BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ MAI HOAN
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
TỈNH THANH HÓA TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO PHỤ NỮ NGHÈO HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ MAI HOAN
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
TỈNH THANH HÓA TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO PHỤ NỮ NGHÈO HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................................................2
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................................
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................................
6. Đóng góp mới của đề tài..........................................................................................................
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO PHỤ NỮ NGHÈO HIỆN NAY...................................................................................................13
1.1. Một số khái niệm cơ bản......................................................................................................
1.2. Vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ trong giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo hiện nay......
Kết luận chương 1........................................................................................................................
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH THANH HÓA TRONG GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO PHỤ NỮ NGHÈO HIỆN NAY...........................................................................................46
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc làm của phụ nữ nghèo ở tỉnh
Thanh Hóa.........................................................................................................................
2.2. Vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa trong giải quyết việc làm cho phụ nữ
nghèo những năm gần đây................................................................................................
Kết luận chương 2........................................................................................................................
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH
THANH HÓA TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO PHỤ NỮ NGHÈO GIAI ĐOẠN TỚI..............................82
3.1. Phương hướng chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa
trong giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo giai đoạn 2015 - 2020 và những năm tiếp
theo...................................................................................................................................
3.2. Những giải pháp phát huy vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa trong giải
quyết việc làm cho phụ nữ nghèo thời gian tới.................................................................
Kết luận chương 3......................................................................................................................
KẾT LUẬN............................................................................................................................................109
Bình đẳng giới
Ban Thường vụ
Câu lạc bộ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa xã hội
Chăm sóc sức khoẻ
Đoàn chủ tịch
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã
Kế hoạch hóa gia đình
Khoa học kỹ thuật
Liên hiệp Phụ nữ
Phổ thông trung học
Sức khoẻ sinh sản
Tư bản chủ nghĩa
Tài chính vi mô
Tệ nạn xã hội
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề quan trọng đối
với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và có
lực lượng lao động lớn như ở Việt Nam. Hiện nay, ở nước ta, vấn đề tạo việc
làm và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, cho phụ nữ nghèo nói
riêng là vấn đề vừa lâu dài, vừa cấp bách, không chỉ có ý nghĩa về kinh tế rất
Bên cạnh đó, giải quyết việc làm cho lao động nữ, đặc biệt đối với phụ nữ
nghèo cũng còn nhiều khó khăn, bất cập. Những bất cập đó không chỉ xuất phát
từ những hạn chế của chính nông nghiệp - nông thôn, của chính bản thân phụ nữ
nghèo…mà còn phát sinh từ những thành công, những kỳ vọng đúng đắn hiện
nay của đất nước, của chế độ xã hội, của văn minh nhân loại. Công tác dạy nghề
và giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo mặc dù đã được các cấp, các ngành
quan tâm giải quyết nhưng chưa đáp ứng nhu cầu học nghề của phụ nữ nghèo,
cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng dạy nghề còn thấp, việc
lồng ghép giới trong các hoạt động chương trình, dự án còn hạn chế, do vậy phụ
nữ nghèo chưa thực sự được bình đẳng trong lĩnh vực đào tạo nghề và hỗ trợ
việc làm, dẫn đến chất lượng lao động nữ ở nước ta chưa cao, trình độ tay nghề
còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu
của thị trường trong nước và xuất khẩu lao động nước ngoài.
Chính vì vậy, quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo
luôn là vấn đề mang tính cấp bách đối với cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa
nói riêng. Đã có nhiều công trình ở trong và ngoài nước nghiên cứu về phụ nữ
nghèo nói chung và giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo nói riêng. Các công
trình đó đã góp phần phân tích và tổng hợp những vấn đề chung phụ nữ nghèo
và giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo dưới nhiều góc độ và địa phương khác
nhau. Tuy nhiên, ở góc độ một tỉnh, đặc biệt là tỉnh còn có nhiều vùng núi, dân
tộc thiểu số như Thanh Hóa thì việc nghiên cứu về vấn đề này còn chưa được hệ
thống cả về mặt lý luận và thực tiễn.
8
Thanh Hóa với diện tích tự nhiên 11.160,34 km2, dân số đến năm 2014
trên 3,4 triệu người, trong đó tỷ lệ nữ chiếm 51%. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm
14,85%, trong đó hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ là 12,35%. Thu nhập bình
quân đầu người ước đạt 810 USD (tháng 6/2014), kinh tế phát triển không đồng
đều giữa các vùng miền, chất lượng lao động thấp, hầu hết là lao động phổ
Minh, 2010. Luận văn đã hệ thống được những vấn đề lý luận về giải quyết việc
làm cho lao động nữ ở nông thôn, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho
lao động nữ ở nông thôn tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây, từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác này. Tuy
nhiên, luận văn còn chưa đề cập đến vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ một cách
cụ thể và rõ ràng.
- PGS, TS Phan Thanh Khôi, PGS, TS Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên):
“Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
2007. Công trình này đã trang bị những kiến thức cơ bản về giới như: vấn đề
giới trong kinh điển Mác xít; vấn đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trong thông tin đại chúng, vấn đề
giới trong sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
- Khóa luận tốt nghiệp đại học của Trần Thị Luyến: “Vai trò của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Nam Định trong việc thực hiện giải quyết việc làm cho phụ nữ
nghèo”. Khóa luận đã làm rõ vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Nam Định
trong việc thực hiện giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo ở tỉnh Nam Định.
* Nhóm công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến thực tiễn tại
Thanh Hóa
Tác giả Lê Văn Dũng “Việc làm cho người lao động nông thôn tỉnh
Thanh Hóa” - LVTh.S - 2008.Văn kiện Đại Hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần
thứ XVI, XVII. Văn kiện Đại hội phụ nữ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV, XVI. Báo
cáo giữa kỳ thực hiện Kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Thanh
Hóa (2010 - 2015).
- Kế hoạch thực hiện Đề án: Hỗ trợ Phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai
đoạn 2010 - 2015 tỉnh Thanh Hóa. Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa: Báo
11
cáo kết quả thực hiện công tác nâng cao đời sống hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
hộ tại Thanh Hóa 2010 - 2014. Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa: Báo cáo
- Về phạm vi: Đề tài nghiên cứu vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh
Thanh Hóa trong giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo hiện nay.
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2010 - 2015; đề xuất
các giải pháp giai đoạn 2015 - 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận chung, đề tài còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp lôgíc - lịch sử
- Phương pháp so sánh, thống kê
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần tạo cơ sở cho việc định hướng và một nhân tố quan trọng
để ổn định, phát triển hài hoà kinh tế - xã hội nhằm phát huy vai trò của tổ chức
Hội Liên Hiệp Phụ nữ trong chỉ đạo thực hiện công tác giải quyết việc làm cho
phụ nữ nghèo ở tỉnh Thanh Hóa và các địa phương có hoàn cảnh tương tự.
Đề tài có thể làm tài liệu tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia giải
quyết việc làm cho phụ nữ nghèo.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO PHỤ NỮ NGHÈO HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm Hội Liên Hiệp Phụ nữ
Sự phát triển của đất nước, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam quang vinh, Hội LHPN Việt Nam đã trưởng thành và phát triển.
Hội đã trở thành một tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh với hệ thống gồm
bốn cấp, từ Trung ương đến cơ sở, với sự tham gia đông đảo của hội viên và
- Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng
Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động hỗ trợ
phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ;
- Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát
việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình
và trẻ em;
- Xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ
trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.
1.1.2. Khái niệm vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ
Tư tưởng coi nam giới là “trụ cột” còn phụ nữ luôn gắn với vai trò nội trợ,
chăm sóc gia đình đã gây ra cách nhìn lệch lạc về vai trò của mỗi giới dẫn đến
thiếu sự chia sẻ, trách nhiệm giữa nam giới và phụ nữ trong công việc gia đình
và tham gia các hoạt động xã hội. Tư tưởng này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự
15
đóng góp vào việc phát triển kinh tế, cũng như sự tham gia của phụ nữ vào các
công việc xã hội, làm hạn chế khả năng của người phụ nữ nói chung và phụ nữ
nghèo nói riêng.
Hội LHPN là một trong những chủ thể quan trọng trong việc thực hiện
chính sách xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, Hội LHPN đã phối hợp với nhiều tổ
chức khác nhau để hỗ trợ cho các hội viên có điều kiện để phát triển kinh tế.
Hoạt động hỗ trợ vốn của Hội LHPN được triển khai từ khi thành lập Hội (ngày
20/10/1930). Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế do Hội LHPN Việt Nam
phát động đã thu hút được nhiều hội viên tham gia, gia tăng số hội viên ở các cơ
sở, nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội.
Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Đại diện cho phụ nữ, Hội LHPN Việt Nam
đã phát huy bản chất tốt đẹp và khả năng to lớn của hàng chục triệu phụ nữ.
Phong trào phụ nữ dưới sự dẫn dắt của các cấp Hội đã thật sự khởi sắc, chuyển
biến rõ nét, hoạt động có trọng tâm, trọng điểm, ngày càng đi vào chiều sâu,
từng bước bắt nhịp với sự phát triển của đất nước.
1.1.3. Khái niệm việc làm và thiếu việc làm
- Khái niệm việc làm
Quan niệm về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của
một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là
định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm về việc làm cũng
biến đổi. Trong lịch sử cho thấy việc thay đổi những quan điểm về tương lai trực
tiếp ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm.
Có quan niệm cho rằng, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại thu nhập
để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều được gọi là việc làm. Quan điểm này
đã không mang đến tính pháp lý của việc làm, đã đồng nhất việc làm hợp pháp
và việc làm không hợp pháp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay
không thể chấp nhận được quan niệm này, bởi khi các quan hệ thị trường ngày
càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, nhiều nguồn thu nhập không
17
chính đáng đang làm gia tăng tệ nạn xã hội, kìm hãm sự tăng trưởng, phát triển
của nền kinh tế đất nước.
Quan niệm thứ ba lại cho rằng: Việc làm có thể định nghĩa như một tình
trạng trong đó có sự trả công bằng tiền bạc hoặc hiện vật, do đó có một sự tham
gia tích cực có tính cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.
So với hai quan niệm trên quan niệm này phát triển hơn, khái quát hơn.
Tuy nhiên, nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật
mới được coi là việc làm thì chưa thỏa đáng. Những người nằm trong lực lượng
là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Quan niệm trên về việc làm là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã
hội ở Việt Nam hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
người lao động có thể làm bất cứ việc gì, bất cứ ở đâu, miễn là không vi phạm
pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân. Quan niệm
trên đã mở ra một hướng mới cho giải quyết việc làm, mở ra một thị trường việc
làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải
phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội.
Qua phân tích ở trên, chúng ta thấy đặc trưng chung của việc làm là:
Về mặt pháp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của pháp
luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm.
Về mặt kinh tế: nó phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động như thu
nhập, bình đẳng, tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Về chính trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo
của giai cấp cầm quyền.
Về mặt xã hội: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo đức,
phong tục tập quán, công bằng xã hội.
Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi
phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho
giải quyết việc làm.
19
- Quan niệm về thiếu việc làm
Người thiếu việc làm bao gồm những người có việc làm mà trong thời
gian tham chiếu (7 ngày trước thời điểm điều tra) thoả mãn cả 3 tiêu chuẩn sau
đây:
Thứ nhất, mong muốn làm việc thêm giờ, nghĩa là:
- Muốn làm thêm một (số) công việc để tăng thêm giờ;
cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống, như đảm
bảo mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế, giáo dục.
Như vậy, cách tiếp cận này thông qua các nhu cầu cơ bản để nhận diện,
nghèo đói, cách tiếp cận này là tương đối thống nhất và được sử dụng rộng rãi ở
nhiều quốc gia, khu vực.
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ là một
thực tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại phổ biến trong khu vực và
trên toàn thế giới. Ngay cả những nước phát triển cao vẫn còn một bộ phận dân
cư sống ở mức nghèo khổ. Phát biểu tại Diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm
nghèo bền vững”, Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai ngoài
việc điểm lại những thành tích, nỗ lực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng
như bình đẳng giới cũng đã cho rằng: “Phụ nữ thường phải gánh chịu ảnh hưởng
của nghèo đói nhiều hơn nam giới và chính họ là những người nghèo nhất trong
số những người nghèo" (Ngày 02/6/2008, Diễn đàn Bình đẳng giới và Giảm
nghèo bền vững tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Và đặc biệt
trong nhóm nghèo đó phụ nữ lại chính là những người chiếm đa số 70% trong số
1,3 tỷ người nghèo trên thế giới là phụ nữ. (Trích trong bài báo: “Khi người
21
nghèo là phụ nữ, của báo Phụ nữ Đà Nẵng, ra ngày Thứ sáu, 02 - 12 - 2011).
Theo các nhà nghiên cứu xã hội thì phụ nữ thường phải gánh chịu những ảnh
hưởng của nghèo đói nhiều hơn so với nam giới, và dường như hình ảnh phụ nữ
đa phần được gắn liền với nghèo đói bởi đa phần những thế hệ phụ nữ nông thôn
đều có cùng một điểm chung: ít học, lấy chồng sớm, đẻ nhều, sức khỏe kém,
công việc bấp bênh, thu nhập thấp, không có tiếng nói trong gia đình và xã hội.
Phụ nữ nghèo thường ít được đến trường học hơn so với nam giới, cho
nên trình độ học vấn của họ thấp, họ không biết là mình có thể làm được việc
gì khác ngoài nông nghiệp. Vì vậy mà những người phụ nữ nghèo thường chủ
yếu là những người có trình độ học vấn thấp, ít được học hành và không có
trong giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo
1.1.5.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
về giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết việc làm cho phụ
nữ nghèo
Trước khi Chủ nghĩa Mác ra đời, vấn đề giải phóng phụ nữ và tạo việc
làm cho phụ nữ đã được nhiều nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu. Bởi lẽ phụ nữ
không chỉ có vai trò làm vợ, làm mẹ trong gia đình mà họ còn là người lao động,
người công dân trong xã hội. Họ không chỉ là người thực hiện chức năng tái sản
xuất ra con người, mà còn là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, tinh
thần cho xã hội, là một lực lượng quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của
xã hội. Tuy nhiên, dưới chế độ tư hữu luôn tồn tại một nghịch lý là người phụ nữ
dù có vai trò to lớn nhưng trên thực tế lại có địa vị thấp hèn không chỉ trong gia
đình và cả ngoài xã hội. Phụ nữ luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị
bóc lột thậm tệ, bị tha hóa. Các hình thức bất bình đẳng tuy có thay đổi qua từng
thời kỳ lịch sử nhưng bản chất của nó thì không hề thay đổi.
Một trong những quan điểm phi lý đã từng ngự trị trong lịch sử xã hội loài
người là: kể từ khi có xã hội, đàn bà đã là nô lệ của đàn ông. Để bảo vệ chế độ
thống trị, các nhà tư tưởng của giai cấp bóc lột đã biện hộ rằng do giá trị “không
23
đầy đủ” [37, tr.15] của người phụ nữ nên sự lệ thuộc của họ vào người đàn ông
là lẽ tất nhiên. Trái với quan điểm này, các nhà tư tưởng tiến bộ, đặc biệt là các
nhà tư tưởng XHCN trước Mác đã kịch liệt phê phán sự phân chia xã hội thành
các đẳng cấp khác nhau, sự xô đẩy người phụ nữ tới tận cùng của áp bức. Tômát-Mo-rơ nhà XHCN không tưởng nổi tiếng ở Anh thế kỷ XVI đã có cái nhìn
nhân đạo và tiến bộ với phụ nữ, ông là người đầu tiên trong lịch sử thế giới cận
đại chủ trương thực hiện nam - nữ bình đẳng, tự do kết hôn. Hôn nhân dựa trên
tình yêu, nam - nữ đều được hưởng một nền giáo dục chung.
Phuriê - đại biểu xuất sắc nhất của XHCN không tưởng ở Pháp đầu thế kỷ
quy luật phát triển của xã hội tư bản để từ đó phát hiện ra con đường giải phóng
con người nói chung và giải phóng giai cấp công nhân nói riêng. Lý luận ấy
không chỉ thấm đượm bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn vượt lên tầm
cao mà trước đó tư tưởng của nhân loại chưa thể vươn tới. Đó là quan điểm duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử coi con người là con người thực tiễn, chủ thể duy
nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới. C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra
rằng: trong xã hội có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp
bức giai cấp và của sự bất bình đẳng trong gia đình và xã hội.
Ở thời tiền sử, do lực lượng sản xuất còn thấp kém và chính cuộc sống
cộng đồng nguyên thủy đã tạo nên hình thức gia đình quần hôn người phụ nữ
giữ vai trò cai quản kinh tế gia đình, con chỉ biết mẹ đó là hình thức gia đình
mẫu hệ. Trong hình thức gia đình này mọi thành viên trong gia đình đều bình
đẳng thì quyền lực thuộc về người phụ nữ nên họ được tôn vinh, chế độ mẫu
quyền đã tồn tại trong một thời gian dài.
Sản xuất ngày càng phát triển, của cải dư thừa đã dẫn đến sự ra đời của
chế độ tư hữu. Cùng với nó là thất bại của chế độ mẫu quyền. Ăngghen cho
rằng: “đây là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của phụ nữ” [37,
tr.89]. Từ đây, quyền cai quản kinh tế thuộc về đàn ông, người đàn bà bị biến
thành nô lệ, thành công cụ sinh đẻ đơn thuần. Ăngghen chỉ rõ: “Sự áp bức đầu
tiên trùng hợp với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà” [37, tr.106].