Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những kênh huy động vốn quan
trọng cho doanh nghiệp và là phương thức đầu tư được ưa chuộng. Bên cạnh việc đầu tư
trên thị trường thứ cấp, thì đầu tư trên thị trường sơ cấp vào các đợt IPO cũng là một hình
thức đầu tư được lựa chọn. Thực trạng IPO những năm gần đây cho thấy nhiều doanh
nghiệp tiến hành IPO nhưng thất bại, cùng sự trồi sụt của thị trường chứng khoán, nhiều
doanh nghiệp phải giãn tiến độ IPO hoặc kết quả IPO không khả quan, thậm chí
nh
iề
u
phiên IPO còn phải huỷ bỏ do không có người đăng ký
m
u
a
.
Với mong muốn giới thiệu những vấn đề chính của việc phát hành ra công chúng lần
đầu, thực trạng việc định giá doanh nghiệp IPO trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, qua
đó tìm ra những bất cập của việc định giá doanh nghiệp IPO và kiến nghị phương pháp đầu
tư để nhà đầu tư tham khảo, đề tài “Định giá IPO- Bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam”
được tiến hành.
Với mục tiêu như trên, đề tài nghiên cứu có nội dung như sau:
Chương 1: Lý thuyết và các chứng cứ thực nghiệm về vấn đề định giá phát hành IPO.
Chương 2: Thực trạng vấn đề định giá phát hành IPO thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp cho việc định giá phát hành IPO tại Việt Nam
Chương 4: Kiến nghị đầu tư.
- 1 -
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT VÀ CÁC CHỨNG CỨ THỰC NGHIỆM VỀ VẤN ĐỀ
ĐỊNH GIÁ ĐỂ PHÁT HÀNH IPO
1. Lý thuyết về định giá để phát hành IPO
)
Khi quyết định thực hiện IPO, công ty phát hành phải lựa chọn nhà bao tiêu
(
c
òn
gọi là nhà bảo lãnh). Nhà bảo lãnh thường là một ngân hàng hay một công ty
c
h
ứ
ng
khoán được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Đợt phát hành nhỏ chỉ cần một
nhà
b
ả
o
lãnh chính, nhưng nếu đợt phát hành lớn thì phải cần đến một vài
nhà bảo
lã
nh
chính để đảm bảo uy tín và sự thành công cho đợt phát hành (các
nhà bảo lãnh
s
ẽ
thành lập một tổ hợp bảo
lã
nh).
Công ty phát hành và nhà bảo lãnh phát hành thoả thuận với nhau một mức giá
nh
x i n p h é p p h át h àn h
Sau khi chấp nhận làm bảo lãnh phát hành, tổ chức bảo lãnh sẽ liên hệ với các
c
ông
ty luật và kiểm toán để chuẩn bị hồ sơ đăng ký phát hành. Công việc quan
t
rọng
nhất mà nhà bảo lãnh phải làm là chuẩn bị bản cáo bạch, được xem như
là
m
ộ
t
quyển sách giới thiệu về công ty phát hành bao gồm tất cả các thông tin tài
chính
v
ề
công ty phát hành trong vòng 5 năm trở lại đây, thông tin về ban giám
đốc và
m
ộ
t
bản miêu tả thị trường mục tiêu, đối thủ cạnh tranh, chiến lược phát
triển của
c
ông
ty. Bản cáo bạch cũng cảnh báo các nhà đầu tư về mối nguy hiểm
của việc mua
c
ổ
- 3 -
nộp
lên Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước chờ xét duyệt. Nếu có sai sót thì công ty
ph
át
hành và nhà bảo lãnh phát hành phải sửa chữa, bổ sung kịp thời bằng các hồ
sơ
bổ sung.
Bư ớ c 4: M àn v ậ n độ n g ( r oad sh o
w
)
Đây là bước quan trọng góp phần thành công trong đợt phát hành cổ phiếu lần
đ
ầ
u
ra công chúng. Vì là các công ty lần đầu phát hành ra công chúng nên các
thông
ti
n
liên quan đến công ty hầu như không được nhiều người biết đến. Do đó,
cần phải
c
ó
một buổi gặp gỡ giữa công ty phát hành, các nhà bảo lãnh phát hành
và các nhà
đ
ầ
u
ng.
Bư ớ c 5 : C ô n g bố p h á t h à n h v à p h â n p h ối
c
ổ
p
h
i
ế
u
Sau khi được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước thông qua và cấp giấy phép
ph
át
hành, công ty phát hành phải ra thông báo phát hành trên các phương tiện
thông
ti
n
đại chúng, đồng thời công bố ra công chúng bản cáo bạch chính thức và
thực
h
h.
- 4 -
1.3 Vai trò của IPO
1.3.1 Đối với thị trường chứng khoán
Xét tổng thể, đầu tư chứng khoán chỉ là một kênh đầu tư và giá trị đầu tư qua kênh này vẫn
còn quá nhỏ so với số tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng. Vì vậy, các đợt IPO thành công
sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhà đầu tư đến với thị trường chứng khoán qua đó làm tăng quy
mô và khối lượng giao dịch và thu hút thêm luồng tiền lớn vào thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, cũng không loại trừ khả năng một nguồn vốn tương đối lớn sẽ
bị tạm thời hút ra khỏi thị trường để đưa vào đấu giá .
Với sự tham gia nhiệt tình của đối tác ngoại, dự kiến mức giá bán cho các nhà đầu tư chiến
lược nước ngoài dù là "hợp lý nhất" căn cứ vào khả năng đóng góp cho sự phát triển của
các doanh nghiệp IPO trong tương lai cũng sẽ rất cao, qua đó thu hút được một nguồn vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài vào với thị trường chứng khoán trong nước.
Giữa sự kiện IPO của một doanh nghiệp và thị trường chứng khoán có tác động "tương
tác" lẫn nhau. Sự sôi động hay trầm lắng của thị trường những ngày gần với ngày đấu giá
sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp, ngược lại, kết quả đấu giá của doanh
nghiệp cũng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu khác trên thị trường.
Việc xác định mức giá đấu thành công tốt đối với doanh nghiệp cũng sẽ khiến thị trường
định giá lại các cổ phiếu đang niêm yết lẫn OTC, trong đó đặc biệt là các cổ phiếu cùng
ngành. Ngoài ra, nó còn góp phần làm "tăng nhiệt" cho thị trường nói chung.
1.3.2 Đối với doanh nghiệp
Lợi ích đầu tiên mà quá trình IPO mang lại cho doanh nghiệp là cơ hội giao tiếp - truyền
thông những thông tin chính xác tới công chúng và là điểm khởi đầu cho mối quan hệ của
doanh nghiệp với công chúng. IPO thể hiện khẳng định của doanh nghiệp xây dựng giá trị
ổn định dài hạn cho cổ đông.
Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, các công ty có thể huy động được
nhanh và nhiều vốn thông qua việc tiến hành IPO trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu
- 5 -
của công ty cũng có thể đạt được tính thanh khoản rất cao và các giá trị gia tăng về giá sau
ấn, phí kiểm toán, phí niêm yết…Hàng năm công ty còn phải chi trả chi phí kiểm toán báo
cáo tài chính, chi phí chuẩn bị nộp báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán
và chi phí công bố thông tin định kỳ.
Công ty đại chúng phải tuân thủ chế độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự
giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác. Việc công bố thông tin về doanh thu, lợi
nhuận, phương thức hoạt động ... cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin nội bộ có thể đẩy
công ty vào tình thế bất lợi.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề định giá IPO
2.1 Yếu tố thông tin
Giá IPO được xác định dựa vào việc sinh lời của các hoạt động của công ty, do đó đòi hỏi
phải có các thông tin về triển vọng lợi nhuận của công ty một cách chính xác để việc định
giá IPO có hiệu quả. Ngoài ra, các thông tin về ngành cũng hết sức quan trọng để các tổ
chức tư vấn tìm kiếm, tiếp cận những thông tin cần thiết liên quan đến công việc, phục vụ
cho việc định giá một cách chuyên sâu và chính xác.
2.2 Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô phát triển ổn định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giúp
các nhà kinh tế dự đoán tốt hơn các chỉ tiêu kinh tế: chỉ số lạm phát, lãi suất dài hạn, chỉ số
tăng trưởng kinh tế… từ đó định lượng tốt hơn các tham số trong các công thức xác định
giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, môi trường kinh tế cạnh tranh với sự ổn định của các ngành
sản xuất sẽ đem lại sự ổn định cho nguồn cung cấp đầu vào và sức mua thị trường sản
- 7 -
phẩm của công ty, giúp các nhà kinh tế có sự dự đoán chính xác hơn về khả năng tăng
trưởng trong tương lai của doanh nghiệp.
2.3 Môi trường chính trị pháp luật
Môi trường chính trị pháp luật minh bạch, ổn định sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả, từ đó các kế hoạch cho tương lai cũng trở nên khả thi hơn. Do đó việc dự báo luồng
tiền của doanh nghiệp sẽ trở nên dễ dàng và đáng tin cậy hơn. Hơn thế, sự quy định rõ ràng
của pháp luật về phương pháp tính giá, định giá các tài sản…giúp các doanh nghiệp định
giá tính toán một cách chính xác hơn giá trị doanh nghiệp.
2.4 Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp
định thị phần của doanh nghiệp và trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu
tư.
Song song với tài sản hữu hình là tài sản vô hình. Thương hiệu, bản quyền, bí quyết kỹ
thuật, uy tín... là những tài sản vô hình phổ biến của doanh nghiệp. Mặc dù tài sản vô hình
không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết bị máy móc nhà xưởng khác của
doanh nghiệp, nhưng nó lại rất có giá trị và có thể trở thành yếu tố quan trọng trong sự
thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Nếu như trước đây, tài sản hữu hình thường
được coi là thước đo giá trị và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thì hiện
nay, cách hiểu này đã thay đổi đáng kể và tài sản vô hình đang dần trở thành yếu tố quyết
định giá trị của doanh nghiệp.
2.8 Yếu tố con người
Mặc dù, trong thời đại ngày nay, công nghệ đã trở thành một trợ thủ đắc lực trong quản lý
trên mọi phương diện. Tuy nhiên, công nghệ dù có hữu dụng đến mấy cũng không đem lại
những biến đổi tích cực, nếu con người không sẵn sàng hoặc không có khả năng ứng dụng
một cách hiệu quả. Con người chính là yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị doanh
- 9 -
nghiệp. Đặc biệt, các nhà quản trị doanh nghiệp trở thành một trong những yếu tố rất đáng
quan tâm khi xem xét đầu tư vào một cổ phiếu của doanh nghiệp. Một ban lãnh đạo tài
năng được xem như là xương sống của bất kỳ doanh nghiệp thành công nào. Lãnh đạo có
tài có thể đưa doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu được xã hội ghi
nhận và ngược lại. Thế nhưng, vấn đề định giá ban lãnh đạo doanh nghiệp thật sự là việc
làm rất khó, bởi có thể nói rằng, yếu tố con người, nhất là các vị trí quản trị cấp cao được
xem là tài sản vô hình lớn nhất của doanh nghiệp, mà việc định giá tài sản vô hình luôn
luôn là một việc không hề đơn giản.
3. Vấn đề định giá phát hành IPO trên thế giới
3.1 Lý do và thời gian phát hành ra công chúng.
Trở thành công ty đại chúng đánh dấu một bước ngoặt trong chu kỳ sống của công ty. Phát
hành ra công chúng sẽ giúp công ty tăng vốn chủ sở hữu từ đó hỗ trợ cho kế hoạch tăng
trưởng trong tương lai, nhưng đánh đổi lại là sự giám sát của công chúng đối với công ty
cũng tăng lên. Brealy và Myers (2005) phát biểu rằng: các công ty Mỹ có thể tìm kiếm
cổ phiếu trong đợt IPO và họ đánh cược những cổ phiếu này trong ngày niêm yết của công
ty, tính trên trung bình họ sẽ có thể có lợi nhuận cao hơn so với thị trường. Tuy nhiên có
một yếu tố nguy cơ ở đây. Nguy cơ trong việc ngăn chặn tiền của một người trong IPO và
không nhận được phân bổ. Rock (1986) đã chứng minh các nhà đầu tư nhỏ lẻ không có
thông tin có thể gặp phải vấn đề “Winner’s curse”. Họ có thể mua được những cổ phiếu có
tỷ suất sinh lợi thấp trong ngày giao dịch đầu tiên. Hoặc họ có thể không mua được những
cổ phiếu mà có tỷ suất sinh lợi cao trong ngày giao dịch đầu tiên bởi vì nhu cầu thị trường
cao cho những đợt IPO này.
Như vậy những nhà đầu tư nhỏ lẻ không có thông tin không thể tận dụng lợi thế vốn có
trong những đợt IPO định giá thấp. Bên cạnh đó, những nhà đầu tư không có thông tin có
thể không hiểu đầy đủ các yếu tố nguy cơ được liệt kê trong các tài liệu IPO được cung
cấp.
- 11 -
Ở một mức độ nào đó, các cơ chế đánh giá được giới thiệu trong các thị trường IPO Ấn Độ
đã được chứng minh là hữu ích cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ.
3.4 Thực trạng vấn đề định giá trên thế giới
Việc xác định một chứng khoán bị định giá thấp được tính toán dựa vào phần trăm chênh
lệch giữa giá IPO được bán cho các nhà đầu tư và giá mà các cổ phiếu này đang được giao
dịch trên thị trường. Ở những thị trường vốn phát triển với những quy định về biên độ giao
động giá trong ngày, người ta sử dụng giá đóng cửa của ngày giao dịch đầu tiên để xác định
tỷ suất sinh lợi so với giá IPO đã được định thấp. Nếu ta sử dụng những giá giao dịch sau
ngày giao dịch đầu tiên, ví dụ như là giá đóng cửa của tuần giao dịch đầu tiên, thì nó cũng
không khác biệt nhau nhiều lắm.
Ở những thị trường vốn ít phát triển, nơi mà có sự tồn tại của một vài quy định về dao động
giá hàng ngày, thì sẽ mất một khoản thời gian để giá giao dịch trên thị trường cân bằng
cung và cầu. Ví dụ như là thị trường chứng khoán Athens, giới hạn về dao động giá hàng
ngày là ±8% trong suốt những năm 1990. Vì thế nhiều chứng khoán khi IPO bị định dưới
giá thì tỷ suất sinh lợi trong ngày đầu tiên có thể đạt 8% theo những quy định của luật pháp.
Trong những trường hợp như thế, điều này càng có ý nghĩa hơn khi xác định việc định giá
thấp qua những khoản thời gian dài.
tỷ USD chỉ trong 2 năm đó. Giai đoạn những năm này được gọi là giai đoạn “Thị trường
phát hành nóng”. Chính điều này cũng đã làm thay đổi cách mà các nhà bảo lãnh phát hành
định giá các đợt IPO. Một điều ngược lại gần đây là chỉ có Google là có kế hoạch IPO
thông qua một cuộc đấu giá, điều mà khá ngược lại so với những cuộc IPO tại Mỹ.
Tình hình định giá IPO tại Châu Âu
Để nghiên cứu về tình hình hình định giá IPO tại Châu Âu chúng tôi tiến hành nghiên cứu
tỷ suất sinh lợi trung bình tính theo phần trăm của 19 quốc gia Châu Âu, được tính dựa vào
giá đóng cửa của ngày đầu tiên so với IPO. Từ năm 1990 – 2003 đã có 4079 đợt IPO trên
19 quốc gia bao gồm: Úc(83), Bỉ(102), Đan Mạch (69) Pháp, (679) Đức 583), Hy Lạp
(301) Phần Lan (70), Hungary (54), Ireland (22), Ý (158), Luc-xem-bua (5), Hà Lan (77),
Na Uy(167), Ba Lan (214), Bồ Đào Nha (33), Tây Ban Nha (47), Thuỵ Điển (180), Thuỵ Sĩ
(68) và Vương quốc Anh (1.167).
- 14 -
Hình 2
Tỷ suất sinh lợi của ngày giao dịch đầu tiên sau khi IPO tại Châu Âu từ 1990– 2003
Giá giao dịch của thị trường được tính vào ngày giao dịch đầu tiên của tất cả các quốc gia
ngoại trừ Pháp và Hy Lạp thì được tính vào ngày giao dịch thứ 5 vì quy định về biên độ
giao dịch hằng ngày. Giá IPO thì được xác định bởi tác giả bằng cách sử dụng những
nguồn dữ liệu từ thị trường chứng khoán quốc gia, cơ sở dữ liệu của những đợt phát hành
mới toàn cầu của Thomson Financial’s SDC, Dealogic’s Equityware và những tìm kiếm
mới của chính tác giả. Bởi vì niêm yết chéo, một vài công ty đã niêm yết ra ngoài theo quốc
gia niêm yết. Hầu hết giá của các giao dịch là từ Datastream, với một vài dữ liệu của quốc
gia của họ.
- 15 -
Có thể thấy tỷ suất sinh lợi trung bình tính theo phần trăm của mười chín quốc gia Châu Âu
trên đều dương. Cao nhất là Poland với hơn 60%, thấp nhất là Luxembourg khoảng 6%.
Vậy IPO ở Châu Âu cũng bị định giá thấp, nhưng mức độ định giá thấp ít hơn Mỹ.
Tình hình định giá IPO tại một số nước châu Á và châu Mỹ Latin
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của ngày giao dịch đầu tiên sau khi IPO của
tám nước Châu Á – Thái Bình Dương và tám nước Châu Mỹ Latin trong giai đoạn từ 1990
3.5 Nguyên nhân của việc định dưới giá IPO trên thế giới
3.5.1 Bất cân xứng thông tin
Bốn chủ thể chính của một vụ giao dịch IPO là công ty phát hành IPO, ngân hàng bảo lãnh
phát hành, những nhà vận động hành lang và những nhà đầu tư mới. Lý thuyết thông tin bất
cân xứng cho rằng: một trong bốn người này biết được thông tin nhiều hơn những người
- 17 -
khác. Mô hình được biến đến nhiều nhất có lẽ là mô hình thông tin bất cân xứng “Winner’s
curse” của Rock (1986). Rock cho rằng một vài nhà đầu tư đã có những thông tin tốt hơn
về giá trị thực của cổ phiếu hơn là đại đa sô các nhà đầu tư, công ty phát hành hoặc ngân
hàng bảo lãnh phát hành. Những nhà đầu tư có thông tin chỉ mua khi giá IPO hấp dẫn, trong
khi những nhà đầu tư không có thông tin thì mua với giá bừa bãi. Với mức giá không hấp
dẫn, những nhà đầu tư không có thông tin nhận được tất cả cổ phần mà họ mua. Trong khi,
với một mức giá hấp dẫn thì một phần nhu cầu của họ lại bị mất đi bởi các thông tin được
đưa ra. Vì vậy, lợi nhuận của những nhà đầu tư không có thông tin phụ thuộc vào sự phân
phối sẽ thấp hơn lợi nhuận dưới giá trung bình. Trong trường hợp xấu nhất, những nhà đầu
tư không có thông tin hoàn toàn bị hạn chế khi IPO dưới giá và nhận được 100% khi IPO
trên giá.
Những nhà đầu tư không có thông tin sẽ không sẵn lòng mua cổ phiếu IPO khi tỷ suất sinh
lợi mong đợi bị âm, vì vậy thị trường IPO chỉ phổ biến với những nhà đầu tư có thông tin.
Rock cho rằng thị trường sơ cấp phụ thuộc vào sự tiếp tục tham gia của những nhà đầu tư
không có thông tin. Điều này yêu cầu một tỷ suất sinh lợi không. Nói cách khác, tất cả các
cuộc IPO phải được định dưới giá trong kỳ vọng.
Mô hình Rock đòi hỏi thêm một giả định. Nói chung, các công ty tìm kiếm lợi nhuận khi
phát hành ra công chúng từ việc định giá thấp, bởi vì đây là chìa khóa để đảm bảo sự tiếp
tục tham gia vào thị trường IPO của những nhà đầu tư không có thông tin, nguồn vốn của
họ là rất cần thiết cho giả định. Mặt khác, nói một cách riêng lẻ, định giá thấp rõ ràng đã
làm hao tiền của các công ty phát hành ra công chúng. Beatty và Richer (1986) cho rằng,
những ngân hàng đầu tư có động cơ để bảo đảm các cổ phiếu phát hành mới bị định dưới
giá vì các ngân hàng này sợ mất đi khoản phí bảo hiểm trong tương lai. Vì thế các ngân
hàng đầu tư ép buộc nhà định giá phải định dưới giá. Đương nhiên họ không dám định giá
định giá về sự lựa chọn sai lầm dẫn đến thua lỗ của họ. Từ suy nghĩ không mấy tốt đẹp đó,
họ sẽ dè dặt khi mua cổ phiếu IPO do tổ chức này định giá vào những lần sau.
Ngược lại, nếu giá IPO thấp và gia tăng sau khi được giao dịch chính thức sẽ tác động đến
tâm lý nhà đầu tư rằng công ty đang trong đà phát triển, giá cổ phiếu vì thế mà liên tục gia
tăng. Điều này sẽ đem lại một hình ảnh đẹp về công ty. Điều này thu hút sự tham gia của
các nhà đầu tư và đem lại danh tiếng tốt cho tổ chức phát hành và tổ chức định giá.
3.5.4 doanh nghiệp chấp nhận định giá thấp nhằm phát tín hiệu về triển vọng
phát triển của mình.
Các giả thuyết tín hiệu dựa trên giả định rằng công ty biết về triển vọng của mình tốt hơn
so với các nhà đầu tư. Allen và Faulhaber (1989) tìm ra rằng trong một số trường hợp các
công ty tốt muốn "ra hiệu" cho nhà đầu tư của họ về triển vọng tốt trong tương lai của
doanh nghiệp, vì thế họ sẽ định giá IPO thấp. Điều này cũng thống nhất với Ibbotson
(1975) phỏng đoán rằng IPO đang được định giá thấp như vậy nhằm để lại ấn tượng tốt cho
nhà đầu tư để những đợt phát hành trong tương lai có thể được định giá cao hơn. Welch
(1989) chính thức hóa hơn nữa điều này trong một mô hình hai giai đoạn, nơi mà các công
ty chất lượng cao sẽ bị định dưới giá nhưng các công ty chất lượng thấp sẽ không thể làm
như vậy vì chi phí cao. Grinblat và Hwang (1989) thêm vào nội dung của lý thuyết này
bằng cách nói rằng: những nhà phát hành định giá IPO thấp để mua lại cổ phần của họ
trong công ty thì điều này cũng phát tín hiệu rằng những cổ phiếu này là cổ phiếu có tiềm
năng.
- 20 -
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỊNH GIÁ PHÁT HÀNH IPO THỜI GIAN QUA
1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua.
1.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận
hành Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực
hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có hai
doanh nghiệp niêm yết hai loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số
ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm.
Năm 2006 , thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index
tại sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà Nội
tăng 152,4% . VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm. Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ
USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP). Trên thị trường phi tập trung, tổng khối lượng
giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên HASTC.
- 22 -
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài
khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước. Trong
vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800
điểm cuối 2006.
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt
13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP). Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị
trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch
chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với HASTC-Index
là nỗ lực chạm mốc 260 điểm. Tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức
tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%. Đây là những mức tăng mà các thị
trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng. Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và
367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng. Còn tại
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87
cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ
đồng. Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức Việt
Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới220 nghìn tỷ đồng, tương đương với
13,8 tỷ USD.
Biểu đồ chỉ số Vn-index Hose năm 2006
- 23 -
(Nguồn: http://www.cophieu68.com/chartindex.php?stcid=1 )
Nhìn lại thị trường sau một năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường: Index giảm
điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã cổ phiếu rơi xuống dưới mệnh
- 25 -