Luận văn Xây dựng quy trình bóc tách tôn vỏ, kết cấu thân tàu thủy để lập hồ sơ dự toán đóng tàu theo thiết kế - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lập dự toán cho việc đóng mới hoặc sửa chữa một con tàu là một công
việc hết sức quan trọng. Nếu việc lập dự toán đóng tàu sát với thực tế thì nó
sẽ giúp cho đơn vị đóng tàu giảm được rất nhiều chi phí trong quá trình đóng
một con tàu, đồng thời việc nắm được kinh phí đóng một con tàu từ lúc lập dự
án đến khi hoàn thành cũng là một kênh tham khảo rất hữu ích cho chủ đầu tư
khi quyết định chọn nhà thầu và đơn vị thi công cho kế hoạch kinh doanh của
mình.
Hiện tại ở Việt Nam, việc lập dự toán xây dựng được thực hiện gần như
tiêu chuẩn dựa trên các phần mềm uy tín. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đóng tàu
công việc lập dự toán vẫn đang gặp nhiều khó khăn, mỗi nơi mỗi khác, không
thống nhất do đặc thù của công việc đóng tàu.
Lập dự toán đóng tàu có nghĩa là chúng ta phải tính toán được các chi
phí cần có khi đóng một con tàu mà chúng ta có thể kể ra sau đây:
Chi phí thiết kế;
Chi phí đăng kiểm;
Chi phí nguyên vật liệu (Vật tư chính, vật tư phụ, máy móc thiết bị lắp
đặt trên tàu .v.v );
Chi phí năng lượng (điện, ga, Oxy .v.v );
Chi phí nhân công trực tiếp, gián tiếp;
Chi phí quản lý dự án;
Chi phí tài chính, bảo hiểm;
1
Chi phí khấu hao tài sản cố định;
Chi phí tiếp thị, quảng cáo;
Chi phí rủi ro, dự phòng;
Chi phí sản xuất chung;
Thuế;
Chi phí bảo hành sau bán hàng (nếu có).
Trong các hạng mục kể trên, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới các chi

xây dựng quy trình bóc tách tôn vỏ và kết cấu tàu thủy để lập phương án dự
toán tối ưu nhất cho tàu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Dựa vào việc tổng hợp các phương pháp lập dự toán hiện tại, tác giả tập
trung đi vào phân tích ưu điểm, nhược điểm của từng phương pháp qua đó
đưa ra quy trình bóc tách tôn vỏ hợp lý nhất, thuận tiện nhất cho việc lập dự
toán đóng mới, sửa chữa tàu ứng với từng trường hợp cụ thể.
Đề tài sẽ là cơ sở quan trọng để các chủ đầu tư có thể tham khảo và để
nhà thầu áp dụng trong việc lập hồ sơ gói thầu cũng như xây dựng phương án
lập dự toán đóng mới tàu của mình được chính xác, tiết kiệm nhất.
Đề tài cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn đồng nghiệp,
các bạn sinh viên trong công việc cũng như trong quá trình học tập của mình.
3
CHƯƠNG 1: CÁC GIẢI PHÁP BÓC TÁCH XÂY DỰNG DỰ TOÁN
TRONG ĐÓNG TÀU
1.1. Thành phần giá thành
Giá thành của một con tàu là một chi phí tổng hợp phức tạp, khó xác
định, cũng giống như các sản phẩm khác giá thành đóng mới một con tàu
cũng được cấu thành bởi các loại chi phí sau:
Chi phí thiết kế;
Chi phí đăng kiểm;
Chi phí nguyên vật liệu (Vật tư chính, vật tư phụ, máy móc thiết bị lắp
đặt trên tàu .v.v );
Chi phí năng lượng (điện, ga, Oxy .v.v );
Chi phí nhân công trực tiếp, gián tiếp;
Chi phí quản lý dự án;
Chi phí tài chính, bảo hiểm;
Chi phí khấu hao tài sản cố định;
Chi phí tiếp thị, quảng cáo;
Chi phí rủi ro, dự phòng;

Chi phí quản trị dự án là chi phí cần trả cho người tham gia quản lý dự
án như quản lý vật tư, quản lý kỹ thuật .v.v.
Chi phí tài chính, bảo hiểm: Chi phí tài chính là chi phí liên quan đến
số tiền phải đi vay của chủ đầu tư, chi phí này nếu không quản lý tốt sẽ rất
khó xác định được vì không biết mình thừa, thiếu bao nhiêu và trong mỗi giai
đoạn khác nhau là bao nhiêu. Chi phí này có thể tính tương đối chính xác nếu
chúng ta xây dựng được tiến độ đóng mới tàu và căn cứ vào đó với mỗi một
phương án đóng khác nhau, người lập dự án sẽ tính được được số tiền cần có
và từ đó chủ tàu sẽ cân đối để biết mình có cần vay hay không và vay bao
nhiêu, thông qua đó chúng ta có thể tính được chi phí tài chính. Còn đối với
chi phí bảo hiểm phụ thuộc vào hãng bảo hiểm mà ta chọn, tốt nhất ta lên
chọn hãng bảo hiểm nào có uy tín, có thể đảm bảo thanh toán được khi có sự
cố.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Để tính được chi phí này cần phải
liệt kê ra được những tài sản cố định nào tham gia vào quá trình sản xuất, sau
đó bộ phận tài chính kế toán sẽ đăng ký với cơ quan quản lý thuế về phương
thức khấu hao tài sản cố định và chúng ta có thể dựa vào đó để tính.
Chi phí tiếp thị quảng cáo và công tác thị trường, khách hàng: Nếu là
tàu đóng với mục đích thương mại thì chúng ta sẽ quan tâm đến chi phí này
còn nếu không thì có thể bỏ qua.
Chi phí rủi ro, dự phòng: Là chi phí tính đến các rủi ro trong quá trình
đóng tàu như sự biến động của giá vật tư, sự thay đổi của thị trường, tỷ giá
.v.v. Chi phí này thường khó xác định, tốt nhất lên tham khảo các tàu đã đóng
và xem xét tình hình hiện tại của nền kinh tế để đưa ra một con số thích hợp.
Chi phí sản xuất chung: là các chi phí mà không thể chỉ rõ được xuất
phát từ đâu, có thể là chi phí để ngoại giao, chi phí vì không làm đúng kế
6
hoạch, chẳng hạn hôm nay tôi đến nhận vật tư tại một địa điểm nào đó thì vì
lý do nào đó không nhận được và ngày hôm đó hiệu quả coi như bằng không,
tuy nhiên ta vẫn phải trả lương cho lái xe, tiền dầu, nhỡ kế hoạch sản xuất

bình thường không phát hiện được như sự va chạm giữa các kết cấu, các lỗi
sai trong triển khai, sự lồi, lõm của bề mặt vỏ bao v.v.
Tóm lại quy trình triển khai công nghệ phục vụ cho việc đóng tàu cũng
như dự toán giá thành tàu được thực hiện theo các bước sau:
8
Nhận hồ sơ thiết kế kỹ thuật Áp dụng một trong các phần
mềm để mô hình hóa kết
cấu
Xuất ra trị số về khối lượng,
trọng tâm của kết cấu các mặt
cắt sườn, cắt dọc.
Kiểm tra sự hợp lý của kết
cấu, có sự va chạm kết cấu
hay không.
Tính các chi phí khác liên
quan và dự toán giá thành tàu.
Và tính chi phí theo tiến độ
sản xuất
Xuất trị số về khối lượng, trọng tâm,
diện tích sơn, của từng loại thép hình,
thép tấm của từng phân , tổng đoặn
Xuất trị số về khối lượng,
trọng tâm, diện tích sơn, của
từng loại thép hình, thép tấm
toàn tàu
Dựa vào năng lực của nhà
máy, kết cấu tàu phân chia
phân tổng đoạn hợp lý
Hình 1.1: Quá trình triển khai công nghệ đóng tàu
1.2. Giải pháp dự toán giá thành tàu

hoặc cá nhân nào đó tính toán giá thành dựa trên việc bóc tách các chi tiết kết
cấu, tôn vỏ, thiết bị .v.v. Phương pháp này cho độ chính xác khá tin cậy. Tuy
nhiên, nếu chỉ dựa vào hồ sơ kỹ thuật thì đôi khi là không đủ vì người tính
toán sẽ không lường trước được các chi phí liên quan như chi phí khí, gas,
que hàn, mã cẩu .v.v. và đôi khi trong quá trình đóng tàu có nhiều lúc phải sửa
thiết kế, thay đổi kết cấu để phù hợp công nghệ, như vậy là dự toán sẽ có sai
số.
Bên cạnh đó, nếu việc bóc tách tôn vỏ bao, kết cấu, nhất là tôn vỏ bao
bằng các phương pháp cổ điển thuần túy như: Phương pháp Êgôrốp,
Trênakôp, trắc địa .v.v. thường cho kết quả không chính xác. Ví dụ, khi tham
khảo phương pháp bóc tách tôn vỏ bao bằng phương pháp Êgôrốp tại nhà máy
đóng tàu Đại Dương, những phần tôn cong như vùng đuôi, vùng mũi thường
cho kết quả có sai số là từ 5 đến 10 % so với thực tế [3].
Hiện nay, khi ngành công nghiệp đóng tàu của chúng ta đang phát triển
thì việc du nhập các phần mềm công nghệ phục vụ đóng tàu được thực hiện
tại gần như hầu hết các nhà máy lớn. Chúng ta đang tập trung vào vấn đề sử
dụng công nghệ là chính mà đôi khi lại không để ý đến vấn đề có thể dựa vào
nó cho việc lập dự toán giá thành tàu.
Như vậy, qua việc phân tích đánh giá các phương pháp dự toán giá
thành, cũng như bóc tách tôn vỏ, kết cấu ở trong nước và trên thế giới tác giả
thấy rằng, việc áp dụng phần mềm vào việc mô hình hóa kết cấu và qua đó
bóc tách khối lượng tôn sắt thép, thiết bị, lập kế hoạch mua sắm vật tư, phân
chia phân, tổng đoạn, lập kế hoạch đóng tàu .v.v. và qua đó dự toán giá thành
10
tàu sẽ cho độ chính xác cao nhất có thể có và điều này đã và đang được thế
giới áp dụng, vì vậy chúng ta cũng cần đi theo hướng này.
Phân tích công việc là như vậy, tuy nhiên, công việc bắt đầu từ đâu, làm
như thế nào, phân tích công việc như thế nào, đánh giá như thế nào, tổng hợp
ra làm sao thì hiện tại chúng ta chưa có. Trong luận văn này tác giả cố gắng
giải quyết các vấn đề đó để xây dựng quy trình bóc tách tôn vỏ, kết cấu tàu

Máy, trang thiết bị động
lực
3
Trang thiết bị điện tàu và
nghi khí hàng hải
4
Trang thiết bị boong, lắp
miệng hầm hàng
5 Trang bị thuyền viên
6 Vật liệu phụ, nhiên liệu
7 Chuẩn bị sản xuất
Tổng từ 1 đến 7 VL
II
Chi phí vận chuyển, bốc
xếp
VC
Cộng chi phí vật tư, thiết
bị (I+II)
12
III Điện dùng để sản xuất ĐL
IV
Tiền lương CNSX chính
NCTT
V Bảo hiểm xã hội BH
VI
Chi phí chung (chi phí
XD thiết bị + CP PX+
QLSX)
CPC
A

IX Thuế VAT VAT
D Giá buôn bán sau thuế Z
ST
Z
TT
+ VAT
X Thiết kế phí TK
Giá buôn bán công
nghiệp (từ I đến X)
Z
ST
+ TK
Làm tròn
Trong vấn đề tính toán giá thành tàu một vấn đề rất quan trọng là: Khối
lượng kim loại thường chiếm tỷ trọng rất lớn, thường là từ 65% đến 75 % giá
thành tàu, ngoài ra nó còn là chi phí đầu vào cho việc tính toán một loạt các
chi phí khác như đã nêu ở các phần trên, vì vậy phải tính chính xác thành
phần khối lượng này. Muốn tăng độ chính xác trọng việc tính khối lượng tàu
thì cần thiết phải áp dụng phần mềm để mô hình hóa kết cấu tàu, đây cũng là
xu hướng chung của thế giới. Vậy, chúng ta áp dụng phần mềm nào cho công
việc này, phần mềm đó có được sử dụng thuận tiện ở Việt Nam hay không,
trên thế giới nó được đánh giá như thế nào, có tin cậy không là việc cần thiết
13
phải phân tích lựa chọn, và sau khi mô hình hóa được kết cấu thân tàu rồi
chúng ta xử lý các kết quả thu được như thế nào để đem lại hiệu quả lớn nhất,
thuận tiện cho việc áp dụng.
2.2. Quy trình bóc tách tôn vỏ và kết cấu thân tàu thủy.
2.2.1 Lựa chọn phần mềm để mô hình hóa kết cấu tàu
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phần mềm dùng để mô hình hóa kết
cấu và khai triển công nghệ tàu mà chúng ta có thể kể ra sau đây:

đầu tiên.
1990: Sự sát nhập của các công ty con thành tổng công ty
ShipConstructor Software Inc.
1991: Phát triển chương trình rải tôn ShipCAM chạy trên PC đầu tiên.
1996: Phát triển chương trình xây dựng kết cấu tàu CAD-Link chạy
trên nền AutoCad đầu tiên.
1997: ShipConstructor bắt đầu tích hợp ShipCAM, CAD-Link và NC-
Pyros.
2001: Phát triển 2 module mới Pipe và Equipment.
2002: Phát triển các module mới AutomaticNest, ProfileNest,
BuildStrategy và FlyThrough.
2003: Phát triển 2 module mới HVAC và Penetrations.
2004: Phát triển module mới Hull, đưa phần chỉnh trơn tuyến hình và
rải tôn vào AutoCAD.
2006: Công nghệ DDROM mới và SmartPart.
2008: Phát triển module mới Project Split & Merge.
15
2009: Ra đời phiên bản SC2009 với module mới là Electrical và Weld
Management
2011: Phát triển module mới Space Allocations
b/ Các Module chính trong ShipConstructor:
Module Structure: dùng để mô hình hóa kết cấu tàu trong không gian
3D, xuất số liệu vật tư .v.v. là module chính trong ShipConstructor và hầu hết
các công việc được thực hiện tại đây. Module Structure chạy trên nền CAD và
kế thừa toàn bộ các lệnh của CAD, sau khi mô hình hóa kết cấu sẽ cung cấp
các công cụ cho phép quan sát kết cấu từ các hướng nhìn khác nhau, qua đó
giúp nhà thiết kế phát hiện những lỗi sai để khắc phục;
Module ShipCAM: gồm các module nhỏ hơn như LinesFairing (tạo
mặt vỏ và kiểm tra độ trơn của tuyến hình), LoftSpace (quản lý mặt vỏ và thực
hiện các công việc liên quan đến mặt vỏ như phân chia mặt vỏ, nối mặt, tạo

Report: Dùng để xuất bản tổng hợp vật tư.
ShipConstructor 2008 sử dụng một công nghệ mới để tạo, lưu trữ và
cập nhật thông tin các chi tiết: DDROM (the Database Driven Relational
Object Model) mô hình đối tượng cơ sở dữ liệu động.
DDROM giống như một mô hình tham số. Mô hình tham số là một
cách để định nghĩa hình học các đối tượng trong sự phụ thuộc vào đối tượng
đã được xây dựng trước, theo cách này khi ta sửa đổi hình dáng một đối tượng
17
nào đó thì sẽ làm cho đối tượng khác liên quan thay đổi theo, đây là môt cải
tiến rất quan trọng so với các phiên bản ShipConstructor trước đây, nó giúp
người thiết kế không phải làm lại từ đầu các công việc bị lỗi với các đối tượng
riêng rẽ hoặc có đặc tính giống nhau, mà chỉ cần sửa một trong số chúng và
hệ thống sẽ cập nhật tự động.
Khi chúng ta làm việc trong SC, chúng ta tạo và làm việc bên trong các
bản vẽ. Mỗi bản vẽ chỉ là một cách giao tiếp giữa chúng ta với mô hình, toàn
bộ dữ liệu của mô hình được lưu trong cơ sở dữ liệu.
Cách tổ chức công việc trong ShipConstructor được thực hiện như hình 2.1
2.2.3. Xây dựng quy trình bóc tách tôn vỏ
Chúng ta xây dựng quy trình tuần tự theo các bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu hồ sơ thiết kế kỹ thuật tàu đặc biệt là các bản vẽ
tuyến hình, bố trí chung và kết cấu của tàu. Tuyến hình tàu sẽ là cơ sở để
chúng ta xây dựng tuyến hình 3D tàu dạng mặt. Bản vẽ kết cấu của tàu là cơ
sở để từ đó ta có các số liệu về kết cấu như chiều dày tôn vỏ, quy cách kết cấu
các xương gia cường, hình thức kết cấu của tàu. Bản vẽ bố trí chung sẽ là bản
vẽ dùng để đối chiếu xem kết cấu có phù hợp bố trí chung hay không vì thông
thường ở bản vẽ kết cấu trong giai đoạn kỹ thuật, bản vẽ kết cấu thường dừng
lại ở việc khái quát các kết cấu chính của tàu mà chưa đi vào cụ thể từng
khoang két;
Bước 2: Dùng phần mềm ShipConstructor để mô hình hóa kết cấu. Đầu
tiên chúng ta dùng module ShipCam hoặc Hull để tạo tuyến hình 3d cho tàu,

PART (chi tiết kết cấu)
Các chi tiết gồm thép tấm,
thép hình, mã, bản cánh…
STRUCTURE (vỏ)
Chứa các chi tiết kết cấu
phần vỏ
CURVED
Chứa các tấm tôn cong
PLANAR GROUP
(Nhóm kết cấu phẳng)
Chứa nhóm chi tiết kết cấu
trên bản vẽ 2D
Các loại bản vẽ khác
Các bản vẽ phục vụ thiết
kế và thi công
EQUIPMENT (máy)
Chứa các máy móc thiết bị
HVAV
Chứa các chi tiết kết cấu hệ
thống làm lạnh, thông gió
kết cấu không có vấn đề gì xảy ra thì bước mô hình hóa kết cấu đến đây là kết
thúc. Công việc mô hình hóa kết cấu tôn vỏ và kết cấu sẽ chiếm nhiều thời
gian nhất trong tất cả, nhưng nếu chỉ mô hình hóa mà chưa cần để ý đến các
yếu tố công nghệ khác thì công việc này cũng chiếm không quá nhiều thời
gian. Vd: Nếu để mô hình hóa 1 tàu hàng có DW = 3200t với kíp làm việc 3
người thì chúng ta cũng chỉ cần mất khoảng 2 tuần làm việc;
Bước 4: Dựa vào nhà máy mà chủ tàu chọn, hoặc chúng ta đề xuất để
phân chia phân tổng đoạn hợp lý. Để làm được bước này nhất khoát chúng ta
phải tìm hiểu kỹ năng lực của nhà máy đặc biệt sức nâng cần cẩu của nhà
máy. Với tàu có trọng tải đã được biết trước thì phương án bố trí thi công

Nội dung thực hiện Kết quả thu được Ghi chú
Bước 1: Tìm hiểu hồ sơ kỹ thuật của tàu
21
Tìm hiểu các bản vẽ:
+ Bản vẽ tuyến hình;
+ Bản vẽ bố trí chung;
+ Bản vẽ bố trí thiết bị;
+ Bản vẽ kết cấu cơ bản;
+ Bản vẽ mặt cắt ngang;
+ Bản vẽ rải tôn.
+ Đặc điểm hình dáng thân
tàu;
+ Phân chia các khoang,
két, bố trí thiết bị trên tàu;
+ Quy cách kết cấu tàu:
chiều dày tôn, quy cách
các xương gia cường.
Bước 2: Mô hình hóa kết cấu của tàu
Dùng phần mềm Shipconstructor để
mô hình hóa kết cấu tàu:
+ Sử dụng module Hull để dựng bề
mặt vỏ bao tàu;
+ Sử dụng module Structure để
dựng kết cấu thân tàu. Chú ý trong
bước này cần phải dựa vào thông số
kết cấu trong hồ sơ cũng như kích
thước thép tấm, thép hình thực tế
được sử dụng.
Ta thu được kết cấu vỏ
bao, khung xương tàu

ShipConstructor để điều
chỉnh sửa các lỗi đã phát
hiện.
Bước 4: Phân chia phân đoạn, tổng đoạn tàu
Sử dụng các công cụ cắt, nhóm cụm
chi tiết, kết cấu, tôn bao của
Thu được các phân, tổng
đoạn dạng 3D để phục vụ
22
ShipConstructor để phân chia phân,
tổng đoạn, nhóm chi tiết. Việc phân
chia này phải thỏa mãn các điều kiện
sau:
+ Khối lượng cụm chi tiết, phân,
tổng đoạn phải phù hợp với sức
nâng của nhà máy tại từng vị trí
công việc;
+ Phù hợp với kết cấu, bố trí chung
của tàu, đảm bảo công nghệ được,
hợp lý nhất cho phương án thi công.
cho các công việc tiếp
theo.
Bước 5: Xuất trị số vật tư cho phân, tổng đoạn, toàn tàu
+ Sử dụng công cụ Report của
ShipConstructor để tìm khối lượng
của từng phân đoạn, tổng đoạn, diện
tích sơn loại 1, tọa độ trọng tâm của
phân, tổng đoạn;
+ Sử dụng công cụ Automatic Nest
và Report chọn phần tôn bao để tìm

(m)
Khối
lượng
thép
hình (t)
Diện tích
cần sơn
thuộc loại 1
(m
2
)
Diện tích
cần sơn
thuộc loại 2
(m
2
)
Diện tích
cần sơn
thuộc loại 3
(m
2
)
1 PĐ 1 8
10
12

L63x63x6
L75x75x6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status