I/VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1) CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA
NGƯỜI VIỆT NAM
Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp. Chữ "nhân" với
nghĩa là "tính người" bao gồm chữ "nhị" và bộ "nhân đứng" - tính người
bộc lộ trong quan hệ giữa hai người.
Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp,
có thể thấy được đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại
vừa rất rụt rè.
Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi
trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng,
chính đó là nguyên nhân dẫn đến việc coi trọng giao tiếp. Sự giao tiếp tạo
ra quan hệ : Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen. Sự giao tiếp
củng cố tình thân : áo năng may năng mới, người năng tới năng thân.
Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để
đánh giá con người : Vàng thì thử lửa, thử than - Chuông kêu thử tiếng,
người ngoan thử lời.
Vì coi trọng giao tiếp cho nên người Việt Nam rất Thích Giao Tiếp.
Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai điểm:
1.Từ gốc độ của chủ thể giao tiếp, người Việt Nam có tính thích
thăm viếng. Đã là người Việt Nam, đã thân với nhau, thì cho dù hàng ngày
có gặp nhau ở đâu, bao nhiêu lần đi nữa, những lúc rảnh rỗi, họ vẫn tới
thăm nhau. Thăm viếng nhau đây không do nhu cầu công việc ( như ở
Phươg Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt
chặt thêm quan hệ.
2.Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách. Có
khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ người Việt, dù nghèo khó đến
đâu, cũng cố gắng tiếp đón một cách chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh
tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, các đồ ăn ngon nhất : Khách
đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không ai đói bữa. Tính hiếu
khách càng tăng lên khi về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng
mấy trai mấy gái, ) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm.
Thói quen ưa tìm hiểu này (hoàn toàn trái ngược với người phương Tây!)
khiến cho người nước ngoài có nhận xét là người Việt Nam hay tò mò.
Đặc tính này - dù gọi bằng tên gọi gì đi chăng nữa - chẳng qua cũng chỉ là
một sản phẩm nữa của tính cộng đồng làng xã mà ra.
a/Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải
quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh.
Mặt khác, do phân biệt chi li các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có
những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đầy đủ thông tin thì không
thể nào lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được.
b/Tính hay quan sát khiến người Việt Nam có được một kho kinh
nghiệm xem tướng hết sức phong phú : chỉ cần nhìn vào cái mặt, cái mũi,
cái miệng, con mắt, là đã biết được tính cách của con người. Chẳng
hạn, riêng về xem người qua con mắt đã có các kinh nghiệm : Đàn bà con
mắt lá dăm- Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền; Người khôn con mắt
đen sì, Người dại con mắt nửa chì nửa thau, Con lợn mắt trắng thì nuôi -
Những người mắt trắng đánh hoài đuổi đi, Những người ti hí mắt lươn -
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người; Trên trời Phạm Nhan, thế gian
một mắt.
Biết tính cách, biết người là để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp :
Tùy mặt gửi lời, tùy người gửi của; Chọn mặt gửi vàng. Trong trường hợp
không được lựa chọn thì người Việt Nam sử dụng chiến lược thích ứng
một cách linh hoạt : ở bầu thì tròn , ở ống thì dài ; Đi với Bụt mặc áo cà sa,
đi với ma mặc áo giấy.
c/Tính cộng đồng còn khiến cho người Việt Nam, dưới gốc độ chủ
thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự : Tốt danh hơn lành áo; Đói
cho sạch rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Danh dự
được người Việt Nam gắn với năng lực giao tiếp : Lời nói ra để lại dấu vết,
tạo thành tiếng tăm, nó được truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng.
Không phải ngẫu nhiên mà từ "tiếng" trong tiếng Việt, từ nghĩa ban đầu là
đối tượng giao tiếp tạo ra ở người Việt Nam thói quen chào hỏi - "chào" đi
liền với "hỏi" : "Bác đi đâu đấy?", "Cụ đang làm gì đấy ?" Ban đầu, hỏi là
để có thông tin, dần dần trở thành một thói quen, người ta hỏi mà không
cần nghe trả lời và hoàn toàn hài lòng với những câu "trả lời" kiểu : "Tôi đi
đằng này một cái" hoặc trả lời bằng cách hỏi lại : Cụ đang làm gì đấy? Đáp
: Vâng ! Bác đi đâu đấy?
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối
tư duy coi trọng các mối quan hệ (tư duy biện chứng). Nó tạo nên một thói
quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng : Ăn có nhai, nói có nghĩ; Chó
ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết
thì dựa cột mà nghe; Khôn cũng chết, dại cũng chết, ai biết thì sống;
Người khôn ăn nói nữa chừng, Để cho kẻ dại nữa mừng nữa lo, Chính
sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm thiếu
tính quyết đoán. Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời để không làm mất
lòng ai, để giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười.
Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người
Việt; có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất.
Tâm lý trọng sự hoà thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương
nhường nhịn : Một sự nhịn chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời - Cơm
sôi nhỏ lửa có đời nào khê
Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú.
1/Trước hết, đố là sự phong phú trong hệ thống xưng hô bằng các
từ chỉ quan hệ họ hàng. Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm : Thứ
nhất, có tính chất thân mật hóa (trong tình cảm), coi mọi người trong cộng
đồng như bà con họ hàng trong một gia đình. Thứ hai, có tính chất xã hội
hóa, cộng đồng hóa cao - trong hệ thống từ xưng hô này, không có cái
"tôi" chung chung. Quan hệ xưng hô phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội,
thời gian, không gian giao tiếp - chú khi ni , mi khi khác. Cùng là hai người,
nhưng cách xưng hô có khi đồng thời tổng hợp được hai quan hệ khác
nhau : Chú - con, bác - con, bác - em, anh- tôi, Lối gọi nhau bằng tên
tất cả các phía), người Anh nói he opens his eyes (nó mở những con mắt
của nó) thì người Việt nói từ ba bề bốn bên, từ khắp bốn phương trời; nó
mở to đơi mắt. Ở những trường hợp, khi người châu Âu dùng từ “tất cả”
thì người Việt dùng các từ chỉ số lượng ước lệ [Phan Ngọc 1989: 24]: ba
thu, nói ba phải, ba mặt một nhời, năm bè bảy mối, tam khoanh tứ đốm,
trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự, ngàn thu…
Nguyễn Bính viết:
Nhà em cách bốn quả đồi,
Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng,
Nhà em xa cách quá chừng,
Em van anh đấy, anh đừng thương em!
Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết
thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ
– một biểu hiện khác của tính biểu trưng. Tính cân xứng là một đặc tính
rất điển hình của tiếng Việt.
Theo nguyên lý cấu trúc loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết,
song nó chứa một khối lượng không nhỏ các từ song tiết; điều quan trọng
hơn nữa là mỗi từ đơn tiết lại hầu như đều có thể có những biến thể song
tiết, dạng láy, cho nên thực chất trong ngôn từ, lời nói Việt thì cấu trúc
song tiết lại là chủ đạo. Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều cấu tạo
theo cấu trúc có hai vế đối ứng: trèo cao / ngã đau; ăn vóc / học hay; một
quả dâu da / bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt / không biết dựa cột
mà nghe…
Tiếng Việt rất phát triển hình thức câu đối là một loại sản phẩm văn
chương đặc biệt, nó vừa công phu tỷ mỷ, lại vừa cô đúc ngắn gọn. Trong
một tác phẩm “mini” ấy thể hiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình
thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lý phương Đông. Ở Việt Nam
xưa kia, nhà nhà, đình đình, chùa chùa… nơi nào cũng đều có treo câu
đối. Và trong mọi dịp, người ta đều làm câu đối từ việc hiếu cho đến việc
hỷ. Câu đối chữ Hán có, chữ Nôm có,vừa Hán vừa Nôm cũng có.
sự khác biệt gốc rễ giữa hai loại hình văn hóa: Văn hóa gốc DU MỤC với
bản tính ĐỘNG tất thiên về trình bày các nội dung tình tiết, sự kiện với bút
pháp tả thực và lối diễn đạt tự do phóng túng – tất cả những đặc trưng đó
chỉ có thể tìm thấy sự biểu hiện tập trung trong văn xuôi (ngay cả thơ
phương Tây chủ yếu cũng là thơ tự do). Văn hóa gốc NÔNG NGHIỆP với
bản tính TĨNH tất thiên về trình bày các nội dung tâm lý, tình cảm với bút
pháp biểu trưng và lối diễn đạt cân xứng nhịp nhàng – tất cả những đặc
trưng đó chỉ có thể tìm thấy sự biểu hiện tập trung trong thơ.
So sánh Truyện Kiều (TK) của Nguyễn Du là tác phẩm thơ nổi tiếng
của Việt Nam với Kim Vân Kiều truyện (KVKT) của Thanh Tâm Tài Nhân
là một tác phẩm văn xuôi Trung Hoa mà Nguyễn Du đã mượn làm cốt
truyện để sáng tác, ta thấy rất rõ đối lập này: Trong khi KVKT là văn xuôi
thì TK là thơ. Những đoạn tả sự kiện, hành động trong KVKT chi tiết, dài
dòng bao nhiêu thì trong TK, chúng ngắn gọn, đơn giản bấy nhiêu; với
những đoạn tả tâm lý, tình cảm thì diễn ra một tình hình ngược lại: Chẳng
hạn, đoạn tả sự kiện Thúc Sinh chuộc Kiều trong KVKT dài trên 1600 chữ
thì trong TK chỉ vỏn vẹn có 8 dòng thơ; trong khi đó, đoạn tả nỗi lòng Thúy
Kiều khi ở lầu Ngưng Bích ở KVKT chỉ có khoảng chưa đầy trăm chữ thì ở
TK Nguyễn Du đã thể hiện nó dài tới 22 dòng thơ!
Ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là một thứ văn xuôi thơ, thế
mạnh đó còn do tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, tự thân các
thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho câu văn rồi. Từ những bài văn xuôi
viết theo lối biền ngẫu như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, hoặc viết
theo lối tự do như thơ dụ hàng của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới những lời
văn nôm bình dân … khắp nơi, ta đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp
nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu vần điệu.
Đây là một vài câu trong thư của Nguyễn Trãi gửi Vương Thông: “Nhà
lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ; đê dài sắp vỡ, một vốc đất
khó thể duy trì. Nếu không lượng sức mà cứ cưỡng làm, thì ít khi không
thất bại…”. Còn đây là lời cầu trong trò phụ đồng chổi của trẻ em: “Phụ
Không chỉ tiểu thuyết mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng có thể
mang đầy chất thơ nhờ sự cấu tạo cân đối nhịp nhàng. Đọc Tuyên ngôn
độc lập hay những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc những câu
sau đây của Người, ta thấy rất rõ chất thơ đó: “Nếu không có nhân dân thì
không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường”;
“Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải
hết sức tránh.”
2.2. Đặc điểm thứ hai của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam là nó rất GIÀU
CHẤT BIỂU CẢM – sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình cảm.
Về mặt từ ngữ, chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu
tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với
những sắc thái nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ
xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè, xanh lét… Bên
cạnh màu đỏ trung tính thì có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe…
Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến trong tiếng
Việt (ở phần lớn các ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Hán, tuy có phương thức
láy, nhưng số lượng từ láy thì hết sức ít ỏi, tới mức không đáng kể): không
phải ngẫu nhiên mà trong thơ ca của ta có thể gặp rất nhiều từ láy. Ở trên
vừa nói tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho
nên từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó. Chính nhờ sức biểu
cảm của các từ láy mà thơ Nguyễn Du đã khắc họa rất đạt một Tú Bà với
hình ảnh Nhác trông nhờn nhợt màu da, Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao… Một
Mã Giám Sinh với hình ảnh Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, Trước
thầy sau tớ lao xao… Còn ai đã từng đọc thơ Hồ Xuân Hương rồi thì quên
làm sao được những hình ảnh: Cầu trắng phau phau…, Nước trong leo
lẻo…, Cỏ gà lún phún…, Cá diếc le te…
Về mặt ngữ pháp, tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái
biểu cảm: à, ư, nhỉ, nhé, chăng, chớ, hả, phỏng, sao, chứ… Cấu trúc “iếc
hóa” mang sắc thái đánh giá (sách siếc, bàn biếc…) cũng góp phần quan
trọng trong việc tăng cường hệ thống các phương tiện biểu cảm cho tiếng
lần bằng tính từ, một lần bằng danh từ và một lần bằng động từ): Ìỵëỵäàÿ
ðĩđđêàÿ ĩ÷èịåëüíèưà íàĩ÷èëà ìåíÿ ïèđàịü. Tiếng phương Tây gán ghép
giống cho cả những danh từ biểu thị các sự vật không hề có “giống”, còn
tiếng Việt thì cho phép diễn đạt cả những khái niệm có giống dưới dạng
không giống chung chung (so sánh: giáo viên, giám đốc với thầy giáo - cô
giáo, nữ giám đốc).
Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng diễn đạt khái
quát rất cao: Chẳng hạn, trong khi người Việt có thể nói một câu không
thời, không thể, không ngôi như Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng (tục
ngữ), thì người Anh và Pháp bắt buộc phải nói: Near the ink, you are
black; near the light, you will shine; Près de l’encre, on se tache; près de la
lampe, on bénéficie de sa lumière. Khả năng diễn đạt khái quát, mơ hồ
của tiếng Việt chính là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thơ ca
đã nói đến ở trên.
Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời
nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ: trong một câu có bao
nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ. Trong khi đó thì các ngôn ngữ
phương Tây có xu hướng ngược lại – rất thích dùng danh từ. Trong khi
người Việt nói: Cảm ơn anh đã tới chơi; Anh ta không bao giờ quên những
chi tiết nhỏ nhặt cho nên đã trở thành một điệp viên tài giỏi thì người Anh
nói: Thank you for your coming (Cảm ơn về sự đến chơi của anh); Never
forgetting these small details made him a good secret agent (Sự không
bao giờ quên những chi tiết nhỏ nhặt này làm anh ta trở thành một điệp
viên giỏi).
Người phương Tây không chỉ danh hóa các động từ mà còn danh hóa
cả các tính từ, các cụm chủ vị: The brilliance of his satires was such as to
make even his victims laugh (Sự sắc sảo của những lời châm biếm của
ông ấy làm cho đến cả các nạn nhân của ông ta cũng phải cười); Him
being a Jesuit was a great surprise (Việc ông ta là một giáo sĩ dòng Tên
làm nên một sự ngạc nhiên lớn) – trong những trường hợp như thế này,
Mới hay, ngơn ngữ thực sự là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc
và tác động của luật âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm;
âm sinh dương, dương sinh âm) thật là rộng lớn và sâu xa!
II/MỐI QUAN HỆ GIAO TIẾP VÀ CÁCH XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI VIỆT
Cách xưng hơ của người Việt rất độc đáo, nó có thể thay đổi linh hoạt
tùy theo quan hệ vị thế và quan hệ thân hữu. Xưng hơ thích hợp sẽ tạo
thêm sự thân mật với người tham gia đối thoại và do đó dễ đạt được hiệu
quả giao tiếp mong muốn.
Hoạt động giao tiếp bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tế
được nói tới, hồn cảnh giao tiếp, hệ thống tín hiệu được sử dụng làm
cơng cụ. Trong giao tiếp khơng phải nhân vật giao tiếp muốn nói gì thì nói.
Nhân vật giao tiếp nói (viết) gì, như thế nào là tùy thuộc vào quan hệ xã
hội của họ. Mỗi tương tác ngơn ngữ nhất thiết là một tương tác xã hội.
Để ý thức được cái sẽ nói trong giao tiếp chúng ta phải tính đến
những nhân tố có liên quan đến khoảng cách xã hội và mức gắn bó giữa
những người giao tiếp. Căn cứ vào những nhân tố liên quan đến khoảng
cách xã hội và mức độ gắn bó giữa những nhân vật giao tiếp, người ta
khái qt thành hai loại quan hệ giao tiếp là: Quan hệ vị thế và quan hệ
thân hữu.
Một số nhân tố đã được thiết lập trước đối với giao tiếp và do đó là
những nhân tố khách quan bên ngồi. Chúng gồm vị trí tương đối của các
tham thoại. Vị thế đó dựa vào những giá trị xã hội liên quan đến tuổi tác,
giới tính và cương vị xã hội. Các nhà ngơn ngữ học đã dùng thuật ngữ vai
giao tiếp để biểu hiện vị thế xã hội của nhân vật hội thoại. Có thể nói vai
giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu
hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp. Trong phần lớn những tương
tác xã hội, những người tham dự không có một khó khăn nào để quyết
định họ có cùng hoặc không cùng vị thế xã hội. Trong trường hợp vị thế xã
hội không bình đẳng thì người nào ở bậc trên, người nào ở bậc dưới cũng
xác định một cách rõ ràng. Thí dụ: Bố mẹ là bậc trên so với con cái, thầy
- Sao anh để xe ngoài ấy?
Mộc đáp:
- Khóa rồi. Tôi vào một tí rồi đi ngay.
Anh không còn xưng anh và gọi Lưu là em như trước. Anh xưng tôi
một cách rành rẽ vẽ một đường mực đen giữa hai người. Lưu biết nhưng
không đủ can đảm công nhận điều đó. Lưu cung cúc ra ngoài ngõ, bưng
chiếc xe đạp khóa của Mộc và dựng dưới hiên nhà:
- Cho nó yên tâm. Mất của bao giờ làm ra được. - Chị nói trống không
để khỏa lấp nỗi ngượng ngùng. Mộc ngồi yên lặng trong ghế.
Các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong chẳng những ảnh
hưởng đến những cái chúng ta nói mà còn ảnh hưởng cả đến việc chúng
ta giải thích như thế nào. Hãy đọc đoạn văn sau đây của Nguyễn Quang
Thân:
Anh gọi chị là bà làm chị kiêu hãnh, sau đó là chị làm chị ấm lòng và
cuối cùng là em làm chị sung sướng. Cuộc cách mạng về xưng hô ấy chỉ
diễn ra trong vòng 15 phút. Phút thứ 16 thì anh nói đã thuê hai hec-ta rừng
thông chiều nay để không ai được lai vãng qua. Phút thứ 17 thì lưng chị đã
lấm đầy cát và sau đó chị bắt đầu cuộc hành trình vào thiên đường lần
đầu tiên trong đời (Vũ điệu của cái bô, Văn nghệ số 423, ngày 26-10-
1991).
Lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng là một minh chứng:
" và nhất là khi nghe thấy Bác gọi tôi bằng chú và xưng bằng mình
thì rõ ràng tôi thấy như không phải tôi đang ngồi trước một nhà chính trị
lớn, một bậc khai quốc. Có cái gì thật là dễ dãi, là quen thuộc, là hấp dẫn,
là thân mật của tình cha con".
Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đặt nền móng cho các ngành kỹ thuật
quân sự, khoa học và giáo dục Việt Nam đã để lại ấn tượng sâu đậm trong
lòng những quân nhân và các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế về một
trí tuệ uyên bác, về một tấm lòng toàn tâm vì dân vì nước. Ngay trong lĩnh
vực giao tiếp xã hội ông cũng rất lịch lãm. Hồi làm Bộ trưởng Đại học và
* Không nên khoanh tay trước ngực.
* Không được chuyền vật gì qua đỉnh đầu của người khác.
* Không được chạm vai khi gặp mặt.
* Không được vô tư động chạm đến người khác phái.
* Nếu ở bãi biển thì nam giới nên mặc quần short.
1)Khi tham dự các buổi tiệc:
a.Nếu bạn được mời đến nhà của người Việt bạn nên:
* Mang theo trái cây bánh kẹo để làm quà.
* Các món quà nên được gói ghém cẩn thận bằng giấy màu.
* Không được trao khăn tay, những vật có màu vàng, đen và hoa cúc.
b.Cư xử trên bàn ăn:
* Không được tự do ngồi vào bàn cho đến khi bạn được hướng dẫn chỗ
ngồi.
* Bạn nên ngồi vào bàn sau khi những người lớn hơn đã ngồi vào bàn.
* Khi chuyền những đĩa thức ăn phải dùng cả 2 tay.
* Đũa phải được đặt trên bàn ăn cạnh chén khi bạn nghỉ tay chờ phục vụ
món kế tiếp hay dừng đũa khi tay bạn phải nâng ly.
* Dùng muỗng bằng tay trái với món soup.
* Cố gắng dùng hết những gì có trong đĩa của mình, không để sót.
* Khi đã ăn xong, đũa phải đặt trên miệng chén.
* Che miệng khi xỉa răng.
c.Nghi thức trong kinh doanh:
* Những cuộc hẹn nên được thỏa thuận trước vài tuần.
* Cách tốt nhất để sắp xếp cuộc hẹn là thông qua đại diện hay chính các
thông dịch viên của bạn.
* Phải đến cuộc hẹn đúng giờ.
* Ăn mặc lịch sự.
* Hãy bắt đầu và kết thúc cuộc hẹn bằng 1 cái bắt tay thân thiện, nhưng
chỉ đối với người cùng giới.
* Một vài người Việt Nam có thói quen dùng cả 2 tay khi bắt tay, tay trái sẽ
họ chỉ hạ thấp đối phương một cách tương đối. Họ hạn chế ở mức độ
ví đối phương với những thứ như: giả nhân, ngợm, quỷ quái, yêu
tinh… Họ nêu những khiếm khuyết hoặc gán ghép cho đối phương
những khiếm khuyết vật chất, tinh thần, xã hội, ví dụ: (đồ, con, quân,
lũ, bọn) què, mù…; ngu, ngốc, điên, khùng…; đểu cáng, ác độc, vô
luân, bất hiếu…; lừa đảo, ăn cắp…. Các cách chửi này phổ biến
nhưng không phải là tiêu biểu cho người Việt.
Với bản chất của một dân tộc có nếp sống cộng đồng tình cảm, ưa
tế nhị, truyền thống chửi của Việt Nam là chửi có bài bản, có văn vẻ,
có vần điệu và đặc biệt là có thể kéo dài tùy ý. Chúng tôi nhớ có một
bài thơ châm biếm ra đời vào khoảng năm 1974 mở đầu bằng mấy
câu như sau:
Chỉ vì mất một con gà,
Rêu rao bà chửi suốt ba ngày liền.
Chỉ sang tứ phiá láng giềng,
Réo từ nội ngoại tổ tiên mười đời…
Chỉ bốn câu này cũng đã đủ cho ta thấy phần nào lối chửi thâm thúy
của người Việt!
Phụ nữ Việt Nam vốn rất hiền lành, nết na, nhưng cũng không chịu
để ai bắt nạt (ăn hiếp). Mất một con gà không phải là chuyện lớn,
nhưng nếu cứ tiếp tục mất như thế thì không thể chấp nhận được. Bởi
vậy mà phải ra tay “dằn mặt” để cho kẻ có tính xấu kia từ nay đừng có
động đến gia đình “bà”. Với một dân tộc luôn coi trọng uy tín và danh
dự hơn hết thảy mọi cái ở đời thì cách tốt nhất là phải làm cho đối
phương mất mặt trước cộng đồng. Thông thường, người ta tức lúc nào
thì chửi lúc đó. Người Việt Nam truyền thống thì không như vậy, họ
chờ khi có thật đông người thì mới chửi và khi chửi lại cố tình đệm
thêm “ới làng trên xóm dưới” hoặc “ới trời cao đất dày” như mời gọi
thêm mọi người trong cả cộng đồng đến nghe.
Trong lối chửi của người Việt, cái hấp dẫn người nghe không phải là