GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO ĐẾN NĂM 2015 - Pdf 26

MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở
mỗi quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang sống trong
cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới . Tỷ lệ người nghèo
ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các
nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều.
Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm
nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành
mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế. Việt Nam là một trong những nước
có thu nhập thấp trên thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN
là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc
tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để
đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến.
Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát
triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã
hội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định…
Trong thời kỳ nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá (CNH,HĐH), phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề
XĐGN càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước. Muốn đạt được
hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho
người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quốc Oai là huyện ngoại thành có diện tích là 147 km vuông, trong
những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của thành phố, sự nỗ lực cố
2
gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn huyện nên tình hình kinh tế - xã hội đã có
những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày

số 12 năm 1993.
- Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục”
của TS. Bạch Đình Ninh, Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999
Các công trình, chuyên khảo và báo cáo trên phần lớn đều tập trung vào
vai trò của các cấp ủy Đảng và chính quyền, chứ rất ít công trình viết về vai
trò của các tổ chức xã hội trong xóa đói giảm nghèo, nhất là vai trò của hội
phụ nữ.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai
trò của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai trong hoạt động xóa đối giảm nghèo để
rút ra những thành tựu, hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường vai
trò Hội Phụ nữ huyện trong công tác này.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác xoá đói
giảm nghèo, trong đó đi sâu tìm hiểu vai trò của hội phụ nữ trong xóa đói
giảm nghèo
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai
trong xóa đói giảm nghèo thời gian qua
- Đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của hội
trong công tác xoá đói giảm nghèo huyện Quốc Oai đến 2015.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan đến công tác
và chương trình xoá đói giảm nghèo, trong đó đi sâu tìm hiểu một số hộ tiêu
biểu đại diện cho 3 vùng của huyện Quốc Oai
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung : nghiên cứu thực trạng đói nghèo và phát triển kinh tế của
các hộ nghèo tại huyện Quốc Oai

6. Đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ vai trò của Hội Phụ nữ trong hoạt động xóa đói giảm nghèo nói
chung và hội phụ nữ huyện Quốc Oai nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của các hội phụ nữ
trong xóa đói giảm nghèo tại những huyện trong thời gian tới
- Tiểu luận là tài liệu tham khảo cho các hội phụ nữ quận ( huyện ) trên
phạm vi cả nước nhằm đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nooij dung tiểu luận được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm phát huy vai trò
Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Hội phụ nữ huyện Quốc Oai với sự nghiệp xóa đói giảm
nghèo ở địa phương
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát huy vai trò của Hội Phụ nữ
huyên Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2015
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT HUY
VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
1.1.1. Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo
1.1.1.1. Khái niệm nghèo đói
Tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa
như sau: “ nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập
quán của địa phương”[15]
Theo liên minh châu âu (EU) thì đánh giá: “ Một gia đình nghèo là gia đình

Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ
phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu
để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…; Còn
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định.
Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu
của người nghèo là: 1) không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con người; 2) có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;
3) thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
8
Việt Nam cũng nằm trong các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề
nghèo đói, và cũng đang nỗ lực đề xóa đói giảm nghèo, song đến nay tình
trạng đói nghèo vẫn còn phổ biến, nhất là tại các vùng nông thôn.
1.1.1.2. Nguyên nhân
Vấn đề đói nghèo của các quốc gia tuy có những nguyên nhân giống
nhau, song do điều kiện cụ thể khác nhau mà mỗi nước lại có nguyên nhân
khác nhau. Tại Việt Nam, đói nghèo là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt,
hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và
đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực.
Thứ hai, do người dân thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu vốn
kinh doanh, hoặc gia đình đông con, thiếu người làm và không có việc làm,
mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro
Thứ ba, do cơ chế chính sách. Cụ thể là chính sách thiếu hoặc không
đồng bộ. Thêm vào đó là những khó khăn trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng cho các khu vực nông thôn, miền núi. Các chính sách khuyến khích sản
xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính
sách giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới
hiện vẫn chưa có tác động tích cực đến đời sống dân nghèo.
Thứ tư, do số hộ nghèo tại các tỉnh thành phố trên cả nước chưa ý thức

tuổi trở lên chưa đến trường tại Việt Nam la 13,4%, nhiều hơn 2 lần tỷ lện nam
Phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay để
xản xuất kinh doanh
Phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ nữ là đại biểu quốc hội khá cao (khoảng
25%), xếp thứ 2 khu vực châu á, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị
10
Phụ nữ Việt Nam hiện đang làm chủ 21% trong tổng số hơn 500.000
doaanh nghiệp cả nước, 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng
khoán.Doanh nghiệp nữ của Việt Nam cũng có mặt ở hầu hết các lĩnh vực
như; dệt may, chế biến nông sản, thủy sản, da dày.v…
Rõ ràng những đặc điểm trên của phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng rất
lớn vào việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội, và cũng là đặc điểm nổi bật
bản sắc người phụ nữ Việt Nam.
1.2.2. Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
Phụ nữ tuy là “phái yếu” nhưng một khi được tổ chức lại, họ lại có sức
mạnh đáng kể. Điều này được thể hiện rõ khi Hội Phụ nữ các cấp tham gia
vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Vai trò của các cấp Hội Phụ nữ trong xóa
đói giảm nghèo được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, giúp hội viên vay vốn, phát triển kinh tế gia đình
- Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn quan tâm đến sự
phát triển, tiến bộ, bình đẳng của phụ nữ. Trung ương Hội luôn sát sao hội
viên, hỗ trợ chị em phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là tại các tỉnh,
các khu vực khó khăn. Trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
với chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ đã tập trung chỉ đạo và
triển khai nhiều phong trào tới các cấp hội nhưng chương trình, thiết thực hỗ
trợ cho phụ nữ ở các nơi kho khăn phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
- Các cấp Hội phụ nữ trong cả nước đều có vai trò to lớn trong việc hỗ
trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình. Các phong trào “Phụ nữ giúp
nhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợ
phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức

1-2 xã điểm, còn mỗi xã giúp 1-2 hộ nghèo trở lên, trong đó ưu tiên giúp hộ
12
phụ nữ nghèo làm chủ hộ. Cách thức là phân công 2-3 cán bộ, hội viên có
kinh tế khá hay đơn vị kết nghĩa giúp 1 hội viên về vốn, giống, cây, con, kinh
nghiệm, kiến thức làm ăn để dần vươn lên thoát nghèo.
Thứ ba, tổ chức các cuộc “Hội thảo đầu bờ”giúp chị em kinh nghiệm
làm ăn
Việc xây dựng các mô hình điểm hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo
gắn với củng cố cơ sở Hội, phát triển hội viên, xây dựng lực lượng nòng cốt
trong phụ nữ được các cấp Hội quan tâm chỉ đạo. Năm 2005-2006 Trung
ương Hội đã trực tiếp chỉ đạo tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Gia Lai xây dựng
mô hình xoá đói giảm nghèo cho phụ nữ và hướng dẫn cách làm ăn, khuyến
nông, khuyến lâm cho phụ nữ 5 tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Cao Bằng, Bắc
Cạn, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La… Chỉ đạo phụ nữ dân tộc Mông, Dao ở hai
xã Phong Niên, Bản Cầm huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xây dựng mô hình
điểm có gắn với Hội thảo đầu bờ về trồng ngô lai, nuôi lợn sinh sản, nuôi dê,
hướng dẫn chế biến, dự trữ lương thực, thực phẩm đạt kết quả tốt được cấp
uỷ, chính quyền địa phương đánh giá cao, phụ nữ dân tộc thiểu số được thụ
hưởng thật sự phấn khởi, tích cực tham gia sinh hoạt hội.
Hoạt động giúp phụ nữ thoát nghèo của các cấp Hội ngày càng đa
dạng, đạt nhiều kết quả nổi bật như tập trung giúp xây, sửa nhà cho phụ nữ
nghèo, tặng học bổng cho bà con hộ nghèo, giúp hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
hộ thoát nghèo bền vững… Bằng sự đóng góp tiền, ngày công của phụ nữ,
cộng đồng, doanh nghiệp… các mái ấm tình thương đã được xây dựng. Chỉ
tính riêng hai đợt là tập trung kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên và
hưởng ứng đợt thi đua đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ phát động, Trung
ương hội đã phát động phong trào “Phụ nữ cả nước với Điện Biên”, phụ nữ cả
nước đã giúp cho 2.713 phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số xoá được nhà
tranh tre, ở tạm.
13

hành tiết kiệm bằng nhiều hình thức giúp nhau về vốn, công lao động, về cây
con giống, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi; xây dựng mô hình vườn rau dinh
dưỡng, trồng rau sạch để cung cấp cho các trường mầm non; xây dựng các
công trình vệ sinh nước sạch. Năm 2010, Huyện hội duy trì thường xuyên các
hoạt động giúp nhau không lấy lãi với số tiền 471.930.000 đồng cho 317 lượt
hội viên vay đầu tư sản xuất. Đồng thời, khảo sát và giải ngân số tiền 825
triệu đồng cho 55 hộ gia đình hội viên có nhu cầu vay phát triển đàn bò sữa ở
3 xã là Vân Hoà, Tản Lĩnh và Tòng Bạt.Hiện nay, dự án "Chăn nuôi bò sữa"
đã phát triển được 285 con, trong đó có gần 200 con cho khai thác sữa. Bên
cạnh đó, Hội LHPN huyện còn phối hợp hội LHPN thành phố Hà Nội thực
hiện chương trình "Vỗ béo bò thịt" tại 2 xã Ba Vì và Ba Trại. Từ nguồn vốn
vay, có hộ gia đình có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên, nhiều hộ gia đình
hội viên phụ nữ có thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng.
Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn được huy động, khai thác cho hội
viên vay để sản xuất, tạo việc làm, thu hút chị em tham gia tổ chức Hội thực
hiện chương trình ký phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội, đã giải
ngânhơn 27 tỷ đồng cho 2.512 gia đình hội viên vay. Hiện nay, tổng nguồn
vốn của hội đang quản lý là 140 tỷ đồng cho hơn 10 nghìn hội viên vay phát
triển kinh tế. Song song với việc vay vốn, Hội còn quan tâm đến việc giúp hội
viên phát triển đàn bò sinh sản, bò sữa và mô hình trang trại tổng hợp. Huyện
Hội đang hướng tới hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh quy mô
và sản phẩm có giá trị, như trồng lúa chất lượng cao, làng nghề làm nón, mây
tre đan, làm miến dong Trong phong trào hỗ trợ xoá nhà tạm, xây dựng
"mái ấm tình thương", bằng những nguồn vốn vận động được từ các tổ chức
chính trị xã hội, năm 2010, đã có 4 nhà "Mái ấm tình thương" được tặng cho
15
chị em phụ nữ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trị giá 77 triệu đồng.
Kết quả trong năm 2010, 127 hội viên phụ nữ thoát nghèo, trong đó 62 hộ
thoát nghèo bền vững.
1.3.2. Kinh nghiệm hội phụ nữ huyện Sơn Hà( Quảng Ngãi )

đó, Hội đã giúp cho một bộ phận phụ nữ xoá được đói, giảm được nghèo.
Từ năm 2001 đến nay, đã có 2.039 chị thoát nghèo, 37 chị thu nhập
hàng năm từ 30 triệu đồng trở lên. Điển hình như các chị: Đinh Thị Hồng xã
Sơn Trung; Đinh Thị Trói xã Sơn Thành, Đinh Thị Máy xã Sơn Nham, Đinh
Thị Triêm xã Sơn Hạ Song song với những chương trình hỗ trợ và phát triển
kinh tế, Hội Phụ nữ huyện Sơn Hà còn thực hiện lồng ghép các chương trình,
phong trào khác như xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, phụ nữ tích cực học
tập, lao động sáng tạo, phụ nữ tiến bộ ; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh;
tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bình
đẳng giới nhằm tuyên truyền, vận động chị em nâng cao kiến thức chăm sóc
sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh môi trường, phòng chống
HIV/AIDS Hội còn tuyên truyền cho 100% cán bộ hội và 70% hội viên quần
chúng kiến thức về công ước quyền trẻ em, nạn bạo hành gia đình, luật hôn
nhân và gia đình, kết hợp với các ngành vận động, đưa trẻ đến trường đạt 95%.
Thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa, Hội đã phối hợp với Hội
LHPN tỉnh, huyện Mộ Đức, Ban vận động “Ngày vì nguời nghèo” của huyện
xây dựng 4 căn nhà tình thương với số tiền là 38 triệu đồng. Hiện nay, Hội
đang triển khai cuộc vận động quyên góp ủng hộ Quỹ xây dựng nhà tình
thương cho phụ nữ nghèo. Từ đó, đã nâng dần nhận thức của phụ nữ về tổ
chức Hội, số hội viên tăng hàng năm 1,5%.
17
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phong trào hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế của Hội phụ nữ Sơn Hà vẫn còn gặp không ít khó khăn.
Phần lớn cán bộ Hội cơ sở là người dân tộc thiểu số trình độ văn hoá thấp, đa
số chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động tín dụng-tiết kiệm, khả năng
điều hành nhóm, phổ biến các kiến thức cần thiết cho chị em còn hạn chế.
Phần lớn thành viên được vay vốn quen với phương thức canh tác cũ, chưa
được tiếp cận và mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn
nuôi, giá thị trường không ổn định, đầu ra cho sản phẩm bấp bênh Vì vậy, để
công tác XĐGN đạt hiệu quả, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ và sự quan

phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của phụ nữ Việt
nam, tổ chức tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao nhận thức, trình độ, năng
lực về mọi mặt, tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
an ninh quốc phòng, xây dựng gia đình No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.
Hot ng ca Hi Ph n khụng vỡ mc tiờu li nhun, m vỡ s tin
b ca ph n. V t chc, ton huyn cú 20 c s hi, vi 129 chi hi, 478
t hi ph n. Tng s hi viờn tớnh n u nm 2012 l 23.266 ngi,
chim 65% lc lng lao ng ton huyn. Trong s ú, ch cú 20 % hi viờn
cú cuc sng khỏ gi; 31 % (7.215/23.266 ngi) s hi viờn lõm vo cnh
nghốo úi, tỳng thiu.
Bng 2.1. T l cỏc ch h nghốo l n trong huyn
STT n v xó, th trn Tng s h
Tng s h
nghốo l n
T l
nghốo %
A B C D E
19
STT Đơn vị xã, thị trấn Tổng số hộ
Tổng số hộ
nghèo là nữ
Tỷ lệ
nghèo %
Tổng số 40.110 7. 215 17,99
1 Thị Trấn 3.300 340 10,30
1 Sài Sơn 4.281 768 17,94
2 Phượng Cách 1.025 266 25,95
3 Yên Sơn 1.723 300 17,41
4 Đồng Quang 3.367 588 17,46

2.2.1. Hỗ trợ hội viên vay vốn.
Hội Phụ nữ huyện luôn chú trọng công tác khai thác các nguồn vốn để
hỗ trợ phụ nữ. Trong 5 năm, các cấp Hội phụ nữ toàn huyện đã khai thác và
quản lý 280 tỷ đồng vốn vay từ ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính
sách, tăng trên 100 tỷ đồng so với nhiệm kỳ trước, giúp 7.569 lượt hội viên
phụ nữ vay phát triển kinh tế. Duy trì 277 tổ phụ nữ tiết kiệm với 9.995 thành
viên với số tiền trên 2 tỷ đồng /năm đã giúp cho 1133 phụ nữ vay. Hội phụ nữ
cơ sở đã giúp nhau không lấy lãi số tiền trên 3 tỷ đồng/năm giúp cho 2.255
hội viên vay. Ngoài ra, cán bộ hội viên còn tăng cường các hoạt động giúp
nhau ngày công, con giống, kinh nghiệm sản xuất. Tổ chức tập huấn nghiệp
vụ cho tổ trưởng vay vốn, quản lý nguồn vốn. 100% phụ nữ tham gia các
chương trình của Hội biết cách quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
vay, trả lãi và gốc đúng kỳ hạn.
2.2.2. Hỗ trợ đào tạo và hương nghiệp cho hội viên
Hội thường xuyên phối hợp với các trung tâm tổ chức được 56 lớp
dạy nghề các lớp như; mây tre đan, làm chổi chit, may công nghiệp, móc
sợi xuất khẩu, dệt lên, lớp học vi tính, lớp dạy kỹ thuật nấu ăn… cho trên
3000 lao động nông thôn có việc làm.( Trong đó có 2 lớp học vi tính cho
60 lao động là con hộ nghèo ). Tư vấn hộc nghề cho 1000 lao động và giới
thiệu việc làm cho 1560 lao động nông thôn đi làm việc trông các công ty
trong và ngoài nước có thu nhập ổn định.
Đây là nhiệm vụ được các cấp Hội xác định là trọng tâm nhiệm kỳ nhằm
hỗ trợ phụ nữ nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống gia đình.Trong năm năm
qua đã tổ chức 516 lớp tập huấn cho trên 50.681 lượt hội viên PN về kiến
21
thức khuyên nông, chuyển đổi cơ cấu cây trồng , vật nuôi, phát triển kinh tế
vườn trại, hạch toán kinh doanh cho nữ doanh nghiệp.Thành lập các CLB nữ
SX-KD-DV,CLB phụ nữ làm kinh tế trang trại. Phối hợp với phòng LD-
TBXH, Phòng kinh tế, Trung tâm DVVL 20/10 Thành phố để mở các lớp dạy
nghề, tạo việc làm tăng thu nhập cho phụ nữ.

II. Vốn giải quyết việc làm
Số tổ vay vốn(tổ) 31 6 4 21 6
Số tiền vay vốn(triệu đồng) 2,100 574 240 5619 489
Số người vay vốn(người) 468 208 41 368 37
III. Vốn giúp nhau không lãi
xuất
Số người được giúp(người) 710 3926 1520 1235 1255
Số tiền( triệu đồng) 640 825 3000 3000 2500
Nguồn: Báo cáo tại Đại hội đại biểu Phụ nữ huyện Quốc Oai lần thứ
12 nhiệm kỳ 2011-2016)
Qua bảng biểu trên ta có thể nhận thấy sự thay đối về số tổ tiết kiệm qua
các năm có sự thay đổi rõ rệt, năm 2006 có 363 tổ thi năm 2007 còn có 293 tổ,
giảm 70 tổ so với năm 2006, sang năm 2008 và 2009 giảm xuống còn 20 và
178 tổ so với năm trước đó, năm 2010 lai khá tăng số tổ tiết kiệm lên 277. Số
người vay nhìn chung giảm, từ năm 2006 số người vay giảm liên tục qua các
năm là 1078 năm 2007, năm 2008 giảm 376 người, năm 2009 giảm 1215, năm
2010 tăng 848 người.
Vốn giải quyết việc làm về số tổ vay vốn cũng rất giảm từ 31 tổ năm
2006 xuông còn 6 tổ năm 2010. Số người vay cũng giảm từ mức cao 468 năm
2006 và 368 năm 2009 xuống còn 37 người được vay. Vốn giúp nhau không
lấy lãi lại tăng đều đặn qua các năm, số người được giúp năm 2006 là 710 thì
sang năm 2007 đã lên đến 3926 người, số tiền cũng tăng theo các năm, năm
2006 có 648 triệu đồng thì năm 2007 đã lên đến 825 triêu đồng và lên đến
3.000 vào các năm 2008, 2009 và năm 2010 dữ ở mức 2.500.
2.2.4. Vận động hội viên thực hiện kế hoạch hóa gia đình
23
Sinh đẻ nhiều cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo
của phụ nữ huyện Quốc Oai. Nhận thức được điều đó, trong nhiều năm qua,
Hội Phụ nữ huyên luôn quan tâm đến công tác dân số-kế hoạch hoá gia đình
(DS - KHHGĐ). Hội phụ nữ huyện đã xác định công tác thông tin, tuyên

Phú Mãn là xã có trên 4000 dân, chủ yếu chị em và hộ gia đình tại xã là
người dân tộc mường nên công tác tuyên truyền, vận động gặp rất nhiều
khó khăn, do đó, tỉ lệ sinh con thứ 3 tăng 22,3% so với năm 2005 lý do vì
trình độ dân trí của chị em thấp, nhận thức về công tác DS - KHHGĐ còn
hạn chế, cộng với tư tưởng “con trai nối dõi tông đường”, “trọng nam
khinh nữ” và tư tưởng thích đẻ nhiều con. Một số hộ gia đình “cố tình”
hiểu sai về pháp lệnh dân số, dẫn đến tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng cao.
Mặt khác ở cơ sở vùng sâu cán bộ chuyên trách, cộng tác viên còn thiếu
và yếu về nghiệp vụ, trình độ còn hạn chế…
Để ngăn chặn tỉ lệ sinh con thứ 3 cùng với nguy cơ bùng phát dân số,
năm 2006 hội phụ nữ huyện Quốc Oai đã có những giải pháp thiết thực như:
Chấn chỉnh kiện toàn củng cố và ổn định hệ thống tổ chức làm công tác dân
số ở các cấp; nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên
trách, cộng tác viên; tăng cường phối kết hợp với các cơ quan, ban, ngành,
đoàn thể tham gia công tác dân số đạt hiệu quả cao; duy trì vững chắc xu thế
giảm sinh, duy trì các mô hình truyền thông như câu lạc bộ không sinh con
thứ 3, sinh đẻ có kế hoạch,… Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, giáo
dục với những nội dung, hình thức phù hợp với từng vùng, từng khu vực,
từng nhóm đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status