nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến sinh trưởng và năng suất lúa bc15 canh tác theo phương pháp sri tại huyện thanh ba tỉnh phú thọ - Pdf 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY
VÀ PHƢƠNG PHÁP TRỪ CỎ ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT LÚA BC15 CANH TÁC THEO PHƢƠNG
PHÁP SRI TẠI HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ” : Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10 Ọ : Thái Nguyên - 2013

Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
ĐOAN


1.
.
2.
.
3.
.
Tôi xin t !

Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu 2

2.5.1. Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng 29
2.5.2. Các chỉ tiêu về khả năng đẻ nhánh 30
2.5.3. Khả năng tích lũy vật chất khô 30
2.5.4. Chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ 30
2.5.5. Chỉ tiêu dung trọng đất 31
2.5.6. Các chỉ tiêu chống chịu 31
2.5.7. Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: 32
2.6. Phương pháp xử lí số liệu 32
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Ảnh hưởng của phương pháp trừ cỏ và mật độ đến thời gian sinh
trưởng của giống lúa BC 15 33
3.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến khả năng đẻ
nhánh của giống lúa BC 15. 36
3.3.Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến sự phát triển của
bộ rễ giống lúa BC 15 40
3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến số rễ trên khóm . 40
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến chiều dài rễ
trên khóm của giống lúa BC 15 42
3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến đường kính rễ . 44
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến trọng lượng
khô rễ ở các thời kỳ. 47
3.4. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến dung trọng đất 53
3.4.1. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến dung trọng
đất ở vụ mùa 2012. 53

Số hóa bởi trung tâm học liệu
v
3.4.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến dung trọng
đất ở vụ xuân 2013 55
3.5. Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến chấ

Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii
Bảng 01a: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến thời
gian sinh trưởng ở vụ mùa 2012 34
Bảng 01b: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến thời
gian sinh trưởng ở vụ xuân 2013 35
Bảng 02a: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến động
thái đẻ nhánh ở vụ mùa 2012 37
Bảng 02b: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến động
thái đẻ nhánh ở vụ xuân 2013 39
Bảng 03a: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến số rễ
trên khóm 41
Bảng 03b: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến chiều
dài rễ 43
Bảng 03c: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến đường
kính rễ 45
Bảng 03d1: Ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến trọng
lượng khô rễ ở thời kỳ làm đòng 48

biến, đây là nguyên nhân chính làm giảm khả năng chống chịu của cây lúa, từ đó
dễ bị sâu bệnh tấn công, gây hại và ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế.
Sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật còn gây ô nhiễm môi trường
Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification) là
một trong những giả ợc Bộ
Nông nghiệp và PTNT công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật. SRI có hiệu
quả vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường, giảm được lượng
thóc giống từ 70 -90%, giảm lượng phân đạm từ 20-25%, giảm lượng nước
tưới, tăng năng suất trung bình từ 9-15%. Canh tác theo SRI tạo điều kiện cho
tiểu vùng sinh thái đồng ruộng bất lợi cho dịch hại như bệnh khô vằn, ốc
bươu vàng, bệnh nghẹt rễ, đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu, bệnh cho
cây lúa. Hầu hết các huyện trong tỉ ụng SRI trong sản xuấ
.
Thanh Ba là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên
là 19503,41 ha đất nông nghiệp 9992,16 ha chiếm tỷ lệ 51,3% diện tích đất tự
nhiên, trong đó diện tích đất trồng lúa 6600 ha chiếm 66,1%. Diện tích áp
dụng hệ thống thâm canh SRI 710 ha, diện tích này đang được mở rộ
ời nông dân cấy
mật độ

ờng sử dụng
thuốc trừ cỏ để trừ cỏ ảnh hưở ến sức

Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
khỏe người sản xuất, ảnh hưởng đến môi trườ
nh .
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và phương pháp trừ cỏ đến

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài.
Năng suất lúa được hình thành từ các yếu tố cấu thành, đó là: Số bông/
m
2
số hạt trắc trên bông và P
1000
hạt. Các yếu tố cấu thành năng suất trong
trong một ruộng lúa lại có quan hệ sinh vật học thông qua mối quan hệ giữa
quần thể và cá thể. Trong đó số bông/m
2
đặc trưng cho quần thể, P
1000
hạt đặc
trưng cho cá thể [12]. Mối quan hệ này mang tính thống nhất và mâu thuẫn.
Khi cá thể phát triển tốt sẽ tạo điều kiện tạo nên một quần thể tốt sẽ hạn chế
sự phát triển của cá thể. Trong quá trình phát triển của cây lúa, thì thời kỳ đầu
là thời kỳ quyết định đến số bông/m
2
. Mật độ cấy và khả năng để nhánh hữu
hiệu quyết định yếu tố này
Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lúa thì biện
pháp mật độ gieo cấy được nhiều người làm công tác nghiên cứu khoa học kỹ
thuật nông nghiệp quan tâm và dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu
thực nghiệm. Cho biết trên một diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông
càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít. Tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh
hơn tốc độ tăng mật độ. Vì thế nếu cấy quá dần thì năng suất giảm nghiêm
trọng. Tuy nhiên nếu cấy mật độ thưa thì số hạt trên bông tăng lên nhưng số
bông trên một diện tích ít, đặc biệt là các giống có thời gian sinh trưởng ngắn
cấy trên đất xấu thì năng suất thấp, trích dẫn theo Bùi Huy Đáp (1980) [5].
Nói đến mật độ cấy là nói đến mối quan hệ giữa quần thể và cá thể cây

1.2. Các nghiên cứu về mật độ cấy
1.2.1. Mật độ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa
Mật độ là số cá thể trên một đơn vị diện tích, mật độ ảnh hưởng đến
khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa. Mật độ ảnh hưởng đến
khả năng đẻ nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu, khả năng chống chụi sâu bệnh và từ
đó ảnh hưởng đến năng suất lúa.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
Đối với cây lúa, số lượng tuyệt đối về số nhánh thay đổi nhiều qua mật
độ nhưng số nhánh hữu hiệu giữa các mật độ khác nhau thay đổi không nhiều
Bùi Huy Đáp(1999) [6]. Mật độ cấy ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh sâu
bệnh, có nhiều tác giả nhận xét rằng: khi mật độ gieo cấy cao sẽ tạo điều kiện
cho sâu, bệnh phát triển. Vì khi mật độ gieo cấy cao thân lá cây lúa thường mềm
yếu, ẩm độ trong quần thể ruộng lúa cao và thiếu ánh sáng cho nên sâu, bệnh dễ
gây hại. Cho nên cấy ở mật độ hợp lý sẽ hạn chế được sâu bệnh phát sinh.
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) [9] mật độ cấy tỷ lệ thuận với số bông
nhưng tỷ lệ nghịch với số hạt trên bông. Tức là nếu mật độ gieo cấy càng cao
thì cho số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít và ngược lại. Vì thế
cấy quá dầy sẽ làm năng suất giảm đi nghiêm trọng. Tuy nhiên đối với những
giống có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc trên chân đất nghèo dinh dưỡng thì
cấy thưa rất khó đạt được năng suất mong muốn.
Tùy từng giống để chọn mật độ thích hợp và tính toán khoảng cách đủ
rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa ít che khuất nhau tạo điều
kiện cho quần thể ruộng lúa quang hợp tốt. Cách bố trí khóm lúa theo hình
chữ nhật là phù hợp nhất vì mật độ tăng hơn so với cách bố trí theo hình
vuông nhưng vẫn đảm bảo sự thông thoáng trong quần thể ruộng lúa. Nguyễn
Văn Hoan (2004)[10]
Theo Đinh Văn Lữ (1978) [11]. khi mật độ cấy tăng thì số bông tăng,
số hạt/ bông tăng đến một phạm vi nhất định và tỷ lệ hạt lép là ít nhất thì năng

. Số bông trên diện tích
tăng theo mật độ nhưng số hạt trên bông lại giảm. Mật độ cấy là vấn đề tương
quan số dảnh cấy và sự đẻ nhánh. Cấy thưa thì cây lúa đẻ nhánh khỏe số dảnh
nhiều còn ngược lại cấy mật độ dầy thì khả năng đẻ nhánh kém.
Các nhà sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và
quần thể ruộng cây trồng đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản ứng
mật độ khác nhau, việc tăng mật độ trong giới hạn nhất định thì năng suất
tăng, nếu quá giới hạn thì năng suất lại giảm.
1.2.3. Các nghiên cứu về mật độ ở Việt Nam
Khi nghiên cứu khả năng đẻ nhánh của cây lúa Bùi Huy Đáp(1980) [5]
làm thí nghiệm với giống lúa tám thơm với khoảng cách cấy 40x40cm và cấy
1 dảnh cây lúa đẻ được 232 dảnh/m
2
trong đó có 198 dảnh thành bông đạt tỷ

Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
lệ 85%. Đối giống Chiêm Thanh khi tiến hành cấy 1 dảnh với khoảng cách
40x40cm thì đẻ được 113 dảnh trong đó có 101 dảnh cho ra bông đạt 89,4%.
Qua đây chúng ta có thể thấy khi cấy ở mật độ thưa thì khả năng đẻ nhánh của
cây lúa tăng lên. Khi làm thí nghiệm đối với giống Di Hương với khoảng cách
cấy khác nhau thay đổi từ 30x30cm, 20x15cm, 20x10cm, 15x5cm, 10x5cm,
5x5cm. Với số dảnh cơ bản tương ứng 3,5,8,10,13,16. như vậy số dảnh thay
đổi từ 11-400 khóm/m
2
và mật độ dảnh cơ bản thay đổi 11-6400dảnh/m
2
. Thí
nghiệm được tiến hành trong 2 vụ đã cho thấy thời gian đẻ nhánh của giống
lúa Di Hương thay đổi rõ rệt với các mật độ khác nhau. Mật độ càng cao thì

Như vậy mối quan hệ giữa quần thể và cá thể có thể coi sự phát triển
của quần thể (ruộng lúa) biểu hiện bằng bông trên đơn vị diện tích còn sự phát
triển của cá thể (từng cây lúa) biểu hiện bằng số hạt trên bông và khối lượng
hạt. Khi thay đổi mật độ cấy sẽ tạo ra quá trình đẻ nhánh và hình thành số
bông khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến năng suất. Tiến hành thí nghiệm trên

Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
giống Sán ưu quế để đạt năng suất 300kg/sào bắc bộ thì cần có 7-10 bông/
khóm. Với 7 bông/khóm cần cấy mật độ 43 khóm/m
2
, với 8 bông/khóm cần
cấy mật độ 38 khóm/m
2
, với 9 bông/khóm cần cấy mật độ 33 khóm/m
2
, với
10 bông/khóm cần cấy mật độ 30 khóm/m
2
. Như vậy mật độ cấy cũng ảnh
hưởng đến số bông hữu hiệu trên khóm. Cấy thưa thì tỷ lệ bông hữu hiệu cao
hơn so với cấy mật độ dầy
Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ cấy đến sinh trưởng của lúa ngắn ngày.
(Nguyễn Như Hà, 2005) kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của
cây lúa giảm. So sánh khả năng đẻ nhánh của cây lúa ở mật độ cấy 45 khóm/m
2

và 85 khóm/m
2
thì thấy ở mật độ cấy 45 khóm/m

9
sự 1992; Behera và Jha, 1992). Ước tính thiệt hại năng suất do sự cạnh tranh
của cỏ dại gây ra dao động từ 30-100% (Dobermann và Fairhurst,2000) [20].
Năng suất lúa do cỏ dại phạm vi từ 10-50% (Singh, 1993). Tốc độ tăng trưởng
được kiểm soát cỏ dại gây ra giảm 53% sản lượng lúa trong điều kiện đất có
nước, và giảm 91% sản lượng trong điều kiện đất khô hạn. Trong điều kiện
đất thấp hoặc vùng trũng cỏ dại là vấn đề chính. Trừ cỏ ngay ở giai đoạn đầu
của sự phát triển của cây lúa tốt hơn ở giai đoạn sau. Tổn thất về năng suất hạt
gây ra bởi cỏ dại thay đổi từ 30-50% .
1.3.2. Các phương pháp trừ cỏ
Để trừ cỏ có nhiều phương thức và mỗi phương thức đều có một lợi thế.
Tùy vào điều kiện mà người ta lựa chọn
1.3.2.1. Hiệu quả của việc làm cỏ bằng tay
Các hoạt động làm cỏ lần thứ nhất được thực hiện 3-4 tuần sau khi cấy
và cần 25-34 lao động / ha tùy thuộc vào mật độ cỏ dại. Làm cỏ lần thứ hai
thường được thực hiện 15-30 ngày sau khi làm cỏ đầu tiên và thường yêu cầu
12-15 lao động / ha (Moddy, 1998).[27]
Việc làm cỏ bằng tay hạn chế cỏ dại tốt nhất và giúp cây trồng phát
triển tốt hơn theo nghiên cứu của (Gogoi, 1998) tần suất làm cỏ bằng tay 1-2
lần thì năng suất tăng lên gấp đôi. Cũng theo (Ahmed, 1982) khoảng thời gian
làm cỏ từ khi cấy đến 49 ngày sau dẫn đến năng suất cao nhất cho lúa. Làm cỏ
bằng tay là phương pháp phổ biến nhất và hiệu quả kiểm soát cỏ dại trong
ruộng lúa nhưng nó đang gặ ế. Do tiền lương cao và
không có lao động thời kỳ cao điểm của hoạt động nông nghiệp (Singh,
1999)[32]. Làm cỏ bằng tay cần lượng lao động lớn, tuy nhiên làm cỏ bằng tay
là phổ biến trong các lĩnh vực lao động là do dễ dàng có sẵn và chi phí thấp.
1.3.2.2. Ảnh hương của việc ứng dụng thuốc trừ cỏ trên năng suất lúa
Phương pháp truyền thống làm cỏ bằng tay rất mất thời gian và không
hiệu quả. Kiểm soát cỏ dại hóa học có thể được coi như là một thay thế tốt



Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
Vijayakumar (2006)[30] cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể năng suất
9,7% (tương ứng khoảng cách cấy 20 x 20 cm) và 11,1% (khoảng cách cấy 25
x 25 cm) khi sử dụng cào cỏ cải tiến so với cỏ thông thường (thuốc diệt cỏ +
tay làm cỏ) . Một số phân tích đã chỉ ra rằng làm cỏ bổ sung ngoài hai lần đầu
có thể tăng thêm 0,5 đến 2,5 tấn/ha. Trong một cộng đồng Madagascar, những
người nông dân đã không làm cỏ cào cải tiến năng suất đạt 6,0 tấn/ ha, những
người nông dân đã làm một hoặc hai bằng cào cải tiến đạt năng suất 7,5 tấn/ha
1.4. Lịch sử SRI
Phương pháp SRI đã được tổng hợp trong đầu những năm 1980 bởi
Henri de Laulanié người Pháp đến Madagascar làm việc từ vào năm 1961 và
đã trải qua 34 năm của cuộc đời mình làm việc với nông dân Madagascar để
cải thiện hệ thống nông nghiệp của họ, và đặc biệt là sản xuất lúa gạo của họ,
vì gạo là lương thực chính ở Madagascar. Gạo cung cấp hơn một nửa lượng
calo tiêu thụ hàng ngày ở Madagascar. Laulanié muốn giúp nông dân nâng cao
năng suất của họ mà không cần đầu tư cao bởi vì các hộ gia đình Malagasy rất
nghèo khó.
Henri de Laulanié thành lập một trường nghiệp nông trong Antsirabe
vào năm 1981 để giúp thanh niên nông thôn có kiến thức và kỹ năng có liên
quan đến nghề nghiệp của họ và nhu cầu của gia đình. Mặc dù SRI đã được
"phát hiện" trong năm 1983, phải mất một vài năm để đạt được sự tự tin rằng
những phương pháp liên tục có thể làm tăng sản xuất. Trong năm 1990, cùng
với một số đồng nghiệp Malagasy, Laulanié thành lập một tổ chức phi chính
phủ NGO (Non-Governmental Organization), tên là Hiệp hội Tefy Saina , để
làm việc với nông dân và các chuyên gia nông nghiệp để nâng cao sản lượng
nông thôn và đời sống ở Madagascar.
Trong năm 1994, Tefy Saina bắt đầu làm việc với Viện Quốc tế Cornell
Thực phẩm, Nông nghiệp và Phát triển (CIIFAD) có trụ sở tại Ithaca, để giúp

hình thành lá thứ tư . Điều này giúp cây lúa có khả năng đẻ nhánh tốt nhất,
bởi vì cây lúa có thể đẻ nhánh ngay ở đốt mắt đầu tiên. Cấy mạ non cây mạ ít

Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
bị tổn thương đến bộ rễ, cây lúa không phải trải qua giai đoạn bén rễ hồi xanh,
cho nên nó có thể rút ngắn được thời gian sinh trưởng.
Nguyên tắc thứ 2: Là cấy thưa
Cây lúa với khoảng cách rộng lớn hơn có diện tích hơn đất xung quanh
để vẽ chất dinh dưỡng và tiếp cận tốt hơn với bức xạ năng lượng mặt trời để
quang hợp cao hơn. Khoảng cách là rất quan trọng trong việc thay đổi các
thành phần ảnh hưởng đến năng suất hạt. Việc cung cấp các nguồn dinh
dưỡng chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động hệ thống rễ, khi có phạm vi hoạt
động rộng hơn thì rễ có khả năng hấp thu dinh dưỡng nhiều hơn. Vì vậy
khoảng cách rộng hơn cho phép rễ phát triển dồi dào. Những giống có thời
gian sinh trưởng dài thì sinh trưởng tốt với khoảng cách rộng hơn so với
giống có thời gian sinh trưởng ngắn.
Nguyên tắc thứ ba: Làm cỏ sục bùn
Để kiểm soát cỏ dại, sử dụng cào cỏ cải tiến được khuyến khích, bắt
đầu từ sau 10 ngày sau khi cấy, sau 10 -12 ngày tiến hành làm một lần cho
đến cây kín đất. Một hoặc làm cỏ là đủ để kiểm soát cỏ dại nhất đất
thông khí xuất hiện để kích thích sự tăng trưởng của vi khuẩn hiếu khí và nấm
và các sinh vật có liên quan trong mạng lưới thức ăn đất. Trồng lúa theo mộ
vuông cho phép nông dân để loại trừ theo các hướng vuông góc, mà
đạt được nhiều hơn và tốt hơn thông khí đất. Tất cả những việc này đều biết là
có tác động tích cực đến sản lượng (Horie, 2005)[23]. Làm cỏ tăng năng suất
từ 0,5-1,0 tấn.

Nguyên tắc thứ tư: Là tưới nước hợp lý
Tưới nước ngập khô xen kẽ nó giúp cho việc sản xuất lúa tiết kiệm

SRI bởi bài viết ILEIA của Justin Rabenandrasana, vào năm 1999 và hội thảo

Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
của Noman Uphonff về SRI tại Trường đại học nông nghiệp Nam Ninh năm
1998. SRI được thử nghiệm đầu tiên tại Trường đại học nông nghiệp Nam
Ninh do Tiến sỹ Cao Weixing và Trung tâm nghiên cứu phát triển lúa thực
hiện. Trường đại học nông nghiệp Bắc Kinh đã thử nghiệm kỹ thuật SRI trên
cả hai loại đất, đất trũng và đất cao đều cho kết quả tốt. Sự phát triển của SRI
tại Trung Quốc phát triển rất nhanh, năm 2003 chỉ có 7 hộ gia đình tại làng
Xinsheng sử dụng sử dụng SRI vào sản xuất, nhưng đến năm 2004 đã có 398
hộ gia đình áp dụng chiếm 65% số hộ nông dân tại đó. Trong năm 2007,
110.000 ha lúa SRI đã được trồng tại tỉnh Chiết Giang và 120.000 ha ở tỉnh
Tứ Xuyên. Theo Sở Nông nghiệp, sự phát triển của SRI nhanh như vậy bởi vì
họ thấy rằng SRI cho phép họ giảm hạt giống, nướ
động giảm. Việc xem xét thứ hai là đặc biệt hấp dẫn đối với nhiều nông dân
Trung Quốc bởi vì công nghiệp phát triển đang giảm nguồn cung cấp lao
động cho nông nghiệp. SRI đã làm tăng năng suất lên 35,2%, tiết kiệm nước
43,2%[28] Năng suất trung bình của những nơi canh tác theo SRI đạt 10
tấn/ha, cao hơn với phương pháp truyền thống khoảng 3,5- 4 tấn/ha, đây là kết
quả nghiên cứu của Học viện nông nghiệp Trung Quốc.
1.4.3.2. Ứng dụng SRI Ấn Độ
SRI được đưa vào Ấn năm 2000 khi các nhà nghiên cứu thuộc Trường
đại học Nông nghiệp Tamil Nadu khởi xướng các thí nghiệm liên quan đến
nguyên tắc của SRI trong một dự án hợp tác về trồng và sử dụng ít nước năm
2003. SRI đã được thử nghiệm trên cánh đồng có sự tham gia của 200 nông
dân tại lưu vực sông Cauvery và Tamiraparani. Kết quả cho thấy năng suất
tăng 1,5 tấn/ha trong khi đó giảm chi phí sản xuất và nhu cầu lao động giảm
8%. Kết quả này tạo nền tảng cho việc chính thức khuyến cáo áp dụng SRI
cho nông dân vào năm 2004. Đồng thời trường Đại học Nông nghiệp

Thực nghiệm năm 2001 năng suất trung bình là 5,5 tấn/ha cao hơn so với năng
suất điển hình của phương thức truyền thống 2,5 tấn/ha. Trong những năm sau
năng suất trung bình đạt 5 tấn/ ha, cá biệt có nơi đạt năng suất 10 tấn/ha[29].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status