Câu 1: Những vấn đề chính của kinh tế vĩ mô là gì?
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc dân và kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triển
và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa
các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở giác độ tổng thể,
toàn bộ thông qua các biến số kinh tế: tổng sản phẩm quốc gia, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ lạm
phát, tỉ lệ thất nghiệp, cán cân thương mại… để đề ra các chính sách kinh tế nhằm ổn định và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu
nhập, tổng sản lượng sản xuất. Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như
thuế, chi tiêu, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và thu nhập. Chẳng hạn, kinh tế học vĩ mô
nghiên cứu chi phí cuộc sống bình quân của dân cư, tổng giá trị sản xuất, chi tiêu ngân sách của một
quốc gia.
Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố
như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa
quốc gia và tài chính đa quốc gia. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính
phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các
chiến lược quản trị.
- Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu mặt tổ chức con người thành lực lượng tối ưu để tác động vào giới
tự nhiên nhưng chỉ nghiên cứu quan hệ này ở tầm vĩ mô.
- Từ giác độ đó, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau và nghiên cứu mối quan hệ
giữa các vấn đề đó:
+ Nghiên cứu cấu trúc tổng thể nền kinh tế, của lực lượng kinh tế toàn xã hội có liên quan đến việc
tạo ra kết quả cuối cùng mà xã hội mong muốn.
+ Nghiên cứu mục tiêu vĩ mô của hoạt động kinh tế (được hiểu là mục tiêu toàn diện, toàn dân,
toàn xã hội của hoạt động kinh tế).
+ Nghiên cứu những quy luật vận động của nền kinh tế quốc dân và kết cục của các vận động đó
như quy luật cung - cầu lao động, tiền tệ, về tích lũy hàng hóa và dịch vụ,…
- Trên cơ sở các quy luật đó, kinh tế học vĩ mô tìm ra mối quan hệ cân đối ở tầm vĩ mô cần bảo đảm
cho sự vận động kinh tế đạt được các mục tiêu đã nêu.
- Đi sâu hơn nữa, có thể thấy, kinh tế học vĩ mô: Chỉ ra đích của sự hoạt động của toàn bộ nền
kinh tế và con đường cho toàn bộ nền kinh tế đạt được đích đó. Cụ thể:
- Giảm phát là tình trạng
giảm giá phổ biến trong nền
kinh tế (Keynes)
- Giảm phát là sự thu hẹp
khối lượng tiền tệ so với số
lượng hàng hóa trong nền
kinh tế. (trường phái tân cổ
điển)
- Giảm lạm
phát là tình
trạng mức giá
chung của nền
kinh tế ổn định
và giảm xuống
dần nhưng vẫn
cao so với
trước khi lạm
phát (P vẫn >
Po)
Mức giá chung - Tăng nhanh và liên tục - Giảm liên tục. - Có xu hướng
giảm nhẹ so
với thời kỳ
lạm phát liên
tục
Sức mua của
đồng tiền
- Giảm.
- Phá giá nội tệ.
- Tăng.
- Nâng giá nội tệ.
như là kết quả tự nhiên của
những nỗ lực chống lạm
phát cao trước đó, thì đương
nhiên, lợi ích của giảm phát
lúc này chính là các lợi ích
của việc kiềm chế thành
2
chính phủ và nhân dân.
* Tiêu cực:
- Lạm phát cao, siêu lạm phát:
tác hại nghiêm trọng đối với
kinh tế và đời sống.
- Nhân sách nhà nước: Lạm
phát gây thiệt hại cho ngân sách
nhà nước bằng việc bào mòn
giá trị thực của những khoản
công phí, ngoài ra lạm phát cao
kéo dài và không dự đoán trước
được làm cho nguồn thu ngân
sách nhà nước bị giảm do sản
xuất bị suy thoái.
- Phân phối lại thu nhập và của
cải:
dân. Khi lạm phát xảy ra,
những ngươi có tài sản, những
người đang vay nợ là có lợi vì
giá cả của các loại tài sản nói
chung đều tăng lên, con giá trị
đồng tiền thì giảm xuống.
Ngược lại, những người làm
giảm rào cản truy cập, góp
phần hạ giá các mặt hàng.
Sự xuất hiện của đồng
EURO có thể làm tăng sức
cạnh tranh của các nước khu
vực. Giảm phát theo chiều
hướng này có tác dụng tốt
đối với nền kinh tế.
* Tiêu cực:
- Giảm phát sẽ nguy hiểm
nếu nó phản ánh mức cầu
giảm đột ngột, dư thừa năng
lực sản xuất ở mức cao và
phổ biến, cũng như thu hẹp
mức cung tiền.
- Giảm phát làm tăng tâm lý
thích giữ tiền, hạn chế hoặc
trì hoãn tiêu dùng với hy
vọng "giá hàng ngày mai sẽ
thấp hơn giá hàng hôm nay".
- Điều đó làm giảm cầu,
giảm sức tiêu dùng thị
trường, buộc các công ty
phải tiếp tục giảm giá hàng,
giảm sản lượng sản xuất,
giảm tiền lương và giảm khả
năng bố trí công ăn việc làm
đưa đến thất nghiệp. Giảm
phát còn làm tăng gánh nặng
nợ nần, do lãi suất danh
lệ lạm phát cao hơn.
- Tỷ giá: giảm.
- Thất nghiệp: giảm phát và
thất nghiệp có mối quan hệ
đồng biến
- Lạm phát đã ảnh hưởng đến
mọi mặt trong đời sống kinh tế -
xã hội và nhà nước phải áp
dụng những biện pháp thích hợp
để kiềm chế, kiểm soát lạm
phát:
+ Thứ nhất, tập trung giải quyết
các vấn đề từ gốc của giá cả là
chất lượng tăng trưởng, sức
cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu
quả sử dụng vốn.
+ Thứ hai, kiên định thực hiện
đồng bộ các biện pháp nhằm
khống chế tổng cầu của nền
kinh tế mà Nghị quyết 11/NQ-
CP đã đề ra.
+ Thứ ba, bảo đảm cân đối
cung-cầu hàng hoá, dịch vụ
trong mọi tình huống, trước hết
là các mặt hàng thiết yếu phục
Để chống lại quá trình giảm
phát với tất cả những tác hại
tiêu cực của nó, thường áp
dụng những giải pháp
"ngược chiều" với chống
kiểm tra, kiểm soát thị trường,
ngăn chặn các hành vi gian lận
thương mại, đầu cơ găm hàng
thao túng thị trường giá cả. Tiếp
tục thực hiện các biện pháp
quản lý thị trường vàng, thị
trường ngoại hối.
+ Thứ năm, thực hiện nhất quán
cơ chế giá thị trường; tiếp tục có
lộ trình thích hợp để xoá bao
cấp qua giá đối với các loại
hàng hoá dịch vụ còn bao cấp
và phù hợp với mục tiêu kiềm
chế lạm phát như: điện, xăng
dầu, nước sạch, than bán cho
điện… Đồng thời, bộ sẽ có các
giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với
những ngành sản xuất gặp khó
khăn, hỗ trợ đối với người
nghèo, người có thu nhập thấp,
thực hiện các chính sách an sinh
xã hội.
+ Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh
công tác thông tin, tuyên truyền
về chủ trương biện pháp bình
ổn giá, kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô bảo đảm an
sinh xã hội, tạo ra sự đồng
thuận trong xã hội, giảm thiểu
các yếu tố tâm lý, kỳ vọng tăng
o AD > AS (AD thay đổi, AS giữ nguyên) Y, P, U hoặc L
M
> S
M
S
M
tăng I
f
o Chi phí tăng lên
o XK - NK (NX>0 AD > AS hoặc P
NK
P
TN
)
o S
M
o Yếu tố tâm lý
Tác động: (xem phần trả lời câu hỏi 3)
Biện pháp: thực hiện CSTK – CSTT thắt chặt
o Giảm chi tiêu G, tăng T
o Cắt giảm đầu tư công không hiệu quả
o Tăng r, d
bb,
lsck, …
2. Giảm phát: (xem thêm TLTK: “Cần hiểu đúng về giảm phát”)
ĐN: là tình trạng mức giá chung giảm xuống trong một khoảng thời gian nhất định
Nguyên nhân: do tổng cầu giảm
Tác động: AD Y, P, U.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giảm phát cũng kéo theo suy thoái kinh tế (*)
giảm so với thời kỳ trước
Tác động: Sức tiêu thụ nội địa không tăng do luồng cung tiền tệ giảm, trong khi xuất
khẩu kém. Nếu kịch bản xấu nhất xảy ra, hàng không thể xuất trong khi cầu nội địa giảm, hàng
không tiêu thụ hết, giá cả sẽ giảm, sản xuất đình đốn.
Biện pháp: thực hiện CSTK mở rộng và CSTT nới lỏng (hạn chế cung tiền)
Câu 3: Hãy liệt kê theo thứ tự các tác động của lạm phát dựa vào mức độ quan trọng theo suy
nghĩ của bạn.
• Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
• Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của
hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Ngoài ra khi lạm phát
khiến cho người dân và các tổ chức sẽ cho rằng đồng nội tệ mất giá và đỏ xô lựa chọn các
đồng ngoại tệ mạnh khác hoặc vàng làm công cụ cất giữ sẽ an toàn hơn khiến cho cơn sốt
vàng và ngoại tệ tằng làm cho tình hình kinh tế sẽ bất ổn hơn và lạm phát có nguy co gia
tăng.
• Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những
khoản công phí.Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho nguồn
thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái.
• Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng
hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm
rối loạn.
• Khi các mức giá cả trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm
hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn. Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong
tương lai của họ bị giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy mà kém đi.
• Lạm phát cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến những người có thu nhập không tăng kịp mức tăng
của giá cả, đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố định như là những người hưởng
lương hưu hay công chức. Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị giảm đi.
• Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người
làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát. Ví dụ: trong trường
hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm
M
1
= 900 + 810 + 729 + = 9000$
Lượng tiền dự trữ R = 100 + 90 + 81 + = 1000$ được chuyển về NHTW bằng với số tiền ban
đầu.
Công thức: M
1
= k. H
Trong đó: M
1
: lượng tiền giao dịch (cung tiền trong nền kinh tế)
K: số nhân tiền tệ
H: tiền cơ sở (tiền NHTW phát hành)
H = C
M
+ R
M
M
1
= C
M
+ D
M
Trong đó: C
M
: lượng tiền mặt ngoài NH
R
M
: lượng tiền dự trữ trong NH
D
M
(thông qua r
tk
),…
CÂU 5: PHƯƠNG TRÌNH SỐ LƯỢNG LÀ GÌ? THUYẾT SỐ LƯỢNG TIỀN TỆ LÀ GÌ?
• Phương trình số lượng:
Mối liên hệ giữa giao dịch và tiền tệ có thể biểu thị bằng một phương trình được gọi là phương trình
số lượng như sau
M x V=P x T
- M: khối lượng tiền tệ
8
- V: tốc độ lưu thông
- P: giá cả
- T: số lượng
Vế phải của phương trình số lượng cho ta biết rằng số lượng giao dịch T biểu thị tổng số
giao dịch trong 1 thời kỳ nhất định. Nói cách khác, T là số lượng hàng hóa, dịch vụ được đổi ra tiền
trong năm. P là giá cả của 1 lần giao dịch điển hình – tức số tờ đô la được trao đổi. Tích của giá một
lần giao dịch và số lượng giao dịch P.T bằng số tờ dô la được trao đổi trong 1 năm.
Vế trái của pt cho ta biết về khối lượng tiền được dùng để tiến hành các giao dịch. M là khối
lượng tiền tệ. V là tốc độ giao dịch (lưu thông) của tiền tệ và tính bằng số lần quay vòng của tiền
trong nền kinh tế. Nói cách khác, tốc độ lưu thông cho ta biết số lần một đồng đô la được trao tay
trong 1 thời kỳ nhất định.
Pt số lượng là một đồng nhất thức: những định nghĩa về 3 biến số làm cho pt đó đúng. Pt hữu
ích vì nó cho thấy rằng nếu một trong các biến thay đổi, thì một hay nhiều biết số khác cũng phải
thay đổi theo để duy trì sự bằng nhau. Ví dụ, nếu khối lượng tiền tệ tăng và tốc độ lưu thông của
tiền không đổi, giá cả hoặc số lượng giao dịch phải tăng.
• Thuyết số lượng tiền tệ:
Giả định tốc độ lưu thông không đổi, phương trình số lượng có thể được coi là lý thuyết về
GDP danh nghĩa. Phương trình số lượng nói rằng:
MV = PY
Câu 7: Phân biệt TGHĐ thực và TGHĐ danh nghĩa
9
TGHĐ danh nghĩa: là mức giá mà tại đó 2 đồng tiền của 2 quốc gia có thể chuyển đổi cho
nhau.
TGHĐ thực: là tỷ giá mà dựa vào đó hàng của 1 nước được trao đổi với hàng hoá của nước
khác.
o Công thức: e
r
= P/P
*
. e (với
o Khi e e
r
hàng nội rẻ hơn hàng ngoại X, M
o Khi P > P
*
e
r
Hoặc e = e
r
x P
*
/P
Như vậy, sự thay đổi của e phụ thuộc vào sự thay đổi của e
r
hoặc P, P
*
Nói cách khác: %∆e = %∆e
r
IS
Y Y’’ Y’
Khi CP G, T AD IS dịch chuyển sang phải IS’ (Y’, r’). Ở mức r’ > r thu
hút dòng vốn nước ngoài e (nội tệ tăng giá) X, M BP dịch chuyển sang
trái BP’. Đồng thời AD (do X, M) IS dịch chuyển sang trái IS’’ (Y’’, r’’)
10
CSTK có tác dụng yếu trong cơ chế TGHĐ thả nổi do tác động lấn hất quốc tế
NX
o Cơ chế TGHĐ cố định:
LM
LM’
r’ BP
r’’
r
IS’
IS
Y Y’ Y’’
Khi CP G, T AD IS dịch chuyển sang phải IS’ (Y’, r’) Ở mức r’ > r thu
hút dòng vốn nước ngoài (KA) S
f
> L
f
e (nội tệ tăng giá).
Để duy trì TGHĐ như ban đầu, CP phát hành tiền S
M
LM dịch chuyển sang phải
LM dịch chuyển sang phải (Y’, r’) r dòng vốn chảy ra nước ngoài e (nội
tệ giảm giá).
Để duy trì TGHĐ như ban đầu, CP thực hiện bán ngoại tệ (mua nội tệ) S
M
LM
dịch chuyển sang trái về vị trí ban đầu
CSTT không có tác dụng trong cơ chế TGHĐ cố định
Chính sách ngoại thương:
o Cơ chế TGHĐ thả nổi:
LM
r’ BP
BP’
r
IS’
IS
Y Y’
Khi CP thực hiện giảm thuế xuất khẩu, đặt ra hạn ngạch hoặc thuế quan X, M AD
IS dịch chuyển sang phải (Y’, r’). Đồng thời khi X , M lượng ngoại tệ đi vào > lượng
12
ngoại tệ đi ra BP dịch chuyển sang phải BP’. S
f
> L
f
e (nội tệ tăng giá) X, M
AD IS, BP dịch chuyển sang trái như ban đầu.
Chính sách ngoại thương không có tác dụng trong cơ chế TGHĐ thả nổi.
o Cơ chế TGHĐ cố định:
LM
LM’
13
Phuong trình (1.3) thể hiện sự cân bằng trên thị trường hàng hoá, và phương trình (1.4) thể hiện sự
cân bằng trên thị trường tiền tệ. Các biến ngoại sinh bao gồm các biến T, G của chính sách tài khoá,
biến M của chính sách tiền tệ, mức giá P, và mức lãi suất thế giới r*. Trong mô hình này biến nội
sinh là thu nhập thực (Y) và tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e)
Đồ thị dưới đây thể hai hiện mối quan hệ này. Điểm cân bằng mô hình là điểm giao nhau giữa hai
đường IS* và đường LM*. Điểm giao nhau chỉ ra mức tỷ giá (e0) và thu nhập thực (Y0) mà cả thị
trường hàng hoá và thị trường tiền tệ đồng thời đạt được trạng thái cân bằng. Bất kỳ mức tỷ giá nào
khác với mức tỷ giá cân bằng thì nó có khuynh hướng hội tụ về mức tỷ giá cân bằng.
NỀN KINH TẾ NHỎ MỞ DƯỚI CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ THẢ NỔI
Dưới chế độ tỷ gía thả nổi, chính phủ và Ngân Hàng Trung Ương không can thiệp trên thị trường
ngoại hối. Tỷ giá được điều chỉnh một cách tự động để đáp lại các lực lượng cung và cầu trên thị
trường ngoại hối. Như vậy, ít nhất về mặt lý thuyết, chế độ tỷ giá này tự động khử sự mất cân bằng
trong thanh toán quốc tế.
1. Phân tích tác động của chính sách tài khoá
Giả sử rằng chính phủ gia tăng chi tiêu trong nước bằng cách gia tăng việc mua sắm hoặc cắt giảm
thuế. Việc làm này sẽ làm gia tăng tổng chi tiêu dự kiến và làm cho đường IS* dịch chuyển sang
phải. Kết quả được thể hiện trên đồ thị là là giá đồng bản tệ (e) sẽ tăng lên nhưng thu nhập thực (Y)
vẫn giữ nguyên như cũ.
14
Kết quả này có thể được giải thích như sau: Khi chính phủ gia tăng mua sắm hoặc giảm thuế, tổng
thu nhập trong nền kinh tế sẽ tăng lên theo mô hình số nhân (∆Y=(1/(1-mpc)*∆G). Quá trình này
không dừng lại ở đây, một khi thu nhập tăng sẽ làm tăng cầu tiền thực trong nền kinh tế. Với giả
thiết cung tiền không đổi, sự gia tăng cầu tiền thực sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất trên thị trường
tiền tệ. Tuy nhiên, với nền kinh tế mở nhỏ chỉ cần một sự gia tăng lãi suất trong nước so với lãi suất
nước ngoài, các nhà đầu tư nhận ra rằng đầu tư vào tài sản tài chính trong nước có lợi hơn. Khi đầu
tư vào tài sản tài chính trong nước (mà nó được định giá bằng đồng bản tệ) tăng sẽ làm tăng cầu
đồng bản tệ trên thị trường ngoại hối và đẩy giá đồng bản tệ lên. Một khi giá đồng bản tệ tăng, khả
năng cạnh tranh của khu vực xuất khẩu sẽ giảm xuống, xuất khẩu ròng giảm đúng bằng mức tăng
mua sắm của chính phủ để cho sản lượng không đổi như trên đồ thị (2.1) ở trên
hối với tỷ giá quy định. Trong trường hợp này, cung tiền tăng và đường LM* dịch chuyển sang
phải. Khác với chính sách mở rộng tài khoá dưới chế độ tỷ giá thả nổi, dưới chế độ tỷ giá cố định
chính sách mở rộng tài khoá làm tăng tổng cầu và thu nhập
16
2. Phân tích tác động của chính sách tiền tệ
Điều gì sẽ xãy ra khi Ngân Hàng Trung Ương tăng mức cung tiền? Khi Ngân Hàng Trung Ương
tăng mức cung tiền sẽ làm cho đường LM* dịch chuyển sang phía bên phải. Lúc này lãi suất trên thị
trường tiền tệ giảm xuống và tạo ra sự chênh lệch với lãi suất bên ngoài. Các nhà đầu tư tìm thấy cơ
hội đầu tư vào tài sản tài chính nước ngoài sinh lợi cao hơn và mang vốn ra nước ngoài. Trên thị
trường ngoại hối, cung đồng bản tệ tăng lên tạo áp lực giảm giá đồng bản tệ. Để duy trì tỷ giá không
đổi, Ngân Hàng Trung Ương sẽ bán ngoại tệ ra để bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ trên thị trường. Điều
này lại làm cho mức cung tiền giảm và đường LM* trở lại vị trí ban đầu như được thể hiện dưới đồ
thị (Chính sách tiền tệ trong trường hợp này chỉ đóng vai trò duy trì tỷ giá ổn định, nó không có tác
dụng đối với các mục tiêu khác)
3. Phân tích tác động của chính sách ngoại thương
Giả sử chính phủ giảm nhập khẩu thông qua việc tăng thuế nhập khẩu. Chính sách này làm tăng
tổng chi tiêu dự kiến và làm cho đướng IS* dịch chuyển sang phải. Sự dịch chuyển đường IS* sang
phải có xu hướng làm tăng giá đồng bản tệ. Để duy trì tỷ giá cố định, Ngân Hàng Trung Ương phải
tăng mức cung tiền và đường LM* sẽ dịch chuyển sang phải. Trên đồ thị bên dưới chúng ta nhận ra
dưới chế độ tỷ giá cố định biện pháp hạn chế nhập khẩu làm gia tăng tổng cầu
17
Tóm tắt tác động của các chính sách
Chính sách Chế độ tỷ giá hối đoái
Thả nổi Cố định
Y e NX Y e NX
Mở rộng tài khoá 0 Tăng Giảm Tăng 0 0
Mở rộng tiền tệ Giảm Giảm Tăng 0 0 0
Hạn chế nhập khẩu 0 Tăng 0 Tăng 0 Tăng
CÂU 9. Thế nào là chính sách tài khóa thuận chu kỳ và chính sách tài khóa nghịch chu kỳ?
* chính sách tài khóa thuận chu kỳ:
+ Nếu các dòng vốn vào chuyển hóa thành các dòng tín dụng trong nước thì chu kỳ phát triển bùng
nổ hay nóng lên bắt đầu.
+ Rõ ràng là điều này đã xảy ra ở Việt Nam mặc dù đã có những biện pháp kịp thời ngăn chặn dòng
tín dụng phát triển thành khủng hoảng
Có the mô tả qua sơ đồ sau:
Câu 11: Bộ ba bất khả thi là gì?
Bộ ba bất khả thi là gì?
Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity hay Triangle of
Impossibility)) là một chính sách kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát biểu rằng: một quốc gia không
thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách vĩ mô:
• Ổn định tỷ giá
• Tự do hóa dòng vốn
• Chính sách tiền tệ độc lập
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3. Nó có thể
chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát
19
vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng
vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn
kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc
suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)" trích lời đề tặng Robert Mundell - Paul
Krugman, 1999.
Trong nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài, ba yếu tố gồm: (1) dòng vốn chảy vào và
chảy ra; (2) tỷ giá hối đoái; và (3) lạm phát luôn có liên hệ mật thiết với nhau.
Nếu nguồn vốn được tự do lưu chuyển thì khi đó có 2 trường hợp xảy ra: vốn đổ vào quá nhiều
hoặc quá ít. Ta xét trường hợp dòng vốn chảy vào trong nước nhiều, khi đó, đồng nội tệ có sức ép
lên giá. Để cố định tỷ giá, NHTW buộc phải mua ngoại tệ vào, bơm nội tệ ra. Động thái này sẽ làm
cho lạm phát trong nước tăng. Khi đó, nếu chính sách tiền tệ là độc lập, để kiềm chế lạm phát,
NHTW lại phải hút bớt tiền trong lưu thông. Như vậy, hành động ban đầu của NHTW và hành động
về sau là mâu thuẫn nhau. Do vậy, bộ ba bất khả thi xuất hiện: NHTW không thể đồng thời cố định
tỷ giá, thực hiện chính sách tiền tệ độc lập trong khi tự do hóa dòng vốn.
thực tế. Do vậy rất khó để một quốc gia có được một hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả. Lý
thuyết bộ ba bất khả thi khẳng định rằng: trong điều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa
việc giảm thiểu sự thay đổi tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổn định. Nó không
thể có đồng thời cả hai.
Tại sao lại có " bộ ba bất khả thi"?
Nếu nguồn vốn được tự do lưu chuyển thì khi đó có 2 trường hợp xảy ra: vốn đổ vào quá nhiều
hoặc quá ít. Ta xét trường hợp dòng vốn chảy vào trong nước nhiều, khi đó, đồng nội tệ có sức ép
lên giá. Để cố định tỷ giá, NHTW buộc phải mua ngoại tệ vào, bơm nội tệ ra. Động thái này sẽ làm
cho lạm phát trong nước tăng. Khi đó, nếu chính sách tiền tệ là độc lập, để kiềm chế lạm phát,
NHTW lại phải hút bớt tiền trong lưu thông. Như vậy, hành động ban đầu của NHTW và hành động
về sau là mâu thuẫn nhau. Do vậy, bộ ba bất khả thi xuất hiện: NHTW không thể đồng thời cố định
tỷ giá, thực hiện chính sách tiền tệ độc lập trong khi tự do hóa dòng vốn.
Câu 12:
Nếu tỷ lệ lạm phát của nước A cao hơn nước B thì tỷ giá hối đoái giữa
đồng tiền của hai nước như thế nào?
Trả lời:
Khi tỷ lệ lạm phát ở một quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm giá trị của đồng tiền
nước đó thay đổi dẫn tới tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó so với nước ngoài bị biến
động. Nếu mức lạm phát của một nước này cao hơn mức lạm phát của nước khác thì sức
mua của nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ. Lạm phát cao càng kéo dài, đồng tiền càng mất giá, sức
mua của tiền trong nước giảm thì làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên.
Hoặc có thể giải thích:
21
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch
vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên
thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại
nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng.
Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm
sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả
triển)
Ưu:
- Chế độ tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại hối
nên cho phép làm dịu tác động của
các cú sốc
và chu kỳ
kinh doanh nước ngoài.
- Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế.
Nhược:
- Nếu tỷ giá biến động mạnh sẽ ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế. Cơ chế tỷ giá này chỉ áp
dụng được các nền kinh tế mạnh và có một thị trường tương đối phát triển.
22
*Cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý:
Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố
định. Với cơ chế tỷ giá này NHTW sẽ công bố một mức tỷ giá nào đó và thường xuyên điều chỉnh
theo những thay đổi trong cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối quốc gia, và tín hiệu trên thị trường
chợ đen.
Một vài lý do cơ bản để NHTW can thiệp vào tỷ giá đó là:
1. NHTW có khả năng ảnh hưởng để tỷ giá ở mức hợp lý hơn.
2. NHTW can thiệp để giảm chi phí do hiện tượng tăng vọt tỷ giá.
3. NHTW can thiệp để các hoạt động kinh tế trở nên trơn tru hơn.
Cơ chế tỷ giá này được áp dụng khá phổ biến tại các nền kinh tế đang phát triển. NHTW điều hành
tỷ giá bằng cách công bố tỷ giá mục tiêu và mua bán ngoại tệ trên thị trường để giữ tỷ giá ở gần
vùng mục tiêu công bố trước đó. Ưu điểm là nó tạo ra một môi trường kinh doanh tương đối ổn
định. Tuy nhiên, còn nhược điểm là buộc NHTW phải có khả năng điều hành hiệu quả.
Câu 13: Ưu - nhược điểm mỗi cơ chế TGHĐ
TGHĐ cố định:
Câu 14/ Tại sao cơ chế tỷ giá cố định có rủi ro bị tấn công đầu cơ:
− Khi Ngân hàng TW của một quốc gia tuyên bố (hoặc ngầm định) giữ tỷ giá cố định hoặc biến
động trong một biên độ dao động hẹp, các nhà đầu cơ sau khi tìm hiểu các thông tin sẽ dự đoán
& kỳ vọng rằng đồng nội tệ đang bị định giá cao hơn giá trị thực so với USD, và nếu họ biết rõ
về khả năng can thiệp vào tỷ giá của NHTW thông qua việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ của
mình là có hạn, thì họ sẽ tấn công vào cơ chế neo giữ tỷ giá này bằng cách liên tục vay bằng nội
tệ rồi mua USD tại nước sở tại theo tỷ giá trên thị trường ngoại hối chính thức. Vì cầu USD tăng
lên nên NHTW phải bán USD ra để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá. Nhưng hành động can thiệp
này có hạn phụ thuộc vào mức độ dự trữ ngoại hối của NHTW cũng như phụ thuộc vào mức độ
tấn công dai dẳng của nhà đầu cơ. Trong tình huống xấu nhất, NHTW mặc dù đã sử dụng quá
nhiều dự trữ ngoại hối của mình nhưng vẫn không thắng nổi ý chí tấn công liên tục của nhà đầu
cơ nên buộc phải từ bỏ ý định can thiệp ổn định tỷ giá. Kết cục là đồng bản tệ bị phá giá tự do
không kiểm soát, gây hoảng loạn trong giới đầu tư nước ngoài, làm nhu cầu chuyển đổi từ nội tệ
sang ngoại tệ càng tăng mạnh, đến lượt nó lại làm cho nội tệ mất giá hơn nữa trong vòng xoáy
trôn ốc.
Đến lúc này, các nhà đầu cơ tiền tệ mới ung dung tung một phần USD mà họ mới vừa mua trước
đây ở nước sở tại ra để mua nội tệ nhằm thanh toán các khoản vay bằng nội tệ từ hệ thống ngân
hàng sở tại dùng để tấn công hệ thống tỷ giá nước này. Nói là họ chỉ tung “một phần” USD vì đồng
nội tệ đã bị phá giá rất nhiều so với thời điểm họ vay ngân hàng nên nay họ chỉ cần một phần trong
số USD mua gom được là cũng đủ để mua lại đúng số bản tệ mà họ đã vay. Kết quả là nhà đầu cơ
thu được một khoản USD chênh lệch đáng kể từ hoạt động tấn công mang tính đầu cơ này. Còn nền
kinh tế sở tại thì bị tổn thương nghiêm trọng với đồng bản tệ mất giá, nhà đầu tư nước ngoài nghiêm
túc (dài hạn) thì hoảng sợ bỏ chạy, các hoạt động sản xuất và kinh doanh bị đình đốn, và nền kinh tế
thậm chí có khả năng rơi vào khủng hoảng.
14. Vì sao cơ chế tỷ giá cố định có nhiều khả năng bị tấn công đầu cơ?
Do mất tự chủ về tiền tệ.khi chính sách tiền tệ bị ràng buộc để giữ vững tỷ giá, các quốc gia không
thể linh hoạt trong việc điều chỉnh những bất cân xứng trong nền kinh tế một cách nhanh nhất.
Nhằm đối phó với những biến động trong nước và bên ngoài để ổn định giá trị bản tệ đòi hỏi chi phí
cơ hội do phải duy trì một lượng dự trữ ngoại hối khá lớn
Chính sách tỷ giá cố định cũng được cho là quá cứng nhắc vì đã che khuất nội tệ. Sự che đậy thông
Các nước đang phát triển thường không có các công cụ bình ổn tự động. Hiếm có các
khoản bảo hiểm thất nghiệp. Các khoản chuyển nhượng xã hội chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân
sách. Tiêu dùng của chính phủ và tiền lương chiếm phần lớn chi tiêu trong các nước đang phát triển.
Thuế ở các nước đang phát triển cũng thường là thuế gián thu(thuế thương mại và thuế tiêu dùng)
thay vì thuế trực thu( thuế thu nhập).
Chính sách tài khóa thường thuận chu kỳ ở các nước đang phát triển:
- Các dòng vốn vào ròng có tính thuận chu kỳ tại hầu hết các nước OECD và các nước đang
phát triển: Các nước có xu hướng vay mượn nhiều hơn trong thời kỳ kinh tế thuận lợi và trả
nợ vào lúc khó khăn. Nói cách khác, chính phủ và các doanh nghiệp mất nhiều nguồn tiếp
cận với các khoản vay quốc tế vào những lúc khó khăn.
- Chính sách ngân sách của các nước OECD nhìn chung hoặc có tính nghịch chu kỳ, hoặc
không theo chu kỳ. Ngược lại rất rõ rang, chính sách ngân sách của các nước đang phát triển
chủ yếu có tính thuận chu kỳ. Chính phủ chi tiêu nhiều hơn cho các khoản đầu tư và các
khoản công ích xã hội vào thời kỳ thuận lợi, và cắt giảm chi tiêu và thời kỳ khó khăn. Rất
25