Nâng cao và trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_____________

______________ NGUYỄN VĂN Y

NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA HỘI PHỤ NỮ
HUYỆN QUỐC OAI TRONG CÔNG CUỘC
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. MAI THỊ THANH XUÂN
HÀ NỘI - 2014
i

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ

3.1. Định hướng của Hội trong hoạt động xóa đói giảm nghèo đến năm 2020 52
3.2. Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động xóa đói giảm nghèo của hội
phụ nữ huyện Quốc Oai từ nay đến năm 2020 55
3.2.1. Đẩy mạnh các chương trình “ góp vốn”, “tiết kiệm vốn” trong cộng đồng
phụ nữ 55
3.2.2. Tăng cường huy động đi đôi với hướng dẫn hội viên sử dụng vốn vay có
hiệu quả 56
3.2.3. Tăng cường tuyên truyền về kế hoạch hóa dân số tới tận từng thành viên
của Hội 58
iii

3.2.4. Tăng cường hoạt động tập huấn khoa học kỹ thuật cho hội viên 60
3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận đông các đoàn thể tham gia xóa đói
giảm nghèo. 62
3.2.6. Tăng cường phân cấp quản lý và phối kết hợp với các cơ quan, đoàn thể. . 64
3.2.7.Chính phủ cần có hệ thống chính sách đồng bộ trong xóa đói giam
nghèo. 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT

CNH, HĐH
Công nghiệp hóa
DS-KHHGĐ
Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
KHKT
Khoa học kỹ thuật
PN


1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối tùy thuộc điều kiện
cụ thể của từng thời kỳ và từng quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng
1,3 tỷ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất
thế giới. Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì
tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu
nghèo lại lớn hơn rất nhiều.
Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm
nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành
mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế. Việt Nam là một trong những nước
có thu nhập thấp trên thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN
là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc
tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để
đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến.
Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát
triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã
hội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định…
Trong thời kỳ nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá (CNH,HĐH), phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề
XĐGN càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước. Muốn đạt được
hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho
người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quốc Oai là huyện ngoại thành TP. Hà Nội, với diện tích là 147 km
2
.
2


có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới.
Có thể thấy rằng, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay,
chính sách xóa đói, giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm
và được xây dựng thành chương trình mục tiêu quốc gia. Qua đó, nhận thức
về vai trò quan trọng của xóa đói, giảm nghèo đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội đã được thay đổi căn bản ở các cấp, các ngành, nhờ vậy,
chính sách xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những thành tựu hết sức ấn
tượng, đặc biệt là trong giai đoạn 2001-2010, như: chính sách xóa đói, giảm
nghèo góp phần làm tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, làm thay đổi mức sống của người nghèo, làm tăng lòng tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước… Tuy nhiên, chính sách xóa đói, giảm
nghèo vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: thành tựu chưa thực sự
bền vững, chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất và đồng bộ, chủ yếu
thiên về lượng, chưa chú trọng đến chất lượng giảm nghèo, còn mang tính
ngắn hạn…
Đây cũng chính là động lực để các tác giả thực hiện cuốn sách này, với
mục đích rút ra những bài học, bổ sung luận cứ cho công tác hoạch định chính
sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới. Với sự đầu tư
nghiêm túc, tâm huyết của các tác giả, cuốn sách là một công trình khoa học
có giá trị tham khảo tốt cho các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và hoạch
định chính sách, đặc biệt là chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta.
- Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, của TS. Đỗ
Thị Bình và Lê Ngọc Hân, Nxb Chính trị quốc gia, 1996. Cuốn sách này nêu lên
các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nước ta và trên
thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ
4

nghèo nông thôn; đưa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch
định chính sách xóa đói, giảm nghèo, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên.
- Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền

ứng các phong trào toàn bộ chi hội cơ sở trong huyện đã xây dựng chương
trình hành động và tổ chức cho cán bộ, hội viên, phụ nữ học tập nội dung của
phong trào, cam kết và tham gia tổ chức thi đua với các chi hội trên địa bàn.
Tập. Công tác DS-KHHGĐ của các cấp đảng ủy, ủy ban nhân dân, các tổ
chức, cơ quan trên địa bàn cũng được triển khai đồng bộ và có nguyên tắc như
các hình thức đăng ký thực hiện kế hoạch hóa gia đình đối với các cặp vợ
chồng trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời coi trọng khuyến khích cá nhân, đơn vị
tự giác thực hiện; xử lý các trường hợp vi phạm chính sách dân số. Các quy
định, chính sách phù hợp được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo dư luận xã hội
có lợi cho việc thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ.
- Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục”
của TS. Bạch Đình Ninh, Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999. Nghệ An có các
huyện và xã thuộc khu vúi miền núi có nhiều đồng bào dân tọc sinh sống. Tác
giả nhận xét vị trí đĩa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu là nguyên nhân chủ yếu
của đói nghèo tại đây, các cơ chế, chính sách của chính quyền Tỉnh Nghệ An
về vốn hộ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất hộ gia đình chưa cụ thể, chính xác
cho từng hộ gia đình là nguyên nhân làm cho ngồn vốn vay phát triển sẩn xuất
hộ gia đình không hiệu quả, làm giảm hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo
tại đại phương. Các giải pháp theo tác giả phải có tiêu chí cụ thể cho mỗi hộ
gia đinh khi vay vốn sản xuất, có cơ chế kiểm tra , giám sát ngồn vốn vay của
từng hộ gia đình. Khắc phục vị trí, điều kiện thiên nhiên, khí hậu bằng việc
nghiên cứu trồng xen, thâm canh nhiều loại cây lương thực, cây công nghiệp
6

mang gía trị kinh tế cao để nâng cao đời sống nhằm thực hiện xã hội hóa công
tác xóa đói giảm nghèo.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của luận văn là thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng
vai trò của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai trong hoạt động xóa đối giảm nghèo

kiện lịch sử cụ thể.
5.2. Phƣơng pháp cụ thể
Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn:
+ Từ các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về các nội
dung liên quan đến chủ đề tiểu luận
+ Từ các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng bộ thành
phố Hà Nội và đại hội Đảng bộ huyện Quốc Oai, các báo cáo tổng kết hàng
năm của UBND huyện, báo cáo của các phòng LĐTB&XH, Phòng Thống
kê,Hội phụ nữ huyện qua 5 năm từ 2006 đến 2011, và các mục tiêu, giải pháp
của hội đến năm 2020.
Phương pháp phân tích
- Để phân tích thực trạng đói nghèo của huyện chúng tôi sử dụng các
phương pháp: thống kê mô tả để mô tả thực trạng, thống kê so sánh tỷ lệ phân
trăm hộ nghèo tại các xã trong tòa huyện để từ đó đánh giá, đưa ra các đinh
hướng cho từng xã
- Căn cứ vào thực trạng đói nghèo của huyện, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội huyện Quốc Oai đến năm 2020 để đưa ra những định
hướng và giải pháp nâng cao vai trò của hội phụ nữ trong XĐGN đến năm
20020 cho huyện Quốc Oai
8 6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ đặc điểm đói nghèo của Phụ nữ và so với các đối tượng khác
- Đề xuất, định hướng và nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Hội phụ nữ
huyện Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2020
- Đánh giá thực trạng vai trò Hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong XDGN
hiện nay, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế của Hội trong hoạt động này.
7. Kết cấu Luận văn

Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là
vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả
những giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người
nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội,
môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá
nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình
trạng nghèo. Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã
10

hội ở Copenhagen( Đan Mạch), những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh
trong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo
trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác
quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị,
kinh tế của nhân loại
Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó
là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay,
nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác
nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn
về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993. Theo hội nghị này, đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ
bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển
kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Đây là khái niệm
khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng,
trong đó có Việt Nam.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ
phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu
để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…; Còn
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

đầu tư cho xóa đói giảm nghèo là việc của Nhà nước, của chính quyền các
cấp vì thế nên chưa có ý thức hợp tác, bảo vệ và khai thác các công trình hạ
tầng cơ sở do nhà nước xây đầu tư xây dựng vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo
tại địa phương
12

1.1.2. Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
Nghèo đói vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội. Mục tiêu của
Việt Nam đến năm 2020 là xây dựng một xã hội “ Dân giàu, nước mạnh, công
bằng, dân chủ, văn minh”, vì vậy xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách
của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều này xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
- Nghèo đói sẽ cản trở sự phát triển chung của toàn xã hội.
- Nhèo đói làm cho con người mất đi vị tri, vai trò trong xã hội
- Ngèo đói làm cho con người ta thiếu thốn về vật chất, ảnh hưởng đến
tinh thần
- Nghèo đói gây ra các tiêu cực trong xã hội, các tệ nạn xã hội
Nghèo đói không chỉ làm con người ta thiếu thốn về vật chất mà còn
tạo ra những suy nghi tiêu cực cho con người, con người không lao động sản
xuất mà thay vào đó là tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, số
đề v Người nghèo cũng tác động đến quyền bình đẳng, vị trí cá nhận và sự
phát triển trong từng xã hội.
Từ những phân tích trên ta thấy việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân ta để hương tới một xã hội dân giàu, nước mạnh
1.1.3 Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới, nhưng tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ
lại gấp đôi nam giới. Vì vậy, phụ nữ được xếp vào nhóm “yếu thế” trong xã hội.
Theo điều tra của Ngân Hàng Thế giới năm 1997-1998, tỷ lệ dân số nữ 15
tuổi trở lên chưa đến trường tại Việt Nam la 13,4%, nhiều hơn 2 lần tỷ lện nam
Phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay để
xản xuất kinh doanh

tiết kiệm”, “Phụ nữ sản xuất giỏi”, “Câu lạc bộ phụ nữ khuyến nông”, “Câu
14

lạc bộ nữ doanh nghiệp”, các mô hình lồng ghép dân số, sức khoẻ sinh sản với
xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xoá mù chữ… đã thu hút nhiều phụ nữ ở
các tỉnh , thành và khu vực có các đông bào dân tộc thiểu số tham gia.
Các cấp Hội tập trung khai thác từ ngân hàng, các tổ chức quốc tế, từ
tiết kiệm của chị em để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
Hội đã chủ động tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, thực hiện uỷ thác với Ngân hàng Chính sách xã hội cho phụ nữ các cấp
vay với cách thức vay trả linh hoạt, phù hợp. Đến nay số vốn do các cấp Hội
vùng quản lí là trên 10.550 tỷ đồng cho hàng triệu lượt chị em được vay.
Không chỉ giúp vốn, các cấp Hội còn tranh thủ các nguồn lực để tổ chức tập
huấn, hội thảo, tham quan mô hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên
250.000 lượt phụ nữ …
Thứ hai, hướng dẫn kỹ thuật cho hội viên
Các cấp Hội đã không chỉ giúp chị em hội viên vay vốn, mà còn hướng
dẫn chị em sử dụng đồng vốn đúng mục đích, hướng dẫn kỹ thuật tiên tiến,
sử dụng giống mới vào sản xuất … Nhờ vậy, nhiều chị em phụ nữ đã căn
bản thoát đói và giảm nghèo. Nhiều tấm gương giúp nhau phát triển kinh tế,
nhiều điển hình vượt khó, thoát đói nghèo vươn lên khá, giàu xuất hiện; một
bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại, tiểu thủ công
nghiệp, đa dạng hoá ngành nghề với doanh thu hàng năm từ 50-100 triệu
đồng, góp phần giải quyết việc làm cho phụ nữ và thay đổi bộ mặt khu vực
nông thôn và miền núi.
Mô hình “Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ” và chỉ tiêu “80% trở lên số
hộ đói nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ” được các tỉnh tổ chức
thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo như Hội phụ nữ tỉnh chỉ đạo
1-2 xã điểm, còn mỗi xã giúp 1-2 hộ nghèo trở lên, trong đó ưu tiên giúp hộ
phụ nữ nghèo làm chủ hộ. Cách thức là phân công 2-3 cán bộ, hội viên có


Hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm cho phụ nữ cũng được Hội
phụ nữ nhiều tỉnh như Hoà Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, An
Giang… đẩy mạnh với việc dạy nghề truyền thống và một số ngành nghề mới
cho nữ nông dân nghèo, trẻ em gái ở các địa bàn có khu du lịch, trung tâm
giao lưu; tìm nguồn hàng và tạo việc làm tại chỗ, giúp chị em nghèo tăng thu
nhập bình quân 150.000đ-500.000đ/tháng. Năm 2005, các tỉnh, thành Hội
vùng khó khăn đã tích cực tổ chức dạy nghề cho 196.094 người, tư vấn nghề,
tư vấn việc làm cho 162.765 người; giới thiệu việc làm và cung ứng lao động
cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 157.937 người.
Với nhiều mô hình và biện pháp thiết thực, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam, đặc biệt là các cấp Hội phụ nữ ở vùng sâu vùng xa trong những năm
qua đã giúp cho nhau biết cách làm ăn, mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế gia
đình, từ đó từng bước thoát nghèo bền vững. Số lượt hộ nghèo được Hội giúp
đỡ là 780.114 hộ; trong đó số lượt hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội phụ
nữ giúp đỡ là 344.168 hộ. Riêng năm 2005 đã có gần 80% hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ được Hội giúp đỡ, trong đó có 103.420 hộ thoát nghèo.
Thứ năm, cùng chung sức xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới của Chính Phủ trên khắp cả
nước đã được các cấp Hội Phụ cả nước hương ứng và chúng góp sức lao
động, hiến đất và nhiều ngầy công ở mỗi cấp Hội tại địa phượng. Điển hình là
Hội Phụ Nữ tại các địa phương như Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh
Phúc, Hòa Bình, Hà Nội đã góp hàng triệu ngày công, đất đang sinh sống để
xây dưng nông thôn mới tại địa phương. Hôi Phụ nữ tại các tỉnh, thành phố
trên khắp cả nước đều tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng nông thôn
mới, các Hội phụ nữ ở khăp tỉnh, thành đều đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
liên quan đến Chương trình xây dựng NTM bằng những việc làm cụ thể như:
vận động hội viên, phụ nữ tham gia chuyển dịch cơ cấu sản xuất phát triển
17


nội dung như: xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc
làm, tăng thu nhập góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống…
Ban Thường vụ Hội LHPN huyện đã phối hợp với các ban, ngành khảo
sát, điều tra hộ nghèo; mở lớp tập huấn, hướng dẫn chị em áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng. Hội cũng tổ chức và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế, bằng
nhiều hình thức giúp nhau về vốn, công lao động, về cây con giống, kinh
nghiệm sản xuất, chăn nuôi; xây dựng mô hình vườn rau dinh dưỡng, trồng
rau sạch để cung cấp cho các trường mầm non; xây dựng các công trình vệ
sinh nước sạch. Năm 2004, Huyện hội duy trì thường xuyên các hoạt động
giúp nhau không lấy lãi với số tiền 471.930.000 đồng cho 317 lượt hội viên
vay đầu tư sản xuất. Đồng thời, khảo sát và giải ngân số tiền 825 triệu đồng
cho 55 hộ gia đình hội viên có nhu cầu vay phát triển đàn bò sữa ở 3 xã là
Vân Hoà, Tản Lĩnh và Tòng Bạt.Hiện nay, dự án "Chăn nuôi bò sữa" đã phát
triển được 285 con, trong đó có gần 200 con cho khai thác sữa[28]. Bên cạnh
đó, Hội LHPN huyện còn phối hợp hội LHPN thành phố Hà Nội thực hiện
chương trình "Vỗ béo bò thịt" tại 2 xã Ba Vì và Ba Trại. Từ nguồn vốn vay,
có hộ gia đình có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên, nhiều hộ gia đình hội
viên phụ nữ có thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng[28].
Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn được huy động, khai thác cho hội
viên vay để sản xuất, tạo việc làm, thu hút chị em tham gia tổ chức Hội thực
hiện chương trình ký phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội, đã giải
ngânhơn 27 tỷ đồng cho 2.512 gia đình hội viên vay. Hiện nay, tổng nguồn
vốn của hội đang quản lý là 140 tỷ đồng cho hơn 10 nghìn hội viên vay phát
triển kinh tế. Song song với việc vay vốn, Hội còn quan tâm đến việc giúp hội
viên phát triển đàn bò sinh sản, bò sữa và mô hình trang trại tổng hợp. Huyện

Trích đoạn Vận động hội viên thực hiện kế hoạch hóa gia đình Đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra nước ngoài Những thành tựu cơ bản Đẩy mạnh các chương trình “ góp vốn”, “tiết kiệm vốn” trong cộng đồng Tăng cường tuyên truyền về kế hoạch hóa dân số tới tận từng thành viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status