Vai trò của người phụ nữ tỉnh Yên Bái trong công việc gia đình hện nay - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời giới thiệu
Công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế ở nông thôn Việt Nam một thập
kỷ vừa qua đã tạo ra mức tăng trởng đáng kể ở khu vực sản xuất nông nghiệp.
Trong sự đổi thay nhanh chóng đó, phụ nữ nông thôn đã đóng góp một phần
hết sức to lớn, bởi họ là lực lợng quan trọng trong hoạt động sản xuất, trong
đời sống ở nông thôn.
Song họ cũng đang đứng trớc những thách thức lớn, yêu cầu công tác
và cuộc sống đòi hỏi phải nâng cao trình độ, chồng con đòi hỏi phải đợc chăm
sóc tốt hơn trớc, nhà cửa phải đợc gọn gàng, sạch sẽ hơn, bữa cơm ngon hơn.
Trong khi đó d luận xã hội lại không khuyến khích nam giới tham gia công
việc gia đình (đó là cha kể xã hội thờng lên án, phê phán và trút trách nhiệm
trớc hết lên vai ngời vợ nếu có bất hoà, va chạm,rạn nứt hay đổ vỡ xảy ra
trong gia đình).
Điều đó có nghĩa vị trí và vai trò của ngời phụ nữ cha tơng xứng với
mức độ đóng góp của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong
đời sống gia đình. Dờng nh họ đang phải chịu thiệt thòi trong giai đoạn
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung dới sự quản lý của Nhà N-
ớc sang nền kinh tế thị trờng lấy gia đình làm đơn vị gốc.
Nh vậy trớc những biến đổi đó ngời phụ nữ trong gia đình sẽ thực hiện
vai trò của mình nh thế nào ?, để vừa có thể giữ gìn những giá trị đạo đức,
tinh thần quý báu của gia đình, vừa phát huy đợc năng lực trí tuệ của mình
góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nớc và các gia đình có khả
năng thích ứng với hoàn cảnh mới một cách tốt đẹp hay không
Trong khoảng thời gian hạn hẹp luận văn đợc hoàn thành với hy vọng
góp thêm một tiếng nói chung, tạo d luận cho xã hội quan tâm hơn nữa tới
đời sống của phụ nữ nói chung, những phụ nữ miền núi nói riêng. Từ đó tạo
điều kiện thuận lợi cho ngời phụ nữ phát triển bản thân, xoá bỏ dần ngăn
cách giữa phụ nữ và nam giới trong cuộc sống.
dân chủ trong sinh hoạt,hạn chế dẫn tới việc xoá bỏ hiện tợng chèn ép con ng-
ời, phát huy tính năng động, sáng tạo của cá nhân và xã hội, tạo điều kiện cho
ngời phụ nữ giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình mà vẫn đáp ứng đợc nhu
cầu mong muốn làm vì chồng, vì con, vì cái gia đình nhỏ bé thân thơng của
mình. Vấn đề tạo điều kiện cho ngời phụ nữ vơng lên để tự trang bị cho mình
những kiến thức, những kỹ năng trong lao động sản xuất, trong cách chăm
sóc và nuôi dạy con cái trong gia đình, cách thức tổ chức cuộc sống. Nh vậy
làm thế nào để cho ngời phụ nữ vừa làm tốt đợc các chức năng của gia đình,
của xã hội mà vẫn có thời gian dành cho chính mình để đáp ứng nhu cầu đợc
nghỉ ngơi, đợc hởng thụ văn hoá tinh thần...đã đợc Đảng và Nhà Nớc ta quan
tâm. Về phía ngời phụ nữ hiện nay cũng đã và đang thể hiện rõ tài năng,
khẳng định rõ vị trí và vai trò của mình trong công việc gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó phụ nữ ở những vùng xa xôi hẻo lánh thờng bị thua thiệt nh :
thiếu thời gia để nghỉ ngơi, ít đợc sự trợ giúp của xã hội về giáo dục, hởng thụ
văn hoá tinh thần. Vì vậy uy tín, vị thế xã hội và niềm tin vào chính bản thân
mình bị suy giảm, mặc dù vai trò "kép" của họ là lao động sản xuất và làm
công việc trong gia đình đã có sự tham gia của nam giới. Nhng những công
việc gia đình thì phần lớn ngời phụ nữ phải đảm nhận với cờng độ lao động
cao, kéo dài mà vẫn bị áp lực của tập quán xã hội, ảnh hởng của nho giáo Việt
Nam, t tởng trọng nam khinh nữ, t tởng gia trởng vẫn còn tồn tại phổ biến
trong quan niệm của ngời đàn ông nói riêng và ngơì dân nói chung. Vì thế
việc nghiên cứu vai trò của ngời phụ nữ trong công việc gia đình nhằm giúp
phụ nữ làm tròn đợc công việc gia đình lại vừa tham gia đợc các hoạt động xã
hội là một việc làm cần thiết vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Hai ý nghĩa này thể hiện ở chỗ : đây chính là hớng nghiên cứu khoa học
chuyên ngành của xã hội học nh - Xã hội học về giới, xã hội học gia đình, xã
hội học lao động, xã hội học nông thôn....có những mối liên hệ mật thiết với
4

Với những lý do trên việc nghiên cứu đề tài : "Vai trò của ngời phụ nữ
Yên Bái trong công việc gia đình hiện nay" từ hớng nghiên cứu xã hội học là
vô cùng quan trọng và cấp thiết.
II./ Đối tợng - khách thể - phạm vi và mục tiêu nghiên
cứu

1./ Đối tợng nghiên cứu
Vai trò của ngời phụ nữ tỉnh Yên - Bái trong công việc gia đình
2./ Khách thể nghiên cứu
Chị em phụ nữ đã có gia đình ở tỉnh Yên - Bái
3./ Phạm vi nghiên cứu
Tỉnh Yên Bái là một tỉnh miền núi gồm có 7 huyện và 2 thị xã. Là một
tỉnh có nhiều dân tộc và nhiều nền văn hoá khác nhau, vì thời gian có hạn
nên tôi chỉ đi sâu tìm hiểu đời sống văn hoá, phong tục tập quán và sự nhận
thức về vai trò của ngời phụ nữ trong gia đình với phạm vi là 2 xã Y - Can và
Nga -Quán thuộc huyện Trấn-Yên - tỉnh Yên-Bái.
4./ Mục tiêu nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu và làm nổi bật vai trò của ngời phụ
nữ tỉnh Yên Bái, tôi đa ra mấy mục tiêu sau:
Tìm hiểu thực trạng công việc trong gia đình của ngời phụ nữ, thực
trạng sự nhìn nhận của ngời dân về vai trò ngời phụ nữ trong gia đình
Chỉ ra đợc vai trò, vị trí của ngời phụ nữ trong công việc gia đình
Tìm ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này trong
gia đình, từ đó đa ra kiến nghị và giải pháp
III./ Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
1./ Giả thuyết nghiên cứu
- Do ảnh hởng của phong tục tập quán (hủ tục) đã dẫn đến sự nhìn
nhận cha đúng mức về vai trò của ngời phụ nữ trong gia đình
6

XH tỉnh Yên Bái
Tác động của hội
LHPNVN
Người phụ nữ
Trong công việc gia
đình
Trong hoạt động
cơ quan, đoàn thể
Trong việc làm
kinh tế
Nấu nướng
dọn dẹp
Mua sắm đồ dùng
trong gia đình
Chăm sóc người già
trẻ em
Dạy con họcQuyết định chi tiêu
Tham gia lao động
sản xuất
Làm nhà, sửa nhà
Định hướng nghề
cho conIV./ Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
1./ Cơ sở lý luận.
Những nguyên tắc và quan điểm của xã hội học Mác Xít đợc xác định
là kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu của đề tài,do đó nó trở thành
phơng pháp luận của đề tài.
Với việc tìm hiểu vai trò của ngời phụ nữ Yên Bái trong công việc gia

đẳng về giới có thể huỷ hoại trật tự xã hội, bởi vì trong gia đình,ngời phụ nữ
phải đợc quan tâm,nhìn nhận một cách đúng mức thì mới đem lại sự bình yên
cho xã hội,qua đó ở đề tài này tôi áp dụng chức năng cụ thể vài thiết chế gia
đình về vai trò ngời phụ nữ. Nghiên cứu xã hội học nông thôn, xã hội học đô
thị để thấy đợc sự phân tầng trong xã hội đã tác động mạnh mẽ tới đến sự
nhận thức của mọi thành viên trong gia đình và xã hội về vai trò ngời phụ nữ
trong gia đình
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp nghiên cứu xã hội học về
giới để xác định hành vi xã hội của nam và nữ và mối quan hệ giữa hai giới
tính đó. Cách nhìn nhận xã hội về giới trong xã hội với những trông đợi phù
hợp của mỗi ngời.
ở phơng pháp nghiên cứu xã hội học cộng đồng, và ở xã hội học văn
hoá chúng tôi tìm hiểu hệ giá trị chuẩn mực của gia đình, lối sống của gia
đình trong việc nhìn nhận và c xử với ngời phụ nữ
2./ Hệ phơng pháp nghiên cứu
Do có các tiếp cận vấn đề dới góc độ xã hội học nên trong đề tài chúng
tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu, đặc trng của xã hội học nh sau :
a./ Ph ơng pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi (An két)
Là phơng pháp nghiên cứu chính đợc sử dụng trong luận văn này đợc
tiến hành xây dựng bảng hỏi chi tiết dựa trên cơ sở mục đích và nội dung
nghiên cứu, với những cỡ mẫu đợc chọn là 400 hộ gia đình ở 2 xã miền núi.
Phiếu trng cầu gồm 50 câu hỏi đóng và mở để thu thập thông tin cho nghiên
cứu,tất nhiên là không tránh khỏi những khiếm khuyết trong khi hỏi nhng
tôi đã cố gắng hạn chế nhiều những thiếu sót đó
b./ Ph ơng pháp phỏng vấn sâu
Bằng phỏng vấn các bậc cha mẹ, anh chị đã có gia đình tại địa điểm đã chọn
với 20 hộ gia đình gồm ông bà, anh chị em đã có hoặc cha có gia đình ở 2 xã
miền núi Y can và Nga Quán bằng những câu hỏi mở để thu thập thông tin
nhiều chiều.
10

kinh tế đất nớc. Để từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngời phụ nữ có thể tham
gia nhiều hơn nữa trong các hoạt động xã hội, đóng góp năng lực trí tuệ của
11mình trong sự phát triển đất nớc. Đồng thời xoá bỏ sự ngăn cách giữa nam và
nữ trong các mối quan hệ tạo ra sự bình đẳng thực sự giữa các giới
Ngoài ra còn cũng cố thêm lý thuyết xã hội học mà tôi sử dụng,qua đó
thấy đợc ý nghĩa lý luận của những lý thuyết đó và khả năng áp dụng vào
thực tiễn phong phú và đa dạng. Kết quả nghiên cứu này góp phần giúp các
nhà quản lý, các nhà lãnh đạo trong việc đề ra các chính sách hỗ trợ ngời phụ
nữ nói chung và nhất là ngời phụ nữ miền núi nói riêng
Bên cạnh đó còn giúp cho các nhà truyền thông, phúc lợi xã hội, trung
tâm nghiên cứu khoa học và phụ nữ...... đa ra những kiến thức, kiến nghị và
giải pháp hữu hiệu nhất để giải phóng ngời phụ nữ, đa họ tiến lên cùng sự
phát triển của xã hội. Cách nhìn nhận và nghiên cứu đề tài này ở cả mặt chủ
quan và khách quan, nhng chủ yếu là mặt thực tế mà tôi đã thấy. Vì vậy đề
tài này đã đợc tổng hợp rất nhiều quan điểm và đợc nhìn nhận ở khía cạnh
nhiều chiều
V. Hệ các khái niệm
Để làm rõ hơn đề tài nghiên cứu,chúng tôi sử dụng một số khái niệm
của chuyên ngành xã hội học.
1./ Khái niệm gia đình
Gia đình thờng dùng để chỉ một nhóm xã hội đợc hình thành trên cơ sở
quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống (nảy sinh từ quan hệ huyết thống
đó là quan hệ cha mẹ và con cái,quan hệ họ hàng nội ngoại). Gia đình gồm có
vợ chồng, con cái do họ sinh ra (Gia đình hạt nhân). Còn gia đình có ông bà
nội ngoại cùng chung sống (Gia đình mở rộng), có thể bao gồm cả những ng-
ời đợc nuôi dỡng tuy không có quan hệ máu mủ hoặc chỉ là họ hàng xa.
Những thành viên gia đình đợc gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi

4./ Khái niệm bất bình đẳng
Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không bằng nhau)về các cơ hội
hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hay nhiều
nhóm trong xã hội. Cơ hội đó liên quan đến việc thoả mãn nhu cầu vật chất,
13tinh thần, thông tin, Khái niệm này đợc áp dụng rộng rãi và ở trong gia đình
càng phổ biến hơn, nh xung đột vai trò, sự không ngang bằng nhau giữa các
vị trí vai trò của ngời vợ và ngời chồng. Dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhiều
mâu thuẫn, vì vậy khái niệm này tôi cũng chọn làm phơng pháp nghiên cứu
và sử dụng cho đề tài.
Các nội dung về bất bình đẳng
Là sự không ngang bằng nhau cho cả hai giới trong việc tiếp cận
các nguồn lực phát triển gia đình
Có một khoảng cách về địa vị xã hội giữa nam và nữ trên cơ sở đánh
giá không công bằng lao động xây dựng gia đình của mỗi giới
Không có sự hởng thụ nh nhau, lợi ích vật chất tinh thần do gia
đình tạo ra
Không có sự thu hút nh nhau cả nam và nữ vào việc gia quyết định
nhằm bảo đảm sự phát triển cuả bản thân và gia đình
5./ Khái niệm phụ nữ
Gồm những xét về mặt sinh học thuộc giống cái (Phân biệt đối lập với
giống đực) xét về mặt khoa học tự nhiên, nếu ở góc độ khoa học xã hội thì
liên quan đến nam giới, nữ giới
6./ Khái niệm công việc gia đình
Công việc gia đình là một cụm từ khá quen thuộc, nó gợi lên hàng loạt
những công việc lặt vặt không tên. Song lại hầu nh chiếm hết phần lớn thời
gian, tâm trí và sức lực của ngời phụ nữ trong gia đình. Bên cạnh đố công
việc gia đình là một khái niệm còn cha đợc định nghĩa một cách rõ ràng, theo

một chỉ số độc lập của ngời phụ nữ. Tuy nhiên vấn đề này không phải để xét
xem ai có thu nhập cao hơn ai trong hộ gia đình mà nó có ý nghĩa tìm ra
giá trị vật chất của công việc gia đình, nhất là công việc nội trợ để có đợc
nhận thức đúng về loại công việc này đối với phụ nữ nói chung và phụ nữ
tỉnh Yên Bái nói riêng. Điều này có ý nghĩa nâng cao nhận thức của ngời
chồng về công việc gia đình, nhất là công việc nội trợ, cũng nh củng cố địa
vị của ngời phụ nữ trong gia đình ở tỉnh Yên Bái
157./ Khái niệm giới
Để tìm hiểu vấn đề tại sao cần phải nghiên cứu giới,chúng ta cùng đi
tìm hiểu những khái niệm cơ bản về giới :
Giới là một phạm trù xã hội đợc thiết lập qua các đặc trng văn hoá
nhằm xác định hành vi của nam và nữ mà mối quan hệ giữa hai giới tính đó.
Bởi vậy giới thể hiện sự khác biệt trong các vai trò và trách nhiệm xã hội của
phụ nữ và nam giới.Bớc đầu đề cập đến những ứng cử và những đặc điểm xã
hội đợc coi là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới về việc những hoạt động
khác nhau này đợc đánh giá và khen ngợi nh thế nào.Giới đợc thể hiện ở các
vai trò chuyển đổi mang tính xã hội mà chúng đợc chấp nhận ở mỗi giới.Giới
là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn nhân chủng học thể hiện những
chuẩn mực của một nhóm là của từng cá nhân.
Để làm sáng tỏ hơn bằng cách chấp nhận sự phân biệt giữa giới và giới
tính của Oakley trong một bài viết cho hội thảo về vấn đề này vào năm 1972
đã nêu :
Giới tính là sản phẩm của tự nhiên với những nét đặc thù sinh học hầu
nh không biến đổi và những thuộc tính ấy gần nh đồng nhất.Còn giới lại là
sản phẩm của xã hội với những đặc trng của văn hoá,nó rất dễ biến đổi. Vì
vậy thuộc tính của giới rất đa dạng. Chẳng hạn giới tính nữ thì đơng nhiên
cũng thuộc giới (nữ). Trong thực tế không phải là nh vậy, để xem là nam hay

đợc học hỏi thông qua quá trình xã hội hoá.
10./ Khái niệm địa vị xã hội
Là khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội gắn với quyền hạn, trách
nhiệm và nghĩa vụ tơng ứng với các vị trí đó
11./ Khái niệm nông thôn
Nông thôn là vùng miền không gian xã hội, tập hợp những con ngời xã
hội cùng c trú, chia sẻ lối sống. Một quan niệm hình thành tâm lý chung có
chung lãnh thổ và hoạt động kinh tế đặc thù. Do cùng yếu tố văn hoá nên
không phân biệt biên giới và không làm khác biệt giữa vùng này với vùng
khác, không có quan niệm riêng, tập quán lối sống sản xuất và sinh hoạt
riêng. Những vùng nông thôn có trung tâm chính trị văn hoá và nó bao
quang một dải đô thị có những đô thị này trở thành trung tâm. ở vùng này
ngoài hoạt động nông nghiệp còn có yếu tố hoạt động công nghiệp nông
thôn và lấy nguyên liệu từ sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy nông thôn với t
cách là khách thể nghiên cứu của xã hội học, là một phân hệ xã hội của lãnh
thổ xác định đợc hình thành lâu đời trong lịch sử. Đặc trng của phân hệ xã
hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trờng nhân tạo với các điều kiện địa
lý tự nhiên, u trội với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian.
17Phần II: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
I: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia tiến hành nghiên cứu về phụ nữ nói
chung, vị trí, vai trò của họ trong gia đình nói riêng. Các công trình nghiên
cứu này thờng do các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu, các tổ chức phi
chính phủ....của các quốc gia đó và quốc tế nghiên cứu. Với các công trình
nghiên cứu nh : " Các thế kỷ tuổi thơ " của Ariês(Anh), " Quan hệ hôn nhân
trong các gia đình " của Edholm-1982, " Gia đình và hôn nhân ở Anh " của
Fletcher, " Những cặp vợ chồng giai cấp trung lu " của Edgll-1980, " Tơng lai

các khoa học đó chủ yếu phản ánh thực tiễn về cái nhìn của nam giới. Vì vậy
đứng về phía phụ nữ, đặt phụ nữ vào trung tâm nghiên cứu sẽ không chỉ làm
giàu tri thức mà còn có lợi cho thực tiễn cải biến xã hội.
Nh vậy trên cơ sở tổng thuật các nghiên cứu về gia đình và ngời phụ nữ
trong những năm gần đây ở Việt Nam chúng ta thấy rằng việc bổ xung một
cách tiếp cận nghiên cứu về vai trò giới trong gia đình thông qua việc nghiên
cứu ngời phụ nữ nông thôn ngày nay. Đặc biệt là các cuộc nghiên cứu khoa
học trong mấy năm gần đây đã quan tâm rất nhiều tới ngời phụ nữ, mặc dù số
lợng các cuộc nghiên cứu về gia đình và phụ nữ khác nhiều nhng những
nghiên cứu về vị trí và vai trò của ngời phụ nữ trong công việc gia đình - nhất
là phụ nữ thuộc các tỉnh miền núi thì lại đợc chú ý nhiều, các số liệu về vấn
đề này còn khá nhiều hạn chế, vì vậy nó đã gợi mở cho tôi hớng nghiên cứu
đề tài : Vai trò của ngời phụ nữ tỉnh Yên Bái trong công việc gia đình hiện
nay ".
ii: Một số đặc điểm chung về kinh tế - văn hoá - x ã
hội của tỉnh Yên Bái
Đất nớc ta đang bớc vào công cuộc đổi mới về mọi thành tựu kinh tế -
văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế. Trong đó không thể không kể đến một tỉnh
miền núi, tỉnh Yên Bái, với diện tích 6808,1km2 ,có số dân 675,1 nghìn ngời
sống trong 7 huyện, và 2 thị xã.
Trong những năm gần đây cùng với xu hớng phát triển chung của cả
nớc, tỉnh Yên Bái cũng đã phát huy gần hết sức mạnh của mình về lĩnh vực
kinh tế - văn hoá - xã hội kỹ thuật ngoại giao....
Trớc những tác động của kinh tế thị trờng tỉnh Yên Bái cũng đang trên
đà phát triển, góp phần nâng cao dần mức sống chung của cả về vật chất lẫn
tinh thần. Song song với sự phát triển đó trên nhiều lĩnh vực không ít những
19khó khăn phát sinh còn tồn đọng cho đến bây giờ nh ma tuý, mại dâm và

điểm 100% hộ làm nông nghiệp.
20Bên cạnh đó xã Y Can là một xã rất nghèo có tới 80% dân số sống từ
mức trung bình trở xuống trong tổng số 2896 khẩu trong đó nam chiếm
1452ngời và nữ chiếm 1444 ngời. Số ngòi trong độ tuổi lao động 848 ngời
trong đó nam 370 ngời, nữ 478 ngời, trong đó số lao động làm nông nghiệp
750 ngời, lâm nghiệp là 98 ngời còn lại là làm nghề khác. Số hộ gia đình 692
hộ trong đó có hai hộ nhà tầng, 7 hộ nhà ngói tờng gạch, 20 hộ nhà tre, và
663 hộ nhà lợp lá cọ. Về sự phân hoá mức sống giàu nghèo thì có 204 hộ khá,
360 hộ trung bình, 128 hộ nghèo và 75 hộ rất nghèo. Trình độ văn hoá rất
thấp và số mù chữ chiếm tỷ lệ rất cao trong độ tuôỉ từ 15 đến 35 tuổi chiếm
100 ngời, trong đó phụ nữ 70 ngời. Nh vậy có thể nói Y Can rất lạc hậu so với
các xã bạn, cả xã cha có một dòng điện, phơng tiện đi lại quan trọng nhất là
đò ngang bởi vì toàn bộ hoạt động trao đổi buôn bán, thông tin liên lạc của
xã là bên kia sông. Đây chính là trở ngại lớn nhất cho việc phát triển kinh tế
trong điều kiện hiện nay khi mà kinh phí của Nhà Nớc đầu t cho miền núi rất
hạn hẹp.
Mặc dù đã có khoảng cách rất nhiều về kinh tế cũng nh đời sống giữa
hai xã, và thực tế phân công lao động không có nhiều nhng hai xã đã cố gắng
làm hết khả năng của mình để phát huy và sánh vai cùng xã bạn
Nhìn chung đời sống nhân dân hai xã còn gặp nhiều khó khăn, dịch vụ
chủ yếu là lao động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Hiện nay xã đã
vạch ra mục tiêu chiến lợc năm 2020 nhằm xây dựng vùng nông thôn miền
núi mới, cải tiến về nhiều mặt, tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm nhiều hơn
trong lao động sản xuất và kỹ thuật chăn nuôi. Mở rộng nhiều trờng học,
trạm xá, huy động toàn bộ những ngời mù chữ và tái mù chữ tiếp tục đợc đi
học, nhất là những ngời phụ nữ. Mở nhiều lớp tập huấn cho các cán bộ xã và
cho phụ nữ để cho họ phát huy hết khả năng vốn có của mình, phát triển

hơn.
- Trong điều kiện một đất nớc lạc hậu bắt đầu phát triển kinh tế thị tr-
ờng, việc phát triển kinh tế hộ gia đình với mức khoán sản phẩm bình quân
3sào/ 1ngời, song đất canh tác chỉ sản xuất đợc một vụ - điều đó đã ảnh hởng
tới đời sống ngời dân nói chung và buộc ngời phụ nữ phải tham gia vào hoạt
động sản xuất, làm kinh tế gia đình nói riêng.
22- Điều kiện thực tế còn nhiều khó khăn, nhất là những xã vùng sâu,
vùng xa nh: điện không có, phơng tiện đi lại chủ yếu bằng đò, đờng giao
thông đi lại khó khăn....Điều đó đã tác động ít nhiều tới hoạt động của ngời
phụ nữ trong việc làm các công việc gia đình.
Trong điều kiện ấy tình trạng tham gia làm các công việc gia đình của
phụ nữ nơi đây là một vấn đề vô cùng bức xúc. Khảo sát xã hội học 400 mẫu
gia đình tháng 3 năm 1999 vừa qua của chúng tôi cho thấy rõ một điều : Ngời
phụ nữ đã phải tham gia làm các công việc nh.
- Giặt giũ : 99,7%
- Nấu ăn : 90,8%
- Lau chùi, dọn dẹp nhà cửa: 84,9%
- Chăm sóc con cái : 82,6%
- Làm kinh tế : 57,2%
- Chăm sóc ngời già: 45,8%
- Dạy con học : 38,7%
Có thể nhận thấy phụ nữ phải tham gia chủ yếu trong các công việc gia
đình - Đặc biệt là các công việc : giặt giũ, nấu ăn, lau chùi, dọn dẹp nhà cửa
và chăm sóc con cái
Để xác định đợc thực chất việc tham gia các công việc gia đình của ng-
ời phụ nữ vào thời điểm phỏng vấn chúng tôi nhận thấy :
23

24Thực chất sự tham gia làm các công việc gia đình của ngời phụ nữ theo
lát cắt thời gian này đã phản ánh chi tiết hơn vai trò quan trọng của phụ nữ
trong các hoạt động gia đình và cách nhìn nhận của gia đình mà cụ thể ở đây
là ngời chồng về vị trí, vai trò của ngời vợ trong gia đình. Tìm hiểu kỹ về vấn
đề này chúng tôi nhận thấy rõ điều đó.
III.1.2/ Thực trạng nhìn nhận của ngời dân Yên Bái về vị trí, vai
trò của ngời phụ nữ trong gia đình
Việt nam là một nớc nông nghiệp phơng đông, gia đình từ xa đến nay
vẫn có một ý nghĩa hết sức hệ trọng. Xã hội Việt nam với nền văn minh lúa n-
ớc về cơ bản là sống định c và lấy gia đình làm đơn vị gốc. Vì vậy tình cảm,
tâm lý của con ngời Việt nam gắn liền với gia đình rất bền chặt, gia đình lại
không tách rời họ và làng. Đó cũng là một trong những mắt xích cho phép
hiểu sâu sắc đất nớc, con ngời Việt nam. Qua đánh giá và phân tích một số
câu trả lời của ngời dân nhất là những ông, bà đã có tuổi, thì hình ảnh về đời
sống gia đình với sự phân công vai trò truyền thống khá rõ, ngời vợ gắn với
vai trò ngời nội trợ, phạm vi hoạt động chủ yếu là gia đình và ngoài xã hội.
Qua phỏng vấn ông Thái thôn Hoà Bình xã Y Can đợc biết : " Ngời phụ nữ
bao giờ cũng là ngời vợ - ngời nội trợ, bởi vì đó là trách nhiệm của họ - "Nữ
công gia chánh mà ". Vì vậy nhóm chỉ báo về sự thăng tiến và cơ động xã hội
của ngời phụ nữ nơi đây đợc đánh giá thấp hơn nam giới, với những kỳ vọng
vai trò nh vậy, những quan hệ trong đời sống gia đình nhấn mạnh đến quan
hệ dòng máu hơn là quan hệ hôn nhân, một đặc trng của hôn nhân truyền
thống. Hơn nữa không thể có một đời sống hôn nhân tích cực khi thiếu đi sự
chia sẻ trách nhiệm trong một lĩnh vực truyền thống của đời sống gia đình là
công việc nội trợ. Đặc biệt là Bà Thái thôn Hoà Bình đã nói Ngày xa cái
thời của chúng tôi khác bây giờ lắm, gia đình lúc đó theo chế độ gia trởng
với quyền thống trị tuyệt đối của ngời đàn ông, ngời chủ gia đình, còn chúng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status