hội liên hiệp phụ nữ tỉnh thái nguyên với cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (2008-2012) - Pdf 24



S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ KIM NHUNG HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN
VỚI CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(2008 – 2012)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Minh

Thái Nguyên - 2013 S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

i

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS
Nguyễn Xuân Minh đã tận tình hƣớng dẫn và động viên tinh thần cho tác giả
trong quá trình hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trƣờng

Tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung

XÁC NHẬN CỦA TRƢỞNG KHOA CHUYÊN MÔNS
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 4
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của đề tài 5
6. Cấu trúc đề tài 6
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN HỘI
LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN 7
1.1. Vài nét về tỉnh Thái Nguyên 7

chất lƣợng cán bộ Hội các cấp 68
3.2. Hạn chế 69
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 84 S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCĐ
Ban chỉ đạo
CP
Chính phủ
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NQ
Nghị quyết
LHPN
Liên hiệp Phụ nữ
TW
Trung ƣơng
UBND
Ủy ban nhân dân


Nhận thức đƣợc điều đó, Đảng và Nhà nƣớc ngày càng quan tâm phát
huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ để Hội thực sự là tổ chức đoàn kết các
tầng lớp phụ nữ, phát động và hƣớng dẫn các phong trào để năng lực của phụ
nữ đƣợc tăng cƣờng. Tuy nhiên, trƣớc yêu cầu của công cuộc công nghiệp S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

2
hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế, "tình hình phụ nữ và
công tác phụ nữ còn đặt ra với nhiều thách thức mới" [20, Tr.1]. Do vậy,
nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình tổ
chức và hoạt động của Hội sẽ làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng, qua đó
rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần hoàn thiện chủ trƣơng,
chính sách của Đảng.
Thái Nguyên là tỉnh miền núi, trung du Bắc Bộ, có nhiều tộc ngƣời sinh
sống. Trong bất cứ thời kì lịch sử nào, phụ nữ Thái Nguyên cũng có những
đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tỉnh. Thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ƣơng khoá X về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn mà cốt lõi là xây dựng nông thôn mới, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh
Thái Nguyên đã đạt đƣợc nhiều kết quả quan trọng trong quá trình tổ chức vận
động phụ nữ "chung sức xây dựng nông thôn mới". Nhƣng ở Thái Nguyên
"bạo lực gia đình có nhiều diễn biến phức tạp, nhận thức về bình đẳng giới
còn hạn chế do trình độ dân trí không đồng đều, đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số" [10,
Tr.1].
Vì vậy, tìm hiểu việc tổ chức thực hiện phong trào xây dựng nông thôn
mới của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 2008 đến năm 2012 nhằm tổng kết
thực tiễn, chỉ ra những ƣu điểm và hạn chế, đúc rút kinh nghiệm; khẳng định,

nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ; làm rõ sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác vận động phụ nữ,từ đó rút ra
những kinh nghiệm phục vụ thực tiễn.
Trong Luận văn thạc sĩ "Tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010" (2011), tác giả Đoàn Thị Yến
đã trình bày quá trình xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1997
đến năm 2010. S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4
Năm 2002, BCH Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên cho phát hành
cuốn Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Thái Nguyên (1930 - 2000)" . Các tác giả
trình bày khái quát về lịch sử phát triển phong trào phụ nữ tỉnh từ năm 1930
đến năm 2000. Tổ chức và hoạt động của Hội cũng đƣợc đề cập tƣơng đối có
hệ thống.
Ngoài những công trình khoa học nêu trên, còn có nhiều cuộc hội thảo
khoa học và các hoạt động liên quan đến đề tài Luận văn. Đáng chú ý là, ngày
29/3/2012, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Gia Lâm (Thành phố Hà Nội) phối
hợp với Phòng Kinh tế huyện tổ chức Hội thảo khoa học: " Vai trò phụ nữ
trong Chương trình xây dựng nông thôn mới". Hội thảo làm rõ những khó
khăn, thuận lợi trong việc phát huy vai trò của cán bộ, hội viên khi tham gia
chƣơng trình xây dựng nông thôn mới; những cách làm hay và kết quả bƣớc
đầu trong thực hiện chƣơng xây dựng nông thôn mới.
Ngày 6/7/2012, tại Thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), Văn
phòng điều phối Trung ƣơng Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới phối hợp với tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo về chƣơng trình

- Các văn kiện của Đảng, các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
- Các báo cáo tổng kết, sơ kết của Tỉnh Hội Phụ nữ Thái Nguyên.
- Các sách và bài báo khoa học có liên quan đến đề tài.
- Tài liệu khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phƣơng pháp luận sử
học Mác – Lênin; sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp với phƣơng pháp
logic là chủ yếu. Ngoài ra, các phƣơng pháp so sánh, thống kê cũng đƣợc vận
dụng trong Luận văn.
5. Đóng góp của đề tài S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

6
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Thái Nguyên trong phong trào xây dựng nông thôn mới.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần tổng kết và khẳng định tính
đúng đắn, sáng tạo trong công tác lãnh đạo của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh nói
riêng và hệ thống chính trị của tỉnh nói chung. Từ đó rút ra một số kinh
nghiệm có thể tham khảo vận dụng trong những năm tiếp theo.
- Luận văn có thể làm tài liệu giáo dục truyền thống cho các thế hệ phụ
nữ tỉnh Thái Nguyên.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chƣơng nội dung:
Chƣơng 1: Khái quát lịch sử ra đời và phát triển Hội Liên hiệp Phụ nữ
tỉnh Thái Nguyên

Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên). Toàn tỉnh có 180 xã, phƣờng, thị trấn, trong đó có
125 xã vùng cao và miền núi. Trong các xã vùng cao và miền núi, có 42 xã
thuộc diện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và các xã An toàn khu đƣợc
hƣởng Chƣơng trình 135/CP của Chính phủ.
Địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi. Diện tích đồi núi cao trên
100m chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh. Vùng có độ cao dƣới 100m chiếm 1/3
diện tích. Đất nông nghiệp chiếm 21,6% và đất đồi rừng chiếm 47,1%
tổng diện tích.
Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mƣa từ tháng 5 đến
tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau. Lƣợng mƣa trung bình
hằng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào
tháng 1. Mùa mƣa thƣờng có bão, lũ, sâu bệnh ảnh hƣởng xấu đến phát triển
nông, lâm nghiệp. S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

8
Thái Nguyên có nhiều sông, suối phân bố tƣơng đối đều trên địa bàn
tỉnh, trong đó lớn nhất là sông Cầu và sông Công. Sông Cầu bắt nguồn từ
huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy xuống địa bàn Thái Nguyên qua các huyện
Phú Lƣơng, Võ Nhai, Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình và Phổ
Yên, tạo nên trục đối xứng về cả lãnh thổ và hƣớng dốc của tỉnh. Dƣới thời
Pháp thuộc, sông Cầu là tuyến giao thông chủ yếu và quan trọng để địch vận
chuyển lực lƣợng, vũ khí, lƣơng thực và phƣơng tiện chiến tranh từ phía Nam
lên phía Bắc tỉnh. Sông Công bắt nguồn từ xã Điềm Mặc (Định Hoá) chảy
theo hƣớng bắc nam qua huyện Đại Từ, một phần thành phố Thái Nguyên
xuống huyện Phổ Yên, hợp lƣu với sông Cầu ở xã Thuận Thành (Phổ Yên).
Trên sông Công có hồ Núi Cốc, hằng năm cung cấp nƣớc cho trên 12.000 ha

công trình thuỷ lợi hồ Gò Miếu đảm bảo cho 850 ha canh tác thuộc các xã Cát
Nê, Ký Phú, Vạn Thọ và Văn Yên (huyện Đại Từ) cùng với hơn 2000 hồ chứa
nƣớc lớn nhỏ, hằng trăm trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh Thái Nguyên. Trong
những năm gần đây, tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp ngày càng tăng, việc sử
dụng máy móc thay thế lao động chân tay cũng khá phổ biến, nhƣ: máy làm
đất nhỏ, máy vận chuyển, máy xay xát, máy bơm điện, máy sao chè cải tiến,
máy tẽ ngô Đặc biệt, Thái Nguyên còn đẩy mạnh hoạt động khuyến công
hƣớng về nông thôn nhằm ứng dụng máy móc thiết bị hiện đại trong sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn góp phần nâng cao
năng suất, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm. Đây là một trong những hoạt động
hết sức quan trọng và cần thiết để tỉnh Thái Nguyên thực hiện Chƣơng trình
xây dựng nông thôn mới.
Từ năm 1997, tỉnh Thái Nguyên thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và giành đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Sản xuất nông nghiệp
của tỉnh vẫn duy trì tốc độ tăng trƣởng bền vững, từng bƣớc tạo ra đƣợc vùng
sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến và tiêu S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

10
thụ sản phẩm, nhƣ chuyên canh sản xuất lƣơng thực, vùng cây chè chất lƣợng
cao, vùng cây ăn quả, rừng nguyên liệu. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp diễn ra trên nhiều lĩnh vực giữa trồng trọt và chăn nuôi, chuyển dịch
mùa vụ, chuyển đổi cây trồng, chuyển đổi giống vật nuôi, chuyển sử dụng đất
có hiệu quả, khoa học kĩ thuật đƣợc ứng dụng một cách mạnh mẽ góp phần
tăng giá trị sản phẩm của ngành.
Là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp, trong những

động dồi dào, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Trên địa
bàn tỉnh có 34 thành phần dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó 8 thành
phần dân tộc số dân trên 1000 ngƣời (Kinh, Tày, Sán Dìu, Dao). Tộc ngƣời
Kinh chiếm số lƣợng đông nhất, gồm nhiều bộ phận hợp thành: ngƣời dân bản
địa và một bộ phận di cƣ từ vùng đồng bằng lên (nhiều nhất là trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954). Địa bàn cƣ trú của ngƣời Kinh rộng
khắp, từ vùng núi trung du phía Nam đến các vùng hẻo lánh phía Bắc tỉnh,
trong đó tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên và các huyện, thị phía
Nam. Tộc ngƣời Tày có số dân đông thứ hai sau ngƣời Kinh, chiếm khoảng
10,69% dân số của tỉnh, tiếp đó là tộc ngƣời Nùng chiếm 5,13% dân số. Đồng
bào dân tộc thiểu số sống tập trung đông ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng
xa. Có nhiều xóm tỉ lệ ngƣời dân tộc thiểu số chiếm từ 60% đến 90%. Đây là
những vùng có vị trí chiến lƣợc đặc biệt về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc
phòng, môi trƣờng sinh thái, có tiềm năng về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện,
khoáng sản, du lịch và là vùng căn cứ cách mạng. Tuy nhiên, đây là vùng kinh
tế phát triển còn chậm, khoảng cách chênh lệch khá lớn so với vùng miền
khác, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, tỉ lệ hộ nghèo và cận
nghèo còn cao, trình độ dân trí thấp, chịu những tƣ tƣởng tập quán lạc hậu
(làm chuồng gia súc dƣới gầm nhà sàn, tảo hôn, đẻ nhiều con ). Điều này ảnh S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

12
hƣởng không tốt đến phong trào của phụ nữ ở địa phƣơng, nhất là hoạt động
tuyên truyền vận động.
Hằng ngàn năm nay, phụ nữ các dân tộc trong tỉnh Thái Nguyên dù trên
danh nghĩa không phải là trụ cột gia đình nhƣng là ngƣời phải đảm nhận
phần lớn công việc gia đình, từ việc lao động nặng nhọc đến việc nội trợ,

đuổi, bắt cóc. Từ khi nạn cướp đoạt phụ nữ đem bán thì thực hiếm thấy một
người Mán (Dao) có vợ. Phải chăng đối với họ, phụ nữ chỉ là thứ xa hoa"[6,
Tr.9].

1.2 Khái quát quá trình ra đời và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ
nữ tỉnh Thái Nguyên
Khi thực dân Pháp đặt ách nô dịch lên Việt Nam (1884), nhân dân Việt
Nam bị đẩy vào vòng nô lệ. Đánh chiếm Thái Nguyên vào năm 1884, thực
dân Pháp bắt đầu bóc lột nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thái Nguyên. Hậu
quả của những chính sách đó làm cho đời sống của nhân dân, đặc biệt là
ngƣời phụ nữ vô cùng cực khổ khi mà ruộng đất bị thực dân Pháp cƣớp để lập
đồn điền. " Từ năm 1887 đến ngày 28/1/1937, thực dân Pháp đã cướp của
nông dân Thái Nguyên 44.725 ha ruộng. Hàng vạn nông dân mất ruộng đất bị
phá sản, rơi vào tình cảnh khốn cùng hoặc phải làm tá điền cho chúng, hoặc
rời bỏ quê hương đi làm cu li trong các hầm mỏ Chỉ tính 8 đồn điền lớn ở 5
huyện (Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hoá) năm 1911 có 1852
hộ nông dân, gồm 3310 lao động, trong đó có 1.590 là phụ nữ tá điền. Đến
năm 1924, chỉ riêng hai huyện Phú Bình và Phổ Yên số tá điền đã lên gần
30.000 trong đó hơn 50% là phụ nữ"[6, Tr.11]. Dƣới chế độ thực dân phong
kiến "không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo
ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp
phải những hành động tàn nhẫn của bọn cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên
nhà đoan, nhà ga"[19, Tr.43]. S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

14
Không còn con đƣờng nào khác, nhân dân, trong đó có đông đảo phụ nữ

phụ nữ mới có điều kiện phát huy hết tài năng và đức hạnh của mình, góp
phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nƣớc.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời .Đảng sớm nhận rõ, phụ
nữ là lực lƣợng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: phải giải phóng
phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Đảng chủ trƣơng phụ
nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (Công hội, Nông hội) và thành lập
tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Qua từng thời kì cách mạng, có các tổ chức phụ nữ: Hội Phụ nữ giải phóng
(1930 – 1931), Hội Phụ nữ dân chủ (1936 – 1939), Hội Phụ nữ phản đế (1939
– 1941), Đoàn Phụ nữ Cứu quốc (6 – 1941), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
(20 – 10 – 1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (6 – 1976). Điều này thể
hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách
mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Trƣớc Cách mạng tháng Tám 1945, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, trực tiếp là các tổ chức cơ sở Đảng trong tỉnh, phụ nữ Thái Nguyên
đã phát huy truyền thống yêu nƣớc và cách mạng của quê hƣơng, tích cực
tham gia các phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật. Cuối năm 1941, đế quốc Pháp
tập trung lực lƣợng đánh phá phong trào cách mạng Võ Nhai - một trong hai
trung tâm căn cứ địa cách mạng của cả nƣớc ở vùng Việt Bắc. Chính trong
điều kiện bị địch khủng bố ác liệt đó, tổ phụ nữ Cứu quốc ở Võ Nhai đã bí
mật ra đời, tuyên truyền, vận động chị em tham gia cách mạng. Từ cuối năm
1944, hàng trăm phụ nữ thuộc đủ các thành phần giai cấp, tôn giáo, dân tộc
trong tỉnh đã hăng hái tham gia các Hội Cứu quốc, tự vệ chiến đấu, góp phần
cùng lực lƣợng vũ trang địa phƣơng trong tỉnh và Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nƣớc, ngay sau ngày Nhật
đảo chính Pháp (9/3/1945). Các cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra sôi nổi, S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

17
chống thực dân Pháp, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
(7/5/1954) và Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954).
Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mĩ, cứu nƣớc, việc nƣớc, việc
nhà đặt lên hai vai ngƣời phụ nữ. Phong trào "Ba đảm đang" do Trung ƣơng
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động (tháng 3 - 1965) đã lôi cuốn gần 10
vạn chị em phụ nữ Thái Nguyên tích cực và sôi nổi tham gia. Qua phong trào
"Ba đảm đang", phụ nữ Thái Nguyên đã khẳng định vị trí quan trọng, khả
năng to lớn của mình trong sự nghiệp chống Mĩ, cứu nƣớc. Trên mặt trận sản
xuất nông nghiệp, phụ nữ Thái Nguyên đã phát huy tinh thần cần cù, tích cực,
ngày đêm bám đồng, bám ruộng, "chắc tay cày, tay súng", giành nhiều thắng
lợi. Trên mặt trận chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mĩ đã có gần hai vạn chị em tham gia dân quân, tự vệ, dân phòng,
sát cánh cùng bộ đội làm trận địa cứu thƣơng, tải đạn, tuần tra, canh gác, giữ
gìn trật tự trị an. Nhiều chị đã trực tiếp cầm súng chiến đấu với máy bay Mĩ
trên các trận địa phòng không. Hàng trăm chị đã gia nhập Đội 91 thanh niên
xung phong chống Mĩ, cứu nƣớc, làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải
trên các địa bàn trọng yếu thƣờng bị máy bay địch ném bom, bắn phá.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy truyền thống
"Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang", phụ nữ Thái Nguyên đẩy mạnh
các phong trào "Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", "Nuôi con
khoẻ, dạy con ngoan", "Xoá đói giảm nghèo", "Phụ nữ giúp nhau phát triển
kinh tế gia đình" đã giành đƣợc nhiều thành tựu đáng kể.
Đáp ứng nguyện vọng của đồng bào các dân tộc Bắc Thái và phù hợp với
xu thế chung, tháng 11/1996, tại kì họp thứ X, Quốc hội Khoá IX nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết tách tỉnh Bắc Thái thành hai
tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên.


nam - nữ; xây dựng người phụ nữ Thái Nguyên yêu nước, có tri thức, năng

Trích đoạn Về hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn Về hoạt động xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh Về hoạt động xây dựng và tổ chức Hội, chú trọng đào tạo, nâng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status