Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế gía trị gia tăng ở việt nam - Pdf 24

Phạm Thị Biện
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc
dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước,
cạnh tranh với nước ngoài.
Từ năm 1999 trở về trước, chúng ta đã sử dụng thành công cơ chế thuế cũ, tuy
nhiên trong tình hình mới , do xu hướng toàn cầu hoá chung của thế giới, cơ chế thuế
hiện hành ở Việt Nam đã lộ rõ một số mặt bất cập, dẫn đến khó khăn về quản lý, điều
hành thuế và thất thu Ngân sách quốc gia.
Vì vậy việc áp dụng một số luật thuế mới trong giai đoạn này là hết sức cần
thiết. Trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã có những đóng góp quan trọng cho
tiến trình cải cách chính sách thuế của Nhà nước.
Trên thế giới, thuế GTGT (hay còn gọi là VAT) đã có lịch sử lâu đời (bắt đầu
xuất hiện năm 1917) và qua quá trình kiểm nghiệm ở nhiều nước trên thế giới, nó đã
thể hiện được tính ưu việt của mình so với các loại thuế tương đương. Mặc dù vậy
một số nước cũng đã áp dụng không thành công thuế GTGT do chưa chuẩn bị kỹ cơ
sở hạ tầng cho một có chế thuế mới cũng như do chưa nắm bắt rõ bản chất loại thuế
này.
Chính vì vậy mục đích của đề án này là tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua và đề xuất những biện
1 1
Phạm Thị Biện
pháp xử lý thuế trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế ở Việt
Nam.
2 2
Phạm Thị Biện
PHẦN II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG.
I./ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT).
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát

hành.
Thuỵ Sỹ đã phản đối đề nghị ban hành GTGT thay thế cho bán lẻ hiện hành.
Song tháng 1 năm 1995, Thuỵ Sỹ đã ban hành GTGT.
3./ Tại sao lại chọn thuế GTGT.
(1) thuế GTGT ra đời là một chu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu thuế cũ
4 4
Phạm Thị Biện
không còn đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới. Nói chung các yêu cầu đó có
thế chia thành bốn dạng sau:
Thứ nhất: Thuế doanh thu hiện hành không đáp ứng được yêu cầu thu và quản
lý, có nhiều bất hợp lý (như trùng lặp, quá phức tạp gây tâm lý nặng nề, hiệu quả
không cao).
Thứ hai: Do quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu
mở rộng lưu thông hàng hoá giữa các nước đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu đối
với xuất nhập khẩu hàng hoá là rất quan trọng, nó giúp kích thích các nghành sản xuất
dịch vụ trong nước, khuyến khích xuất khẩu những tiềm lực quốc gia và góp phần
thúc đẩy những mặt hàng thiết yếu. Trong xu thế hiện nay, không thể tồn tại nền kinh
tế đóng, hoặc gần như đóng do những rào cản thuế quan bất hợp lý. Thuế GTGT ra
đời đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu trên.
Thứ ba: Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và có điều kiện thu hẹp các
loại thuế khác. Đa số các cơ chế thuế hiện hành của các nước khi chưa áp dụng thuế
GTGT đều cồng kềnh, phức tạp và có nhiều sự chồng chéo, điều đó gây khó khăn cho
việc quản lý thuế của Nhà nước (như tính thuế, thu thuế, giải quyết các trường hợp
quá hạn thuế, miễn thuế ) cũng như việc kinh doanh của người dân. Tình trạng này dễ
dàng gây ra tâm lý ngại thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không
nhỏ. Để giải quyết các vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ
ràng đối với tất cả mọi người, và thuế GTGT là một giải pháp.
5 5
Phạm Thị Biện
Thứ tư: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thống thuế cho phù hợp.

Một số nước dùng doanh thu để giới hạn đối tượng nộp thuế. Ví dụ: Không
phải là đối tượng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm
thấp hơn:
+ 200.000 pê xô (Philipines).
+ 200.000 Sek (Thuỵ Điển).
+ 30.000 Can D (Canada).
+ 100.000 DDK (Đan Mạch).
+ 1.000.000 Sin D (Singapore).
7 7
Phạm Thị Biện
+ 60.000 D (Indonexia).
Có nước áp dụng hình thức thu khoán đối với đối tượng kinh doanh vừa và nhỏ.
Như vậy, việc xác định đối tượng nộp thuế là để nhằm giới hạn đối tượng nộp thuế,
loại trừ bớt số lượng lớn về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng GTGT, thường có
ba hình thức triển khai áp dụng GTGT.
Hình thức thứ nhất: áp dụng GTGT toàn bộ, có nghĩa là áp dụng đối với các đối
tượng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán và bán
lẻ. Điển hình áp dụng hình thức này là các nước: Thuỵ Điển, Pháp, Thái Lan,
Hungari.
Hình thức thứ hai: áp dụng GTGT từng phần, tức là áp dụng đến từng khâu của
quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá. Ví dụ: Indonexia, Nhà nước ban hành đạo
luật từ năm 1983, nhưng do trình độ quản lý của cán bộ nghành thuế và nhận thức của
người nộp thuế nên đến năm 1985, đạo luật thuế mới được thi hành và thực hiện theo
từng bước như sau:
+ Năm 1985: Đối tượng nộp thuế là những người sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.
Hình thức thứ ba: Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
8 8

đơn và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và
bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản được sử dụng theo phương pháp này (1/4/1989): Thu
GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều chỉnh
lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp dụng riêng
đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phương pháp tính thuế hiện
hành các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không phải nộp
thuế GTGT.
3. Thuế suất.
Thông thường, để đạt được số thu tương đương so với số thu hiện hành của
thuế doanh thu mà nó thay thế, GTGT phải có mức thuế suất cao hơn (thường là gấp
10 10
Phạm Thị Biện
ba lần thuế suất doanh thu). Vì GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá hay
sản phẩm qua mỗi lần luân chuyển hàng hoá (danh mục các nước áp dụng thuế GTGT
và thuế suất GTGT).
Có hai cơ chế thuế suất được áp dụng:
+ Cơ chế một thuế suất (không kể thuế suất 0% áp dụng với xuất khẩu và một
số mặt hàng thiết yếu (nếu có). Trong số 100 nước thì có 44 nước áp dụng GTGT với
cơ chế một thuế suất, trong đó Đan Mạch là một nước có mức thuế suất cao nhất
(32%). Nhật, Singapore la nước có mức thuế suất thấp nhất (3%).
+ Cơ chế nhiều thuế suất (không kể thuế suất 0%).
Trong số các nước còn lại áp dụng GTGT với có chế nhiều thuế suất thì số
lượng thuế suất giao động từ 2 đến 5 (trường hợp Colombia 5 thuế suất). Thuế suất
thấp nhât la 1% (Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ), 2% (Nam Triều Tiên) và thuế suất cao nhất là 50%
(Senegal), 45% (Trung Quốc), 38% (ý) và 36% (Hy Lạp). Phần lớn các nước áp dụng
cơ chế ba thuế suất. Chỉ có một số nước áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhưng không
thấp hơn 5%; Một mức thuế suất cao thường hơn 15%.

thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
từng loại đối tượng).
Việc thoái thuế: Phần lớn được giao cho cơ quan thu thuế, trong trường hợp số
thuế được khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối
tượng kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu
trước. Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả
dần trong một thời gian tuỳ theo qui định của từng nước và khả năng ngân sách mỗi
nước. Theo cách này cơ quan thuế thường có một tài khoản thu GTGT và sử dụng
nguồn thu để thoái thuế, khoản còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nước áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và
cho khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các
nước cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầu
tư, cũng có nước không cho áp dụng như Trung Quốc.
13 13
Phạm Thị Biện
14 14
Phạm Thị Biện
PHẦN III. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ GTGT TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG NƯỚC ĐÃ ÁP
DỤNG.
I./ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ GTGT Ở MỘT SỐ NƯỚC.
1./ Thuỵ Điển: Là một nước đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969).
Trước khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một
thuế suất 10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Mục tiêu của sự
chuyển đổi là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động
xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi thuế ở Thuỵ Điển được tiến hành qua hai giai đoạn:
- Mùa xuân năm 1968 Bộ Tài Chính giải trình trước Quốc hội và các doanh nghiệp
về kế hoạch, nội dung chuyển đổi cơ chế nộp thuế.
- Mùa thu năm 1968 được Quốc hội thông qua và ban hành năm 1969 với những nội

hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số tiền nhận
được từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với người sản xuất
gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0% đến 30%.
Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh được áp dụng để
khuyến khích một số hoạt động như sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hưởng đến giá
cả một số mặt hàng như dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhẹ và các dịch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài sản dùng
trong thương mại hoặc kinh doanh.
Kết quả thu thuế GTGT của Philipines được biểu hiện qua ba năm (bảng kèm
theo) đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và
20 năm áp dụng cơ chế thuế mới.
Năm Số thu
từ VAT
Số thu
từ
thuế
Số thu
của
CP
GDP GNP % số
thu
VAT/số
% số
thu
VAT/số
Số thu
VAT/

Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bước
đầu có nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phương pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơn, nên
phạm vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế được khấu trừ
có phần thuế chưa được tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện
cơ chế giá thị trường. Nhưng hiện nay Nhà nước Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100
mặt hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Để việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối
tượng để có biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui
mô lớn và vừa thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng
trong các xí nghiệp quốc doanh.
II./ MỘT SỐ NƯỚC KINH TẾ PHÁT TRIỂN VẪN CHƯA ÁP DỤNG
THUẾ GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm nhưng cho đến nay có một sô
nước kinh tế phát triển chưa áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của
19 19
Phạm Thị Biện
vấn đề trên thông qua phân tích tình hình hai nước đại biểu là Mỹ và Austraylia
Hoa Kỳ (Mỹ): Là một nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Một
cường quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, tuy nhiên, cho đến
nay Mỹ vẫn chưa chấp nhận GTGT. Vì vậy đau là những lý do ngăn cản con đường
GTGT xâm nhập vào Mỹ?
Về cơ bản Mỹ thoả mãn với hệ thống thuế doanh thu khâu bán lẻ cấp bang và
liên bang hiện hành. Thuế suất doanh thu bán lẻ cấp bang tương đối thấp, trung bình
khoảng 4,6%, diện đánh thuế cũng tương đối hạn chế. Ví dụ: ở Mỹ có 29 bang không
đánh thuế lương thực thực phẩm, 25 bang miễn thuế cho hầu hết các dịch vụ. Cơ chế
thuế hiện hành của Mỹ không gây trở ngại lắm cho hoạt động sản xuất dịch vụ trong

Phạm Thị Biện
d. Chi phí cho việc cưỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.
Như vậy, những lý do chủ yếu của việc chưa ban hành thuế GTGT ở Mỹ và
Autralia là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù
của các nước đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo
trộn đễ dàng gây nên tình hình mất ổn định chung).
III./ BÀI HOC KINH NGHIỂMUT RA TỪ CÁC NƯỚC ĐÃ TÍNH THUẾ
GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nước
có thể rut ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm cần nghiên cứu áp dụng nhằm góp
phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị trường, mở
rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách quốc gia.
Nhưng không thể và không nên áp dụng thí điểm thuế GTGT trong phạm vi hẹp ở
một số nghành và một số đơn vị.
2. Nội dung chính sách thuế GTGT ban hành phải được nghiên cứu kỹ, qui định cụ
thể làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện được rõ ràng, thống nhất. Phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT với sự vận dụng và qui định phù hợp với từng
nước.
22 22
Phạm Thị Biện
- Củng cố chế độ hoá đơn, chứng từ, hạch toán, kế toán, nhưng không thể đợi đến
lúc thực hiện đầy đủ hoá đơn chứng từ mới áp dụng GTGT, vì việc áp dụng GTGT
cũng thúc đẩy việc sử dụng hoá đơn chứng từ.
- Cần làm tốt công tác tuyên truyền và hướng dẫn chế độ thuế này để mọi đối tượng,
mọi người đều hiểu và thực hiện đúng.
- Công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thuế GTGT cho cán bộ thuế phải
được quan tâm và chuẩn bị trưóc.
- Phải từng bước hiện đại hoá trang thiết bị công cụ quản lý thuế, trong đó trang bị

24 24
Phạm Thị Biện
- Trong chính sách còn có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, do đó, có
thêt trở thành những cản trở trong quá trình mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các
nước trong khu vực và trên thế giới (đặc biệt là chính sách thuế trong việc thu hút đầu
tư nước ngoài cũng như trong nước.
25 25

Trích đoạn MỘT SỐ VƯỚNG MẮC CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status