TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Ñeà taøi:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
Giáo viên hướng dẫn : TS. Bùi Văn Mưa
Học viên thực hiện : Võ Xuân Mỹ
STT : 102
Lớp – Khóa : Đ5 – K21
-Tp.Hồ Chí Minh, 2012-
2
MỞ ĐẦU
Ngày nay, triết học Mác –Lênin ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn
trong sự phát triển của lịch sử - xã hội loài người ở các nước xã hội chủ nghĩa.
Do đó, việc tìm hiểu các tư tưởng triết học Mác –Lênin cũng như tìm hiểu các
tiền đề của triết học Mác là một trong những yêu cầu quan trọng đối với bất kỳ
công dân nào của một nước xã hội chủ nghĩa. Bản thân tôi, trong quá trình được
đào tạo bậc đại học và cao học, đã được tiếp thu thêm các kiến thức về tiền đề
triết học Mác –Lênin. Trong đó, phép biện chứng của Hêghen là tiền đề quan
trọng. Mác và Ănghen đã trình bày trong một số tác phẩm của mình,về việc xuất
phát từ triết học Hêghen như thế nào và đoạn tuyệt với nó ra sao. Ngoài ra triết
học của Hêghen có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu
Âu đương thời, triết học của ông được gọi là "tinh thần Phổ". Chính điều này đã
thôi thúc tôi tìm hiểu sâu hơn về nội dung triết học Hêghen để thấy được các giá
trị và hạn chế của phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Tiểu luận “Phép biện
chứng duy tâm của Hêghen và những giá trị, hạn chế” được hoàn thành với sự
hướng dẫn của giảng viên cùng với việc tham khảo chính các tài liệu triết học
của C.Mác và Ănghen, tài liệu triết học của Khoa Lý luận Chính trị - Đại học
Kinh tế Tp.HCM do TS.Bùi Văn Mưa làm chủ biên.
thần, giữa khách thể và chủ thể…trong ý niệm tuyệt đối. Theo Hêghen, ý thức con
người là sản phẩm của lịch sử nhân loại; còn lịch sử nhân loại là hiện thân của ý
niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của ý niệm tuyệt đối trên trần gian. Trong Hiện tượng
luận tinh thần, Hêghen cũng cho rằng triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối, là
khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn
bộ thế giới quan và tư tưởng con người. Mỗi hệ thống triết học của một thời đại
đều là sự chắt lọc, kết tinh toàn bộ tư tưởng triết học trước đó. Do đó, triết học và
lịch sử triết học thống nhất với nhau để bao quát toàn bộ lịch sử phát triển của ý
niệm tuyệt đối.
2. Khoa học lôgích
Khoa học lôgích là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống Hêghen, vì nó
nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, nhưng là điểm xuất phát
và nền tảng của toàn bộ hệ thống. Cũng như các nhà lôgích truyền thống, Hêghen
coi lôgích là khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy luật của tư duy. Tư
duy với tư cách là đối tượng của khoa học lôgích được Hêghen hiểu là tư tưởng
thuần túy, là tinh thần tuyệt đối. Hêghen phân biệt hai dạng tư duy: tư duy tự nó -
chính là tinh thần tuyệt đối tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực; tư duy cho
3
nó - tức tư duy con người, là tư duy tự nó ở giai đoạn phát triển cao nhất, là giai
đoạn tư duy có ý thức
Luận điểm xuyên suốt toàn bộ lôgích học cũng như hệ thống của Hêghen
là “ cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”. Nhiệm vụ của khoa
học lôgích là đào thải những hình thức của tư tưởng không thể hiện đúng bản
chất đích thực của tư duy sống động, đồng thời vũ trang cho con người một
phương pháp tư duy biện chứng nhằm khám phá ra chân lý, đi tới tự do.
Hêghen đưa ra các nguyên lý cơ bản xác định điểm khởi đầu khoa học
lôgích: tính khách quan, buộc các nhà nghiên cứu không được coi xuất phát điểm
một cách tùy tiện theo ý muốn chủ quan của mình, mà phải tuân theo tính khách
quan tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể; đơn giản và trừu
tượng nhất: Mọi quá trình vận động khách quan đều theo xu hướng từ đơn giản
Theo Hêghen: là sự nghiên cứu lý luận giới tự nhiên được hiểu như tồn tại
khách quan của tinh thần, hay sự tồn tại của tinh thần dưới dạng các sự vật vật
chất. Thế giới chúng ta, theo cách hiểu của Hêghen, là một chỉnh thể thống nhất
trong đó mọi sự vật đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau, không ngừng vận động
và phát triển.
Triết học tự nhiên của Hêghen gồm ba phần: thế giới cơ học, thế giới vật
lý học, thế giới các cơ thể sinh học. Ông đã nhìn thấy mối quan hệ khăng khít
không thể tách rời giữa vật chất và vận động. Theo ông “không có vận động nào
là vận động thiếu vắng vật chất và cũng không hoàn toàn giống như không có vật
chất nào là vật chất không vận động”. Tuy nhiên, ông chỉ dừng lại ở quan niệm
di dời vị trí trong không gian, hoặc sự lặp lại tuần hoàn của cái đã có từ trước. Và
những phạm trù trên vẫn bị ông giải thích một cách duy tâm.
4. Triết học tinh thần
Triết học tinh thần của Hêghen bao gồm học thuyết về tinh thần chủ quan,
học thuyết về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối. Tinh thần
chủ quan thể hiện sự tồn tại của mình trước hết trong linh hồn con người, sau đó
thể hiện trong ý thức để phân biệt với cơ thể, sau cùng thể hiện trong tri thức – cái
5
tinh thần bắt thế giới bên ngoài phục tùng nó. Trong khi đó, tinh thần khách quan
là sự phủ định biện chứng của tinh thần chủ quan. Ý niệm tuyệt đối thể hiện trong
pháp quyền, thông qua ý chí cá nhận. Khi cá nhân pháp lý trở thành chủ thể thì ý
niệm tuyệt đối thể hiện trong đạo đức học. Tinh thần khách quan hoàn thành quá
trình tự phát triển trong phong hóa, khi ý niệm tuyệt đối trở thành tự do trong các
hình thức sinh hoạt gia đình, xã hội công dân và nhà nước. Tinh thần tuyệt đối là
sự thống nhất giữa tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan. Ý niệm tuyệt đối
lần lượt thể hiện và hoàn thiện trong nghệ thuật, tôn giáo, triết học. Đây chính là
các hình thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để khám phá chính mình, quay về với
mình với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của nó, trong đó, triết học là
quá trình nhận thức đầy đủ và trọn vẹn nhất của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối
quay về với mình trong học thuyết về tinh thần tuyệt đối.
mình.
Vậy không có
quá trình lao động, con người không tách khỏi loài vật, bộ óc
con
người không
hoàn thiện, không nảy sinh nhu cầu nhận thức về thế giới,
không
có ý thức của
con người. Hêghen khẳng định ý thức và tư duy của con người
hình
thành trong
chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới, chứng tỏ
rằng
đã bắt đầu
thấy vai trò của lao động đối với sự hình thành và phát triển ý
thức
và tư duy.
Từ đó Hêghen cho rằng: bằng cách đó, con người tác động vào giới
tự
nhiên,
6
tạo ra giới tự nhiên thứ hai cho mình và làm chủ giới tự nhiên. Theo
Hêghen, con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử lại mang tính kế
thừa.
Vì
vậy, ý thức của mỗi cá nhân, của mỗi con người là khái quát lại toàn bộ
lịch
sử
mà tư tưởng nhân loại đã trải qua. Nhà nước là hiện thân của ý niệm tuyệt đối.
Nó ra đời nhằm duy
Hạn chế của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là ở chỗ
ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật. Đó là
phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu triệt để, thiếu khoa học. Hêghen cho
rằng: ý niệm tuyệt đối sinh ra vạn vật, con người là giai đoạn phát triển cao nhất
của ý niệm tuyệt đối, vậy ông đề cao con người. Đó là điểm đặc sắc trong triết
học của Hêghen, từ đó đề cao trí tuệ con người.
b. Phép biện chứng duy tâm về triết học
Hêghen là người có công khôi phục lại quan điểm triết học là khoa học
của
mọi
khoa học. Quan điểm này là quan điểm sai lầm và sau này đã gợi mởi
cho
Mác và Ănghen một cách hiểu mới về vai trò của triết học với khoa học cụ
thể.
Triết học là tinh hoa của thời đại thể hiện ở dạng tinh thần. Lịch sử triết
học
đã
khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại. Hệ thống triết học
cuối
cùng
trong lịch sử là kết quả của các hệ thống triết học trước đó. Chính
quan điểm này mâu thuẫn với phép biện
chứng
của Hêghen. Vì nếu là biện
chứng thì không thể cuối cùng được, không tìm
ra
nguyên nhân đầu tiên và kết
quả cuối
cùng.
2. Phép biện chứng duy tâm trong khoa học lôgích
là
những quy luật của tư
duy.
Đằng sau vỏ duy tâm, ông cho rằng tất cả sự
vật
trên thế giới, kể cả tư
duy của con người đều vận động, phát triển theo các
quy
luật, chính Hêghen là
người đầu tiên khái quát nên quy luật đó. Đây là điểm sáng trong phép biện
chứng.
Lần đầu tiên Hêghen coi nguyên lý đi từ trừu tượng đến cụ thể là một
trong những nguyên lý cơ bản trong vận động các khái niệm lôgích học.
Hêghen hiểu được lôgích là khoa học nghiên cứu tư duy như một quá trình
của trí tuệ và tư tưởng nhân loại; ông nhận thấy tư duy con người không chỉ bó
hẹp trong ý thức cá nhân thể hiện dưới dạng ngôn ngữ, mà cả trong quá trình
hoạt động, trong công cụ lao động và sản phẩm lao động của con người.
3. Phép biện chứng duy tâm trong triết học tự nhiên
Triết học tự nhiên của Hêghen, bên cạnh nhiều tư tưởng tích cực bởi ý đồ
của nó muốn đem lại cho con người một cách nhìn biện chứng về tự nhiên,
nhưng theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, là khâu yếu nhất trong hệ thống
của ông, không có nhiều ý nghĩa trong lịch sử triết học.
4. Phép biện chứng duy tâm trong triết học tinh thần
Quan điểm con người là sản phẩm, là chủ thể
của
chính bản thân mình
là quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Hêghen đã thấy được
vai
trò của lao động
đối với sự hình thành và phát triển của ý thức. Hêghen khẳng định ý thức và
chân
lý tuyệt đối ấy.
Theo Hêghen, nhà nước là hiện thân của ý niệm tuyệt đối.
Sai lầm
đầu tiên của Hêghen là quan niệm sai về bản chất của nhà nước. Hêghen cho
rằng nhà nước ra đời để duy trì xã hội công
dân
và bảo toàn các gia đình, để
điều hòa mâu thuẫn các giai cấp là sai lầm của
ông.
Theo Hêghen, nhà nước
là cho tất cả mọi tầng lớp nhưng lịch sử đã chứng minh
điều
đó hoàn toàn sai
lầm.
Tuy nhiên, bên cạnh những tư tưởng phản tiến bộ, Hêghen đã nêu ra
nhiều tư
tưởng
biện chứng quý báu về sự phát triển của đời sống xã hội.
Trong đó, ông đặc
biệt
quan tâm nghiên cứu về vấn đề nguồn gốc và bản
chất của nhà nước. Hêghen
tìm
nguồn gốc nhà nước từ mâu thuẫn xã hội. Bản
chất của nhà nước là mang bản
chất
thống trị của giai cấp thống trị về kinh tế
nhưng Hêghen cho rằng nhà nước
kế và phát triển thành phép biện chứng duy vật một công cụ không thể thiếu
trong lý luận và thực tiễn ngày nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Bùi Văn Mưa (chủ biên) - Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên
cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học) - Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010.
2- Bộ Giáo dục và Đào tạo - Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên
cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học) - NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội – 2003.
3- C.Mác và Ph.Ănghen - Toàn tập – NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tập 20.
12
4- Ph.Ănghen – Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển
Đức – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004.
5-
nghia-cua-phep-bien-chung-heghen.html
6-
13