Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
Các ngân hàng thương mại kinh doanh thu lợi nhuận bằng cách cung cấp
dịch vụ chuyển một loại tài sản này thành một loại tài sản khác cho công chúng.
Khác với doanh nghiệp, tài sản của Ngân hàng thương mại là các tài sản tài
chính, là loại tài sản mà quyền sở hữu và quyền sử dụng hoàn toàn tách rời
nhau. Tài sản chính là nhân tố quan trọng phản ánh trình độ cũng như chất lượng
hoạt động của ngân hàng. Do đó quản lý tài sản là vấn đề có tầm quan trọng đặc
biệt, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại nhất là
trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.
Theo kinh nghiệm cho thấy khi sức khỏe của nền kinh tế có sự thay đổi
thì đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên là hệ thống ngân hàng. Do đó, một ngân
hàng yếu kém trong quản lý sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó,
mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị
khác và ngược lại. Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả
năng hỗ trợ cho khu vực doanh nhiệp sẽ càng lớn. Thời gian tới, khi hàng loạt
các ngân hàng ngoại sẽ ồ ạt "đổ bộ" vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi về
công tác quản lý ngân hàng sẽ càng gay gắt hơn đối với ngân hàng nội.
1
Trước tình hình thực tế như vậy, nhóm 2 chúng em đã chon đề tài: “Phân
tích thực trạng quản lý tài sản của Ngân hàng Vietcombank chi nhánh tại Hà
Nội” nhằm đi sâu và thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho việc
quản lý tài sản của ngân hàng thương mại này ngày càng hiệu quả hơn
2
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VIETCOMBANK)
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Tổ chức tiền thân của Vietcombank:
Vietcombank tiền thân là Sở Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Quốc
gia Việt Nam được thành lập ngày 20/01/1955 theo Nghị định 443/TTg của Thủ
quốc tế, cung ứng tín dụng xuất nhập khẩu. Sau 1975, Vietcombank tiếp quản hệ
thống ngân hàng của chế độ cũ, tham gia đàm phán giảm, hoãn thành công nợ
Nhà nước tại Câu lạc bộ Paris, London. Trong điều kiện bị bao vây cấm vận
kinh tế, Vietcombank tiếp tục nhận viện trợ, tìm kiếm các nguồn vay ngoại tệ,
đẩy mạnh thanh toán quốc tế để phục vụ sự nghiệp khôi phục đất nước sau chiến
tranh và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.
Giai đoạn 1991 - 2007: Vững bước trong thời kỳ hội nhập và đổi mới
Vietcombank đã chính thức chuyển từ Ngân hàng chuyên doanh đối ngoại
trở thành một ngân hàng thương mại nhà nước có hệ thống mạng lưới trên toàn
quốc và quan hệ ngân hàng đại lý trên khắp thế giới. Vietcombank cũng là ngân
hàng đầu tiên triển khai và hoàn thành Đề án Tái cơ cấu (2000 - 2005) mà trọng
tâm là nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành, đổi mới công nghệ, phát
triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, đóng góp cho sự ổn định và phát
triển kinh tế, đồng thời tạo dựng uy tín đối với cộng đồng tài chính khu vực và
toàn cầu.
Giai đoạn 2007-2003: Tiên phong cổ phần hóa, là Ngân hàng hàng đầu
Việt Nam
Năm 2007, Vietcombank tiên phong cổ phần hóa trong ngành ngân hàng
và thực hiện thành công kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.
Ngày 02/06/2008, Vietcombank đã chính thức hoạt động theo mô hình ngân
hàng thương mại cổ phần. Ngày 30/6/2009, Vietcombank chính thức niêm yết
cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 09/2011
Vietcombank ký kết Hợp đồng cổ đông chiến lược với Mizuho Corporate Bank.
Ngày 01/04/2013, Vietcombank đã tổ chức Lễ Kỷ niệm 50 năm thành lập
(1963 - 2013) và đón nhận Huân chương Độc lập Hạng Nhất do Đảng và Nhà
nước trao tặng. Nhân sự kiện đặc biệt này, Vietcombank cũng đã chính thức
công bố hệ thống nhận diện thương hiệu mới cùng với thông điệp/lời hứa của
thương hiệu “Chung niềm tin vững tương lai”, khẳng định cam kết của
Vietcombank luôn sẵn sàng đồng hành cùng khách hàng trên con đường hướng
4
Cardif
45%
Công ty VCB
Tower 198
70%
Công ty Quản lý
Quỹ
Vietcombank
(VCBF)
51%
51%
Công ty chuyển tiền
Vietcombank
75%
Công ty Tài chính
Việt Nam (Vinafico
HK)
100%
Công ty
VCB
Bonday
16%
Công ty
VCB
Bonday –
Bến
Thành.
52%
3. Định hướng phát triển.
3.1. Định hướng chiến lược trung và dài hạn.
mà giá trị thương hiệu cùng uy tín Vietcombank suốt 50 năm qua đã không
ngừng được gây dựng và vun đắp.
II. TÀI SẢN VÀ CÁC KHOẢN MỤC TÀI SẢN
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Do đặc thù đó
nên phần lớn tài sản của ngân hàng là các tài sản chính, gồm các hợp đồng cho
7
vay, hợp đồng thuê- mua , các chứng khoán, các khoản tiền gửi…Một phần nhỏ
trong khối tài sản của ngân hàng là tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết bị,…
Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khác nhau và vì những mục
tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.
Kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2011-2013 Vietcombank Hà Nội đã
có sự tăng trưởng nhất định : trước tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm
cho nền kinh tế trong nước trì trệ.
Tuy nhiên VCB Hà Nội vẫn đạt đươc một số chỉ tiêu khả quan số dư huy
động vốn của VCB Hà Nội vẫn đạt kết quả rất khả quan tăng bình quân 16%
một năm từ 24.639 tỷ năm 2011 lên 33.154 tỷ năm 2013, dư nợ tín dụng tăng
bình quân 14,5 % trên một năm tãng từ 20.997 tỷ năm 2011 lên 27.528 tỷ năm
2013.
Nợ xấu chiếm tỷ lệ 2,62% trên tổng dư nợ. kế hoạch khống chế dưới
(+3%). Lợi nhuận hợp nhất của VCB năm 2013 đạt 57 tỷ đồng, đạt 100.4 kế
hoạch.
Tổng tài sản của VCB Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2013 tăng 27,9%
tương đương 10.227 tỷ đồng.
1. Tình hình tài chính Vietcombank giai đoạn 2008 - 2013
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu diễn ra ngay
trong năm Vietcombank tiến hành cổ phần hóa (2008). Kinh tế trong nước
không nằm ngoài đà suy giảm chung của kinh tế thế giới, tăng trưởng GDP
chậm lại, sản xuất - kinh doanh đình trệ, lạm phát diễn biến phức tạp, có năm lên
tới gần 20%, trong giai đoạn 2011 - 2012 có khoảng 100.000 doanh nghiệp
ngừng hoạt động, giải thể…
chú trọng thu hồi nợ, tích cực xử lý nợ xấu nên tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank đã
giảm từ 4,6% tại thời điểm 31/12/2008 xuống còn 2,4% tại thời điểm
31/12/2012 và luôn dưới mức 3% trong giai đoạn 2009 - 2012.
Thứ năm, triển khai thành công nhiều đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn
điều lệ. Cụ thể: phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, tăng vốn điều lệ thêm
9,28% (năm 2010) và 33% (năm 2011) với giá phát hành bằng mệnh giá; trả cổ
tức năm 2010 bằng cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm 12% (năm 2011), sau đó
phát hành riêng lẻ 15% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược Mizuho Corporate
Bank (năm 2011). Tại thời điểm 31/12/2012, vốn điều lệ của Vietcombank đạt
23.174 tỷ đồng, tăng 91,5% so với thời điểm 31/12/2008; quy mô vốn chủ sở
hữu đạt 41.553 tỷ đồng, tăng gần 198% so với năm 2008.
Thứ sáu, minh bạch hoá thông tin, tăng cường quan hệ cổ đông, nhà đầu
tư; duy trì chính sách chi trả cổ tức hàng năm ổn định ở mức 12%, trong đó có 4
năm chi trả bằng tiền mặt và 1 năm chi trả bằng cổ phiếu (năm 2010). Năm
2009, Vietcombank niêm yết cổ phiếu trên Sở GDCK TP. HCM, với mã VCB.
Hiện cổ phiếu VCB thuộc VN30 và là một trong các cổ phiếu có quy mô vốn
hóa lớn nhất thị trường (xấp xỉ 3 tỷ USD). Từ khi niêm yết tới nay, cổ phiếu
VCB luôn được giao dịch ở mức giá cao nhất trong số các cổ phiếu ngân hàng
niêm yết và được nhà đầu tư nước ngoài duy trì trạng thái mua ròng hàng năm.
Thứ bảy, củng cố quan hệ khách hàng, chuẩn hoá thương hiệu, nâng cấp
hệ thống ngân hàng lõi, đẩy mạnh các hoạt động vì cộng đồng và mở rộng quan
hệ đối ngoại.
10
2. Tài sản.
2.1. Ngân quỹ.
Ngân quỹ của ngân hàng thường bao gồm:
a.Tiền mặt trong két ( tiền mặt và các khoản tương đương tiền ):
Bao gồm nội tệ, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý đá quý . Theo số liệu ở bảng
trên, tiền mặt trong két của ngân hàng VietcomBank năm 2013 so với năm 2012
tăng 452.366 triệu VND ( 8.067 %).
• Tỉ trọng trong tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
• Nhu cầu thanh khoản của ngân hàng
• Khả năng thu hút tiền mặt của ngân hàng thương mại
• Khả năng vay mượn từ các ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại
khác
b. Tiền gửi tại các ngân hàng khác
Gồm có:
• Gửi tại ngân hàng nhà nước vì mục tiêu dự trữ bắt buộc và thanh toán bù
trừ giữa các ngân hàng với nhau
• Gửi tại các ngân hàng khác vì các mục tiêu :
Thanh toán liên ngân hàng bằng cách mở tài khoản tại ngân hàng nhà
nước hoặc tại chính các ngân hàng
Vì mục tiêu lợi nhuận
Giảm áp lực, nhàn rỗi vốn tạm thời
Theo bảng số liệu, Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước Việt Nam tăng
9.111.537 triệu VND (57,91%). Tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác
tăng 26.024.323 triệu VND (39,6%). Dự phòng rủi ro cho vay các tổ chức tín
dụng giảm 50.849 triệu VND ( 50,2%)
Dự trữ bắt buộc là một số tiền nhất định mà ngân hàng trung ương
yêu cầu ngân hàng thương mại phải dự trữ
• Cách xác định dự trữ bắt buộc xác định theo kỳ và ở Việt Nam là theo
tháng dương lịch.
• Kỳ xác định là kỳ hay số ngày được sử dụng để tính số dư bình quân của
các tài khoản phải tính dự trữ bắt buộc.
• Kỳ duy trì là khoảng thời gian mà đối tượng dự trữ bắt buộc phải thực
hiện theo mức đã tính toán cuối kỳ xác định
12
Mức dự trữ bắt buộc = tỷ lệ dự trữ bắt buộc x số dư bình quân tài khoản
thuộc đối tượng dự trữ kỳ xác định
Trong đó:
13
Chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước
Nhu cầu thanh toán của ngânh hàng
Quy mô vốn nhàn rỗi tạm thời
Môi trường cho vay và đầu tư
2.2. Chứng khoán
Ngân hàng thương mại năm giữ chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và
đa dạng hóa tài sản.
Ngân hàng nắm giữ nhiều loại chứng khoán khác nhau, có thể xếp loại
theo nhiều tiêu thức khác nhau. Hai loại chứng khoán nổi bật mà ngân hàng nắn
giữ là:
• Chứng khoán thanh khoản vì mục tiêu dự trữ( dự trữ thứ cấp)
• Chứng khoán đầu tư vì mục tiêu sinh lời( thường có kì hạn dài)
Trong thực tế, ngân hàng nắm giữ các loại chứng khoán :
• Chứng khoán kinh doanh thường nắm giữ trong 1 năm, lợi nhuân thu
được là chênh lệch giữa giá mua và giá bán
• Chứng khoán đầu tư lợi nhuân thu được sẽ bằng lãi mà chứng khoán này
mang lại đối với chứng khoán giư đến ngày đáo hạn
Ngân hàng giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng và
có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết. Ngân hàng thường chia chứng
khoán thành loại thanh khoản và kém thanh khoản. Thông thường, các chứng
khoán thanh khoản có tính an toàn cao, dễ bán ít giảm giá , có tỷ lệ sinh lời
thấp. Chứng khoán đầu tư phần rủi ro cao,tính an toàn thấp và thường có tỷlệ
sinh lời cao. Chứng khoán được giữ như một tài sản đệm trong ngân quỹ.
Ngân hàng nắm giữ chứng khoán chính phủ (độ an toàn cao) vì chúng có thể
được miễn thuế hoặc là do yêu cầu của chính quyền các cấp.
Xếp sau chứng khoán của chính phủ là giấy nợ ngắn hạn do các công ty hoặc
các công ty tài chính nổi tiếng phát hành hoặc chấp thanh toán.
Câu hỏi đặt ra là để xác định tỷ trọng của chứng khoán thanh khoản và chứng
khoán đầu tư cần phải căn cứ vào đâu???
• Cho thuê tài chính.
2.3.1.Đặc điểm:
• Là tài sản mang lại tổng thu lãi cao nhất cho ngân hàng.
15
• Tính thanh khoản thấp phụ thuộc vào thị trường chuyển đổi và khả năng
chuyển đổi của tín dụng đó.
• Tỷ trọng thường lớn nhất trong tổng tài sản(50%-70%)
2.3.2. Phân loại:
a.Theo thời gian:
* Tín dụng ngắn hạn (dưới 12 tháng).
• Đây là hình thức cấp tín dụng kì hạn tối đa 12 tháng, trong đó
Vietcombank đáp ứng nhu cầu vay vốn gắn liền mục đích vay, phương án
kinh doanh cụ thể.
• Đặc điểm
Mỗi lần có nhu cầu rút vốn, doanh nghiệp sẽ phải lập 01 bộ hồ sơ
vay.
Tổng số tiền giải ngân ≤ Số tiền vay cam kết trong hợp đồng.
• Lợi ích
Kì hạn linh hoạt từ 1 đến 12 tháng;
Loại tiền cho vay đa dạng: VND, USD hoặc ngoại tệ khác;
Thích hợp với doanh nghiệp có nhu cầu vốn không thường xuyên,
hoặc vay có tính chất mùa vụ.
* Tín dụng trung hạn (1-5 năm) tài trợ cho các tài sản cố định như phương
tiện vận tải,một số cây trồng vật nuôi,trang thiết bị chóng hao mòn.
* Tín dụng dài hạn( tren 5 năm) tài trợ cho công trình xây dựng như
nhà,sân bay,cầu đường,máy móc thiết bị có giá trị lớn,thường có thời gian sử
dụng lâu.
b.Theo hình thức tài trợ:
* Cho vay:
• Cho vay lưu động:
Cải thiện dòng tiền và khả năng chi trả của doanh nghiệp;
Được các chuyên gia giàu kinh nghiệm tư vấn phương án thuê tài
chính thích hợp nhất;
Kết thúc thời hạn thuê, có thể được chuyển quyền sở hữu hoặc mua
lại tài sản thuê.
* Bảo lãnh:
Theo yêu cầu của khách hàng, Vietcombank phát hành một cam kết bằng văn
bản với một bên thứ ba do khách hàng chỉ định (bên thụ hưởng bảo lãnh) về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực
17
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng bảo
lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trả
thay.
Các loại bảo lãnh có thể phát hành:
• Bảo lãnh vay vốn.
• Bảo lãnh thanh toán / Thư tín dụng dự phòng
• Bảo lãnh dự thầu
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
• Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
• Bảo lãnh thanh toán tiền ứng trước (Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo
lãnh hoàn trả tiền đặt cọc hoặc bảo lãnh tiền đặt cọc)
• Bảo lãnh khoản tiền giữ lại (Bảo lãnh chất lượng công trình/ Bảo lãnh bảo
hành/ Bảo lãnh bảo dưỡng)
• Bảo lãnh đối ứng
• Xác nhận bảo lãnh
• Bảo lãnh du học
Các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế.
c.Theo loại đảm bảo.
• Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản:
Thế chấp-cầm cố.
• Tỷ lệ lạm phát cao khiến cho giá các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp liên tục tăng đã đẩy chi phí sản xuất tăng
cao, lãi suất vay vốn tăng cao, tỷ giá trên thị trường thường xuyên biến
động phức tạp làm tăng chi phí vốn đồng thời gia tăng rủi ro tỷ giá của
doanh nghiệp làm giảm hiệu quả đầu tư.
• Tác động lan tỏa khiến công nợ, nợ khó đòi của các doanh nghiệp tăng
lên.
• Khủng hoảng tài chính, ngân hàng tại Mỹ và châu Âu tác động tiêu ực
đến nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu của các
doanh nghiệp Việt Nam. Do chịu ảnh hưởng bất lợi của kinh tế tác động
19
tiêu cực đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay
như nêu trên dẫn đến hạn chế khả năng thanh toán nợ ngân hàng và do đó
tỷ lệ nợ xấu đã tăng cao tại thời điểm cuối năm 2008 là 4,66%, tổng số nợ
xấu đã tăng 54,6% so với năm 2007, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank đã cao
hơn mức trung bình của ngành ngân hàng (3,5%). Đây là vấn đề đòi hỏi
Vietcombank phải quan tâm sát sao trong thời gian tới. Hoạt động thanh
toánTrong năm 2008 doanh số TTXNK đạt 32.501 triệu USD tăng 22,9%
so với 2007, tốc độ tăng trưởng sụt giảm so với các năm trước, thị phần
thanh.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank –VCB) vừa
công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý 1/2014. Theo báo cáo, tại thời điểm
31/3, ngân hàng có 446.118 tỷ đồng tài sản, giảm 22.876 tỷ hay 4,9% so với
cuối 2013. Huy động vốn khách hàng quý 1 đạt 342.998 tỷ đồng, tăng 3,2%. Tín
dụng trong khi đó tăng trưởng 1,76% với dư nợ cho vay khách hàng đạt 279.149
tỷ đồng.
Trong hoạt động kinh doanh, Vietcombank ghi nhận thu nhập lãi thuần
tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, đạt 2.766 tỷ đồng; lãi từ dịch vụ tăng gần
11% đạt 424 tỷ đồng; từ kinh doanh ngoại hối đạt 442 tỷ đồng, thấp hơn 7,1%
so với quý 1 năm trước. Cả chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư đều
Vietcombank cung cấp dịch vụ quản lý các quỹ thành viên và quỹ công chúng
dạng đóng.
Hiện nay, Vietcombank đang quản lý ba quỹ thành viên hoạt động trên thị
trường trong và ngoài nước. Các quỹ này đầu tư vào các doanh nghiệp chưa
niêm yết và chứng khoán đã niêm yết. Vietcombank áp dụng tiêu chuẩn quốc tế
trong phương thức tiếp cận đầu tư vào doanh nghiệp chưa niêm yết. quy trình
đầu tư bao gồm thực hiên mô hình phân tích tài chính doanh nghiệp chi tiết thẩm
định, định giá đầu tư thận trọng và cấu trúc các khoản đầu tư vào các công ty
quản lý tốt và nhiều tiềm năng tăng trưởng mạnh.
2. Quản lý chứng khoán.
Chứng khoán có thể phân chia thành nhiều tiêu thức. Tuy nhiên ngân hàng quan
tâm đến hai giác độ chính là an toàn và sinh lợi của chứng khoán. Vì vậy:
• Ngân hàng phân chia chứng khoán thành 2 nhóm chính:
Chứng khoán thanh khoản song sinh lời thấp.
Chứng khoán kém thanh khoản song sinh lời cao. Trong đó, loại thứ
nhất được nắm giữ để đáp ứng nhu cầu chi trả. Loại thứ hai để đáp ứng
nhu cầu sinh lời.
• Ngân hàng giữ nhiều loại chứng khoán: chứng khoán chính phủ trung
ương hoặc địa phương chứng khoán của công ty.
• Chứng khoán mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để tăng
ngân quỹ khi cần thiết.
21
• Chứng khoán thanh khoản được giữ như một tài sản đệm cho ngân quỹ.
• Ngân hàng nắm giữ chứng khoán chính phủ( nđược coi là an toàn cao) vì
chúng có thể được miễn thuế hoặc do yêu cầu của chính quyền các cấp.
• Xếp sau chứng khoán của chính phủ là giấy nợ ngân hàng do các công ty
hoặc các công ty tài chính nổi tiếng phát hành hoặc chấp nhận thanh toán.
3 Quản lý tín dụng
Vietcombank áp dụng các biện pháp quản lý tín dụng như:
• Quản lí danh mục tín dụng.
hưởng đến tài sản ngoại bảng như: thị trường nguồn vốn, tỷ giá, lãi suất,
sự thành công của các đối tác…
• Thứ ba, ngân hàng cần dự phòng trước nguồn tài trợ cho tài sản ngoại
bảng, như: gia tăng ngân quỹ, các chứng khoán thanh khoản với lãi suất
sinh lời thấp, hoặc dự trữ vay mượn cấp bách với lãi suất cao hoặc trích
quỹ dự phòng tổn thất.
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN
• Mối liên hệ sinh lời :
Tài sản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng còn nguồn vốn liên
quan tới chi phí chủ yếu của ngân hàng, chi phí trả lãi. Quy mô huy
động càng tăng, tài sản càng tăng, khả năng sinh lời có thể càng lớn
hoặc ngược lại.
Ngân hàng có thể theo đuổi lãi suất huy động cao để tìm kiếm các
nguồn tiền với quy mô lớn, để cho vay với lãi suất cao, hoặc từ lãi suất
cho vay phải chấp nhận trên thị trường, nỗ lực tìm kiếm các nguồn với
chi phí thấp. Ngân hàng không tham gia đặt giá, phải tự điều chỉnh cơ
cấu nguôn vốn và tài sản nhằm thỏa mãn yêu cầu sinh lời.
Mối liên hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản thường được đo bằng
tỷ lệ tài sản sinh lãi và chênh lệch lãi suất.
Chênh lệch lãi suất cơ bản= ( doanh thu từ lãi – chi phí trả lãi)/ tài
sản sinh lời bình quân.
Hoặc đo bằng thu nhập ròng trên tổng tài sản ( ROA)
ROA= Thu nhập ròng sau thuế/ Tổng tài sản bình quân.
23
• Mối liên hệ an toàn:
Ngân hàng duy trì mối liên hệ an toàn theo luật định.
Quy mô và cấu trúc tiền gửi liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ và
chứng khoán thanh khoản cũng như kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng
Phân tích một số chỉ tiêu hoạt động chính của ngân hàng năm 2010-
2012
25