽ không thể lợi dụng để dèm pha, tô vẽ, xu nịnh,
chiếm đoạt ngôi vua. [2,704].
Như vậy thuật khác với pháp ở ba điểm: một là, pháp là điều được công bố rộng
rãi cho dân chúng còn thuật là điều vua giấu kín trong lòng; hai là, pháp là cái
minh bạch rõ ràng còn thuật là cái mưu cơ, quyền biến; ba là, pháp là để trị dân
(bao gồm cả quan lại) còn thuật là cái vua dùng để trị quan lại, thông qua trị quan
lại mà trị dân [2,702].
2.2. Tư tưởng của Hàn Phi
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông
đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp pháp, thuật, thế để xây dựng và phát
triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương
thời.
2.2.1. Sự trọng yếu và tính chất của pháp luật
Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng trị nước bằng luật pháp. Ông hết sức coi trọng tác
dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh,
trong đó lấy pháp làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ pháp, thuật với thế.
Hàn Phi phê phán mạnh mẽ lý thuyết chính trị của Nho gia. Dưới con mắt của
ông, cách cai trị dựa trên nhân đức của nhà cầm quyền (dưới các tên gọi như
“nhân trị”, đức trị” hay “lễ trị) là trái với thực tế và nếu áp dụng quan niệm đó sẽ
làm loạn đất nước. Hàn Phi cho rằng pháp luật chính là quy củ, mực thước của
việc trị quốc. Có quy củ, mực thước rồi thì về sau một ông vua kế vị dù tầm
thường nhưng cứ noi theo quy, mực thước ấy thì cũng đủ làm cho nước thịnh trị.
Luật pháp đã ban ra thì phải thống nhất, dễ hiểu và ban bố rộng rãi, minh bạch
phận của mình thì vua không cần phải làm gì cả mà không việc gì không được
làm. Khi “Pháp đã lập mà không dùng, hình đã thiết mà không hành” [5,537],
pháp gia cho đó là giai đoạn vô vi nhi trị.
2.2.5. Tính ác
Pháp gia xem bản tính con người là ác. Hàn Phi cho rằng người trong thiên
hạ đều tự tư tự lợi, đều tính toán trục lợi để đối đãi nhau bởi bản tính con người
chỉ biết chạy theo điều lợi, tránh điều hại, cho nên chỉ có lợi và hại là có thể sai
khiến được họ.
Trang 6
Bởi con người có tính ác, cho nên phải lấy pháp luật để dẫn dắt họ và lấy
hình phạt để sữa chữa họ, có thế thì thiên hạ mới yên ổn. Nếu theo Khổng Tử và
Mạnh Tử, tức là lấy đạo đức để dẫn dắt họ và lấy lễ để uốn nắn họ thì không có
hiệu quả.
II. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
PHÁP GIA
1.1.Những giá trị của tư tưởng triết học Pháp gia
Không thể phủ nhận giá trị to lớn mà chủ trương dùng pháp luật để cai trị
đất nước, ổn định xã hội của Pháp gia đã đóng góp cho lịch sử phát triển nhân
loại. Ngày nay, chế độ quản lý đất nước dựa trên pháp luật được thiết lập trên
toàn thế giới và ở đâu cũng vậy, pháp luật được bảo vệ chủ yếu bằng hình pháp.
Pháp luật được đề xướng từ hơn 2000 năm trước bởi Pháp gia, nhưng có thể
nói tính chất của pháp luật thời bấy giờ đã bao gồm hầu như toàn bộ những đặc
điểm cần phải có của một hệ thống pháp luật được áp dụng ngày nay, như: được
chép thành văn; được công bố rộng rãi trong dân; được áp dụng thống nhất, công
bằng, không phân biệt vua tôi, sang hèn; có chế độ thưởng phạt để đảm bảo thi
hành luật pháp được công hiệu. Nếu kẻ phạm tội mà trốn được thì phải truy nã
cho tới cùng, quyết không để cho một tội nào đã phát giác mà thoát khỏi lưới
pháp luật.
Hàn Phi nói riêng và pháp gia nói chung có một quan niệm hết sức sâu sắc
về thực tiễn. Khác với Khổng, Mạnh mượn đời xưa để phê phán đời nay hay lấy
Quan niệm cho rằng bản tính con người là ác của phái Pháp gia mà nhất là Hàn
Phi cho thấy một cái nhìn quá cực đoan về con người. Vì vậy con người trong
học thuyết của ông luôn ở địa vị thấp hèn và bị phụ thuộc. Sự bình đẳng của con
người trước pháp luật chính là sự bình đẳng về thân phận người nô lệ dưới ngai
vàng của nhà vua.
Khi thực hiện đường lối pháp trị, Pháp gia đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp
luật với việc cai trị dựa vào các hình phạt nghiêm khắc, thậm chí dã man. Hình
phạt thì được áp dụng quá máy móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính linh
hoạt trong thực tế đời sống. Ví như một “hành động giết người”, nếu chỉ xử theo
một “điều luật giết người” mà không phân biệt trường hợp cố sát hay ngộ sát để
xét xử hợp tình hợp lý thì sẽ gây nên nhiều điều oan uổng, khiến cho pháp luật
không còn là một thước tấc tốt để điều chỉnh, uốn nắn các hành vi sai trái trong
Trang 8
xã hội. Thêm vào đó, một hành động tuy sai trái nhưng không quá nghiêm trọng
cũng bị áp dụng hình phạt quá nặng sẽ gây phẫn nộ trong dân chúng, làm dân oán
kẻ cầm quyền, đến khi hình phạt làm người ta không thể sinh tồn nổi thì dân phải
vùng lên để tìm đường sống, làm cho xã hội không ổn định.
Cuối cùng, Pháp gia chỉ xem trọng việc binh, nông, coi thường công thương. Dân
hữu dụng của Hàn Phi chỉ có nông gia, chiến sĩ. Số lượng người có học chỉ cần
đủ để làm quan, dân hiếu học là điềm mất nước. Chủ nghĩa thực dụng hẹp hòi đó
vì vậy không những không thể phát triển toàn diện con người mà còn kiềm hãm
khoa học phát triển.
KẾT LUẬN
Tư tưởng pháp trị đã hình thành khá sớm trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc
là người đặt nền móng đầu tiên là Quản Trọng. Nhưng nếu như Quản Trọng,
Thương Ưởng chỉ mới thấy cái quan trọng của phép tắc, tức là pháp, Thận Đáo
thì đề cao địa vị của người nắm giữ pháp luật, tức là thế; còn Thân Bất Hại thì
chú trọng đến cách thức mà nhà cầm quyền điều khiển bề tôi làm việc theo ý
mình, gọi là thuật; thì với Hàn Phi, bậc đế vương muốn trị nước và thống nhất
thiên hạ nhất thiết phải sử dụng cả thế, thuật và pháp. Ông đã phát triển và hoàn