BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN ĐỊNH NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG
VĂN HOÁ Ở HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc GS.TS Nguyễn Kim Chung
thày giáo trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học, Khoa kinh tế & PT
nông thôn, Bộ môn Phân tích chính sách đã giúp tôi hoàn thành quá trình học
tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND
huyện Gia Bình, UBND các xã, thị trấn huyện Gia Bình đã tạo điều kiện cho
tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn.
Cảm ơn gia đình cùng toàn thể bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Định
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
2.1.1. Một số khái niệm 5
2.1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây
dựng Làng văn hóa 14
2.1.3. Vai trò của phát triển làng văn hoá 15
2.1.4. Các tiêu chuẩn công nhận làng văn hoá 19
2.1.5. Các nội dung nghiên cứu phát triển làng văn hóa 21
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. iv
2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển làng văn hoá
trong giai đoạn hiện nay 31
2.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển làng văn hóa 35
2.2.1. Tổng quan về quá trình phát triển làng văn hóa ở nước ta
trong thời gian qua 35
2.2.2. Một số kinh nghiệm phát triển làng văn hoá trong nước 42
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
3.1.
Gia Bình 76
4.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển làng văn hóa
ở huyện Gia Bình 89
4.1.5. Đánh giá chung 91
4.2. Giải pháp phát triển làng văn hóa huyện Gia Bình 95
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. v
4.2.1. Những giải pháp chung 96
4.2.1.1. Tiến hành rà soát lại hệ thống làng văn hóa ở huyện
Gia Bình nhằm xây dựng kế hoạch phát triển toàn diện 96
4.2.1.2. Xây dựng cơ chế điều hành thống nhất 96
4.2.1.3. Thực hiện lồng ghép các chương trình kinh tế, xã
hội, văn hóa, an ninh, môi trường và các chương
trình khác vào trong quá trình triển khai kế hoạch 97
4.2.1.4. Phát huy nội lực, đẩy mạnh xã hội hóa, tập trung
nguồn lực cho nhiệm vụ xây dựng làng văn hóa 98
4.2.1.5. Xây dựng mô hình và phương pháp thực hiện phù
hợp cho từng làng 100
4.2.1.6. Đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền 101
4.2.2. Những giải pháp riêng cho từng nhóm làng 104
4.2.2.1. Nhóm làng thuần nông 104
Bảng 3.3. Bảng điểm xét công nhận danh hiệu làng văn hóa 57
Bảng 4.1. Bảng so sánh về kinh tế giữa các làng đã được công nhận
và các làng chưa được công nhận là LVH ở huyện Gia Bình 81
Bảng 4.2. Bảng đánh giá sự phát triển về mặt kinh tế của các làng khi
mới đăng ký và khi được công nhận danh hiệu LVH ở
huyện Gia Bình 82
Bảng 4.3. Bảng đánh giá sự phát triển làng văn hóa về mặt chất lượng
theo từng nhóm làng 87
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu
tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều nền văn minh
thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân
tộc. Trong giai đoạn hiện nay, với đường lối đúng đắn của Đảng, văn hoá Việt
Nam tiếp tục được phát huy đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to
lớn của nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nghị quyết Trung ương 5
(Khoá VIII) “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc” ra đời đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước và
nguyện vọng của nhân dân, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được xã hội
nhiệt tình hưởng ứng, thực hiện, gắn kết chặt chẽ hơn văn hoá với các lĩnh
vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định
chính trị và tạo nên những thành tựu về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,
đối ngoại của đất nước.
Năm 2000, Chính phủ triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá”. Đây là một trong bốn nhóm giải pháp lớn thực hiện
Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trên địa bàn huyện Bắc Ninh từ
khi phát động đến nay, phong trào đã được triển khai thực hiện ngày càng sâu
rộng, có tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Huyện Gia Bình là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh - Kinh
- Phong trào xây dựng làng văn hoá triển khai chưa được đồng bộ, ở một
số xã còn biểu hiện hình thức chạy theo thành tích, quan tâm phát triển phong
trào về bề rộng hơn là chiều sâu nên chất lượng phong trào còn hạn chế và
thiếu bền vững.
- Việc hướng dẫn, chỉ đạo và triển khai thực hiện phong trào, chưa xây
dựng được mô hình chuẩn làm điển hình tiên tiến để nhân rộng; kinh phí đầu
tư xây dựng các thiết chế văn hoá ở một số nơi chưa được quan tâm thích
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 3
đáng, việc đầu tư trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho hoạt động còn
khiêm tốn nên hiệu quả trong tổ chức hoạt động chưa cao.
- Tình hình tệ nạn xã hội như cờ bạc, số đề, ma tuý vẫn diễn biến phức
tạp, có chiều hướng gia tăng.
- Tỷ lệ làng được công nhận là làng văn hoá còn thấp, chiếm 55% số
thôn làng trong tổng số các thôn, làng trong huyện.
Mặc dù vậy, với mục tiêu xây dựng làng văn hoá ngày càng phát triển đi
vào chiều sâu, đạt hiệu quả rõ rệt, thiết thực, góp phần phát triển bền vững
kinh tế - xã hội của huyện. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi tiến hành
nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát
triển làng văn hoá ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Tiêu chuẩn nào để đánh giá, công nhận làng văn hoá ?
- Tại sao phải nghiên cứu vấn đề xây dựng làng văn hoá ở huyện
Gia Bình?
- Tồn tại nào trong vấn đề xây dựng làng văn hoá hiện nay ở huyện
Gia Bình?
- Giải pháp nào để phát triển làng văn hoá huyện Gia Bình trong thời
Đề tài được tiến hành trên phạm vi huyện Gia Bình
1.6. Kết cấu luận văn
1. Mở đầu
2. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển văn hóa
3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
5. Kết luận
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 5
2. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN LÀNG VĂN HOÁ
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển làng văn hoá
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1. Làng
Làng là một trong bốn đơn nguyên lưu giữ kho tàng văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam. Bốn đơn nguyên đó gồm: Con người
Việt Nam, gia đình Việt Nam, làng Việt Nam, đất nước Việt Nam. Trong bốn
đơn nguyên này, làng là một đơn nguyên văn hóa mang đủ các yếu tố kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa, quân sự,… đóng vai trò cầu nối giữa con người, gia
đình với đất nước, giữa nước với nhà.
Làng, như nhiều học giả đã xác nhận, đó là từ thuần Việt. Đây là điều
thật đáng lưu ý. Khác với xã, thôn là những từ Hán - Việt, làng có cội nguồn
từ chính đời sống Việt Nam và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt.
Làng Việt là kết quả tiến triển tự nhiên của tổ chức công xã. Làng thường có
nhiều chòm, xóm (chòm, xóm cũng là những từ thuần Việt). Nhưng cộng
đồng chòm, xóm không có được những đặc trưng độc lập về văn hóa, do vậy
chòm, xóm chỉ là những thành phần của cộng đồng làng.
Trong lịch sử, làng không phải là một đơn vị hành chính. Xã, trải qua
nhiều thể chế chính trị, mới là đơn vị hành chính. Xã không phải là từ thuần
Việt mà là từ Hán - Việt. Xã có thể chỉ bao gồm một làng. Nhưng thường
thường xã bao gồm vài ba làng. Xã không phải là cái gì đó cao hơn hoặc
quyền uy hơn làng, mà là một thực thể xã hội khác, mang cấu trúc chính trị -
xã hội khác với làng.
Về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý. Còn
đối với người dân, người nông dân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì
người ta chỉ biết có làng. Các chỉ, dụ, luật pháp của triều đình; các thể chế,
quy định của xã, thôn hết thảy đều thể hiện sức mạnh thông qua làng. Tập
tục làng, truyền thống làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên
của làng. Dù dưới triều đại nào, dù phải ứng xử với người cai trị là bản địa
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 7
hay ngoại bang, theo văn minh phương Đông hay phương Tây, làng vẫn tồn
tại một cách tự nhiên với sự cố kết cộng đồng đầy bản sắc của nó.
Có thể nói trong sinh hoạt của nhân dân ta, khái niệm làng đã ăn sâu
vào nhiều khía cạnh tình cảm, suy nghĩ, tập quán và quan hệ xã hội. Ngày
nay, những ấn tượng sâu sắc về làng vẫn còn được mang theo trong tiềm thức
của mỗi chúng ta, được tạo bởi những hình ảnh gần gũi như : hội làng, đường
làng, đình làng, cổng làng, ao làng, luỹ tre làng…Từ những khái niệm ấy, con
người đã gắn bó với nhau từ đời này qua đời khác trong quan hệ tập tục, nếp
sống và những trật tự của cộng đồng.
loại theo kiểu nào người ta cũng khó có thể đồng nhất phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, tâm lý, lối sống, phương thức hoạt động và ứng xử của cộng đồng
làng với các cộng đồng văn hóa khác, kể cả những cộng đồng đặc biệt gần gũi
như xã, hoặc các cộng đồng theo đơn vị hành chính, xã hội hoặc tôn giáo.
Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng
xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc
thù qui định và ngầm điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp
của những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng.
Mỗi con người Việt Nam, như chúng ta đều biết, nếu có được cái may
mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề này hay
nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác cũng đều khó có thể
thoát ly khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng cái đã ăn sâu vào văn
hóa cá nhân. "Phép vua thua lệ làng" thành ngữ này hầu như mọi người Việt
Nam đều biết. Đành rằng thành ngữ này có cái dở của nó, như phản ánh sự
tản mạn, cục Bộ của một xã hội tiểu nông, nhưng đừng nghĩ rằng ở đây không
hề có ý nghĩa tích cực nào. Thông qua thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu
đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang lại sức mạnh của làng.
Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu muốn có
chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng.
Chính từ thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa
làng. Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 9
với sự tiến triển của các ngành tri thức về văn hóa. Có lẽ chỉ khi đặt trong
tương quan với các dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng
khác, chúng ta mới thấy rõ hơn tính đặc thù và ý nghĩa của văn hóa làng. Với
cộng đồng làng, tính tự lập và tự quản thể hiện rất rõ. Mối quan hệ vừa gia
2.1.1.3. Làng văn hóa
Khác với văn hoá làng, một giá trị truyền thống cần được bảo tồn, làng
văn hoá lại nói lên ý chí, nguyện vọng của con người và cộng đồng cần vươn
tới. Nó như mục tiêu để phấn đấu mà nội dung vừa phải kế thừa có chọn lọc
truyền thống xưa, đồng thời phải biết tiếp thu và sáng tạo những giá trị mới.
Thực ra làng văn hoá là một khái niệm của riêng ngành văn hoá, nên
việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề này mới chỉ nhận được sự quan tâm
của một số ít nhà nghiên cứu trong ngành, chưa có sự tham gia đóng góp của
các nhà nghiên cứu khoa học - xã hội trên phạm vi toàn quốc. Làng văn hoá
còn được hiểu là một nội dung công tác của Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở, vì
thế nó mang tính chất công việc của cơ quan chỉ đạo nghiệp vụ này, chủ yếu
là hỗ trợ - hướng dẫn nông dân xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn trên
phương diện những hoạt động văn hoá mới, vì thế chúng ta không lấy làm lạ
khi gặp một loạt những từ nếp sống mới, gia đình văn hoá mới, hương ước
mới… [5].
Thế nào là làng văn hoá ? Trong cuốn « Hỏi và đáp về xây dựng làng
văn hoá, gia đình văn hoá, nếp sống văn hoá tổ chức và quản lý lễ hội truyền
thống » có viết : «Làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc…là cộng đồng dân cư
nông thôn có chung lãnh thổ, tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, cảnh quan ; là
đơn vị cấu thành địa bàn hành chính của chính quyền cấp xã.
Xây dựng làng văn hoá là xây dựng cộng đồng dân cư như trên, có đời
sống kinh tế và văn hoá tinh thần phát triển lành mạnh phong phú. Vì vậy,
làng văn hoá là danh hiệu vinh dự của những cộng đồng dân cư ở nông thôn
phấn đấu đạt được các yêu cầu trên. Tuỳ theo kết cấu dân cư truyền thống của
địa phương, có thể gọi là làng văn hoá, ấp văn hoá, thôn bản văn hoá ». [13]
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 11
12
Văn hóa truyền thống làng xã đóng vai trò là nền tảng cho sự lựa chọn
mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn phù hợp với đặc thù đất nước
ta. Bài học thực tế ở hàng trăm làng xã Thái Bình và một số tỉnh ở đồng bằng
Bắc Bộ mấy năm vừa qua đã cho thấy: Muốn phát triển kinh tế - xã hội bền
vững ở vùng nông thôn thì phải thực hiện CNH, HĐH theo kiểu mới: "Thực
chất kiểu mới đó là phải hướng tới mục tiêu kép: vừa giảm nghèo, tăng giàu
lại vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa hướng tới tiến Bộ văn hóa văn minh,
vừa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bằng giải pháp kép: vừa đẩy
mạnh kinh tế thị trường vừa kiên trì chủ nghĩa xã hội, vừa tiếp thu giải phóng
cá nhân vừa bảo vệ lợi ích công cộng" [Nông thôn trong bước quá độ sang
kinh tế thị trường. Tr 20].
Như vậy, mô hình kinh tế - xã hội mà chúng ta lựa chọn hiện nay cần
phải thực hiện hai mục tiêu là tăng trưởng kinh tế và tiến Bộ xã hội (trong đó
vấn đề cốt lõi là dân chủ và công bằng xã hội), có chiều sâu từ bản sắc văn
hóa làng xã. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bao gồm những nội dung rất
rộng. Và, sẽ góp phần tích cực của văn hóa làng xã vào quá trình CNH, HĐH
hiện nay ở nông thôn được biểu hiện thông qua việc tham gia vào các quy
trình như: "Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, đưa khoa
học công nghệ, máy móc, kỹ thuật vào nông nghiệp làm thay đổi cơ bản nền
sản xuất nông nghiệp nước ta, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hiện đại
và trên cơ sở đó mà hiện đại hóa nông thôn (bao gồm tất cả các lĩnh vực đời
sống vật chất và đời sống tinh thần) hướng tới trình độ văn hóa văn minh hiện
đại trên nền tảng bản sắc văn hóa truyền thống" [Bản sắc văn hóa làng trong
xây dựng nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ, tr. 11].
Nghiên cứu sự phát triển kinh tế của những làng xã như: Duy Sơn II
(Duy Xuyên, Quảng Nam), Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), Đồng Kỵ (Bắc
Ninh), Vân Tràng (Hà Tây) cho thấy rằng, để phù hợp với xu thế phát triển
những cái hay và khắc phục những mặt bất cập của văn hóa làng" [Mộ số vấn
đề xây dựng làng văn hóa, ấp văn hóa hiện nay, tr. 65]; và "Làng văn hóa
không thể là làng nghèo, không thể có quá nhiều hội hè, đình chùa khang trang
rực rỡ mà trường học, trạm xá thì mái dột tường xiêu" [tr. 66-67]. Đây cũng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 14
chính là những nội dung lớn mà cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở nước
ta đang nghiên cứu giải quyết trong những năm tiếp theo.
2.1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây dựng Làng
văn hóa
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH. Nông
nghiệp và kinh tế nông thôn là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính
trị - xã hội, sự phát triển hài hòa và bền vững theo định hướng XHCN của đất
nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến những vấn đề của làng
văn hóa và của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các chủ trương, Nghị
quyết của Đảng được Nhà nước thể chế hóa bằng các chính sách và được các
cấp, các ngành triển khai trong thực tế. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 1998 -
2010 đã có trên 40 Nghị định và quyết định về chính sách đầu tư hỗ trợ cho
nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành và áp dụng:
- Chỉ thị 27/CT-TW ngày 12/1/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 14/CT-
TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong cưới, lễ
tang, lễ hội.
- Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHT ngày 23/6/2006 của Bộ VHTT về
việc ban hành quy chế công nhận danh hiệu: “Gia đình văn hóa”, “Làng văn
sở”
- Cuộc vận động “Xây dựng nông thôn mới”
Ba cuộc vận động trên nối tiếp nhau, bổ sung cho nhau, góp phần tạo
nên sự biến đổi mạnh mẽ của làng xã trên mọi phương diện.
2.1.3. Vai trò của phát triển làng văn hoá
Chúng ta đều biết văn hoá và phát triển có mối quan hệ biện chứng.
Nếu phát triển tách rời nhu cầu văn hoá và môi trường văn hoá thì sẽ mất
cân đối và gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Xét cho cùng, mục đích
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 16
phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng là phải tạo ra được các giá trị văn
hoá. Vì vậy, xây dựng làng văn hoá là phù hợp với sự phát triển nông thôn
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Làng xã, mường bản Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời. Chính từ
những làng bản đơn vị cơ sở này mà đất nước tồn tại và ghi được nhiều
thành tựu, tạo nên một văn hoá làng có nhiều nét riêng. Ngày nay, muốn
đất nước có một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc như Đảng ta luôn
nhấn mạnh, thì trước hết phải quan tâm tới văn hoá làng.
Từ bao đời nay, làng xã Việt Nam đã trở thành đơn vị hành chính cơ
sở, nơi cộng đồng dân cư sinh sống , gắn bó chặt chẽ với nhau trong các
quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá.
Trong quá trình phát triển của dân tộc, làng xã Việt Nam đã khẳng
định được vị trí, vai trò to lớn của mình qua lịch sử đấu tranh dựng nước và
giữ nước.
Công cuộc đổi mới đất nước trong những năm qua cũng bắt đầu từ cơ
sở. đổi mới nông nghiệp, nông thôn trước hết cũng diễn ra ở làng xã. Ngày
nay, 75% dân cư ở nước ta là nông dân, ở nông thôn, làm nông nghiệp,
hội ở nông thôn hiện nay tập trung ở việc thay đổi những quan niệm, những
nhận thức của nông thôn truyền thống sang nông thôn hiện đại. Văn hoá
cung cấp tri thức, những kinh nghiệm chuyển sản xuất tự cung tự cấp dựa
trên sơ sở lao động thể thực với công cụ thô sơ sang nền sản xuất hàng hoá
nhiều thành phần với cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu giữa thị trường
trong nước với thị trường quốc tế. Nền sản xuất tự cung tự cấp gắn liền với
nếp sống, nếp nghĩ ổn định, không chú ý cạnh tranh để phát triển. Nền sản
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường là nền sản xuất năng động, nhạy cảm,
chú ý khai thác mọi nguồn lực về trí tuệ, tài năng, nguồn vốn…để cạnh
tranh phát triển.
Nông thôn cổ truyền của chúng ta có truyền thống trọng tình cảm,
yêu thương, đùm bọc lấy nhau. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông thôn, cần phải bổ sung vào đó tinh thần trọng khoa học, phát triển