TÌM HIỂU mối QUAN hệ GIỮA lạm PHÁT và THẤT NGHIỆP ở VIỆT NAM - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA KINH TẾ - CƠ SỞ THANH HÓA

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ VI MÔ
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM
PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Giảng viên HD :
Sinh viên TH :
MSSV :
Lớp :
THANH HÓA, THÁNG 11 NĂM 2014
MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường thất nghiệp và lạm phát là vấn đề quan tâm đặc biệt
không chỉ với những nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô mà còn là mối quan tâm rất
lớn của người dân bởi tầm quan trọng của nó, và điều này ảnh hưởng trực tiếp tới thu
nhập việc làm và đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Có thể nói lạm phát và thất
nghiệp là thước đo thành tựu của một nền kinh tế của một quốc gia.
Lạm phát và thất nghiệp nếu ở chừng mực vừa phải và phát huy tác dụng tích cực là
nhân tố giúp cho ổn định và phát triển kinh tế, trái lại nó sẽ gây đình đốn trong sản xuất.
Ở Việt Nam vào những năm 1989 cho thấy tình trạng lạm phát rất nghiêm trọng và
nghiêm trọng hơn với mức tăng giá 3 chữ số, năm cao nhất đạt chỉ số giá 557% vượt qua
lạm phát phi mã với chỉ số trên tác hại và biểu hiện của nó không kém gì siêu lạm phát
cũng có thể nói là siêu lạm phát. Đời sống nhân dân khổ cực khó khăn, hàng hoá ngày
càng khan hiếm giá cả đắt đỏ, thị trường rối loạn.
Sau năm 1989 với quyết tâm của Đảng và Chính phủ với những đổi mới tích cực
trong hệ thống kinh tế như hệ thống ngân hàng và những thay đổi của chính sách tiền tệ.
Chúng ta đã có những bước đầu thành công không những kiềm chế lạm phát ở mức thấp
mà vẫn đảm bảo ổn định kinh tế cao giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Tuy nhiên, đây chỉ mới là những thành công bước đầu chưa ổn định. Trong hoàn

p
.d
Trong đo: I
p
- chỉ số giá chung (có thể viết là CPI)
i
p
- chỉ số giá cả từng loại hàng.
d- tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại, nhóm hàng trong giỏ
( d=1 Nó phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội).
1.2.2.Tỷ lệ lạm phát
-Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự biến
động của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát:
-Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:
Trong đó : g
p
(nL) - tỷ lệ lạm phát (%)
I
p1
- chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu.
I
p0
- chỉ số giá cả thời kỳ trước đó được chọn làm gốc để so sánh
1.3. Phân loại lạm phát
1.3.1.Căn cứ quy mô lạm phát
-Lạm phát vừa phải (một chữ số): tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Giá tăng chậm,
đồng tiền tương đối ổn định.
-Lạm phát phi mã( ba chữ số): tỷ lệ 10% - 999%. Khi lạm phát phi mã ở mức cao thì tiền
mất giá nhanh, gây tác động không tốt đối với sản xuất và đời sống.
gp

 Thay đổi cơ cấu kinh tế
Có những biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế, đặc
biệt khi lạm phát tăng nhanh cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả tương đối.
Trong trường hợp đó sẽ có những doanh nghiệp, ngành nghề có thể phất lên, trái
lại cũng không ít doanh nghiệp và ngành nghề đi đến suy sụp thậm chí phá sản.
 Nền kinh tế kém hiệu quả
 Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá
 Mất nhiều thời gian và sức lực đối phó lạm phát
 Chi phí thực đơn
 Rối loạn thị trường vốn, biến dạng đầu tư
 Giảm năng lực cạnh tranh hàng hóa trong nước
1.5. Các nguyên nhân gây ra lạm phát.
Phần này đề cập đến một số lý thuyết và quan điểm nhằm lý giải những nguyên
nhân gây ra và duy trì, thúc đẩy lạm phát.
1.5.1. Lạm phát cầu kéo.
Diễn ra khi tổng cầu tăng, đường tổng cầu theo giá dịch chuyển sang bên phải.
Trong thực tế, khi xảy ra LP cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu
thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức
cung hàng hoá.Kết quả là nền kinh tế sảy ra lạm phát và có tăng trưởng.lạm phát và tăng
trưởng cùng chiều.
1.5.2.Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy)
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát này là do chi phí sản xuất trong nền kinh tế gia tăng và
năng lực quốc gia bị giảm sút.
Đồ thị minh họa :
Hình 1: Do chi phí sản xuất Hình 2: Do năng lực quốc gia
• Do chi phí sản xuất tăng lên : AS
s
dịch chuyển sang trái kết quả gây ra lạm phát
vừa bị suy giảm kinh tế .Lạm phát và thất nghiệp có quan hệ cùng chiều (hình 1)
• Năng lực quốc gia giảm, có thể do giảm sút nguồn nhân lực, nguồn vốn; do sự gia

Là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến rằng nó sẽ tiếp tục xảy ra trong
tương lai.
Giá cả trong trường hợp này tăng đều với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm
phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó
nên được gọi là lạm phát dự kiến.
Cho thấy lạm phát dự kiến xảy ra như thế nào. Đó là đường AD và đường AS dịch
chuyển lên trên cùng một tốc độ. Vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất (kể
cả tiền lương) và cả nhu cầu chi tiêu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm
phát . Như vậy, sản lượng vẫn giữ nguyên nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến.
Tỷ lệ lạm phát dự kiến một khi đã hình thành thì trở nên ổn định và tự duy trì trong
một thời gian. Chỉ khi những cú sốc mới trong nền kinh tế (có thể từ trong nước hoặc từ
nước ngoài) sẽ đẩy lạm phát khỏi trạng thái này.

1.5.4.Lạm phát do tiền tệ.
-Lượng tiền phát hành quá nhiều trong lưu thông gâ y ra mất cân đối giữa cung
tiền và cầu tiền
Trong chương 5 nghiên cứu lý thuyết số lượng tiền tệ và đã biết đẳng thức
(M/P) = LP (i,Y) khi thị trường tiền tệ cân bằng.
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng,
nghĩa là (i) và (Y) là ổn định (Y đạt tiềm năng = Y
P
), cầu tiền thực tế là không đổi và do
vậy M/P cũng sẽ không thay đổi. Điều đó có nghĩa là nếu lượng cung tiền danh nghĩa
(M) tăng lên thì giá cả (P) cũng tăng với tỷ lệ tương ứng, nói cách khác tỷ lệ lạm phát sẽ
bằng tỷ lệ tăng tiền. Như vậy, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ.
1.5.5. Lạm phát do nhập khẩu quá nhiều .
Do nhu cầu nhập khẩu tăng dẫn đến cầu ngoại tệ tăng >giá ngoại tệ tăng >cầu tiền
nội tệ nhiều tiền hơn.
1.6. Biện pháp kiềm chế lạm phát:
ASL

P
2
=1,05P
1
 Lạm phát do cầu kéo (tác động lên cầu):
 Thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thu hẹp
 Giảm chi ngân sách
 Phát hành công trái, tung vàng, ngoại tệ ra bán
 Lạm phát do chi phí đẩy (tác động lên cung):
 Khai thông các nguồn lực trong nước
 Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh tự do và bình đẳng
 Ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất
II.THẤT NGHIỆP.
2.1. Khái niệm .
- Một người được coi là thất nghiệp khi :
+ Trong độ tuổi lao động
+Có khả năng ,có nhu cầu lao động
+Không tìm được việc làm, việc làm không ổn định.
-Lực lượng lao động là tổng của số người có việc làm và số người thất nghiệp.
2.2. Các chỉ tiêu thể hiện tình trạng thất nghiệp
2.2.1.Số người thất nghiệp
Được tính theo 2 cách:
- Thống kê theo các dấu hiệu thất nghiệp
Dân số
Trong độ tuổi
lao động
Lực lượng lao động Có việc
Thất nghiệp
Ngoài lực lượng lao
động ("ốm đau, nội trợ,

- Tiêu chí giới tính.
- Tiêu chí ngành nghề.
- Tiêu chí lãnh thổ.
- Tiêu chí dân tộc.
2.3.2. Phân loại theo lý do thất nghiệp
- Bỏ việc
- Mất việc
- Chưa có việc
- Ngoại lệ
2.3.3. Phân loại theo tính chất của thất nghiệp
a. Thất nghiệp tạm thời
Loại này chủ yếu bao gồm những người đang đi tìm việc, xuất thân từ thành phần
bỏ việc cũ tìm việc mới, hoặc từ thành phần mới gia nhập hay tái nhập lực lượng lao
động.
b. Thất nghiệp cơ cấu (gọi là thất nghiệp bất tương xứng).
Xảy ra khi có sự mất cân đối về mặt cơ cấu giữa cung và cầu về lao động. Đây là
loại thất nghiệp gắn với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung trên thị
trường lao động.Sự mất cân đối này có thể xảy ra do 2 nguyên nhân: thiếu kĩ năng và
khác biệt về nơi cư trú….
c. Thất nghiệp chu kỳ (còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu, thất nghiệp theo thuyết
Keynes).
Là loại thất nghiệp được tạo ra bởi tình trạng suy thoái nền kinh tế, sản lượng tụt
xuống thấp hơn số lượng thất nghiệp.
Do tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ sụt giảm, buộc các doanh nghiệp phải sản xuất
ít hơn, thậm chí có khi phải đóng cửa. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ phải sa thải công nhân,
tạo nên thất nghiệp hàng loạt. Đặc điểm cơ bản để phần biệt thất nghiệp chu kỳ với các
loại thất nghiệp khác là mức thất nghiệp gần như ở khắp mọi nơi.
d. Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển
Xảy ra khi các yếu tố ngoài thị trường gây ra, khi tiền công được ấn định cao hơn
mức tiền công cân bằng.

 Đối với thất nghiệp chu kỳ:
 Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng
 Thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng
 Cuối cùng tăng Tổng cầu.
 Đối với thất nghiệp tự nhiên:
 Phát triển thị trường lao động ,tăng cường hoạt động dịch vụ và giới thiệu
việc làm.
 Tăng cường đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực.
 Tạo thuận lợi trong việc cư trú,di cư lao động.
 Chuyển dịch CCKT nông nghiệp và nông thôn,khuyến khích đầu tư tư nhân.
 Cắt giảm trợ cấp thất nghiệp.
 Giảm thuế suất biên đối với thu nhập.
III. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Khi nói đến mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp, các nhà kinh tế thường đề cập
đến khái niệm “đánh đổi”. Đánh đổi có nghĩa là được cái này mất cái kia, chọn cái này
phải bỏ cái kia. A.W. Phillips đã phát hiện ra rằng thất nghiệp giảm thì lương có khuynh
hướng tăng, lương tăng sẽ làm tăng giá. Như vậy, thất nghiệp giảm sẽ kéo theo tình
trạng lạm phát tăng. Phát hiện này đã dẫn đến một luận điểm cho rằng giữa lạm phát và
thất nghiệp có sự đánh đổi với nhau. Vậy thì sự đánh đổi này được thể hiện như thế nào?
Có phải luôn xảy ra tình trạng đánh đổi không?
3.1. Đường Phillips ban đầu.
Dựa vào kết quả thực nghiệm nhiều năm về tiền lương, giá cả, thất nghiệp ở Anh
ra đời đường Phillips ban đầu.
Đường này cho thấy mối quan hệ nghịch giữa thất nghiệp và lạm phát và nó cũng
phù hợp với thực tế kinh tế nhiều nước Tây Âu thời kỳ những năm 50. Tức là có sự
“đánh đổi” giữa lạm phát và thất nghiệp.
Đường Phillips được xây dựng hoàn chỉnh và có dạng như sau:
Gp = - ε (u - u
*
) (*)

bằng tỉ lệ dự kiến. Nếu thất nghiệp thực tế cao hơn thất nghiệp tự nhiên thì tỷ lệ lạm phát
AS
L1

AS
L2
L
A
S
S
1
E
1
P
Y
Y
1
P
1
A
D
Y
2
E
2
P
2
A
S
S

thấp hơn tỷ lệ dự kiến. Đường này gọi là đường Phillips ngắn hạn ứng với thời kỳ mà tỷ
lệ lạm phát dự kiến chưa thay đổi. Trong thời kỳ này nếu có những cú sốc cầu, giả sử
tổng cầu tăng lên nhanh, nền kinh tế đi dọc đường Phillips lên phía trên, lạm phát tăng và
thất nghiệp giảm.
Nếu không có sự tác động của các chính sách thì vì giá tăng lên thì ms
r
⇓ (do ms
r
=ms
n
/p), lãi suất tăng lên và ad dần dần được điều chỉnh trở lại mức ban đầu ⇒ lạm phát
và thất nghiệp sẽ quay trở về trạng thái ban đầu. Nhưng khi lạm phát đã được dự kiến,
tiền lương và các chi phí khác cũng được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát nên giá cả dừng
lại ở tỷ lệ dự kiến và thất nghiệp trở lại mức tự nhiên, đường Phillips sẽ dịch chuyển từ
pc
1
⇒ pc
2
. Tại e, gp ≠0 do gp = gp
e
.
Riêng các cơn sốt cung (như tăng giá dầu lên) sẽ đẩy chi phí sản xuất và giá cả lên,
sản lượng và việc làm giảm xuống. Như vậy, cả thất nghiệp và lạm phát tăng lên - không
có sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát trong ngắn hạn - đó là thời kỳ đình trệ.
Đồ thị:
3.3. Đường Phillips dài hạn (LPC)
Trong ngắn hạn, tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể không bằng tỷ lệ thất nghiệp dự
kiến, nhưng trong dài hạn chúng sẽ bằng nhau bởi sự tác động của các chính sách tài
khoá và tiền tệ. Đó là cơ sở để xây dựng đường Phillips dài hạn:
0= - ε (u-u

tháng đầu năm 2011 đã tăng 15,09% so với cùng kỳ năm 2010.
Châu Âu
Theo báo cáo của cơ quan thống kê Liên minh Châu Âu, tỷ lệ lạm phát của 17 quốc
gia khu vực đồng euro giảm xuống 2,8% trong tháng 12/2011 từ 3% tại tháng 11 trước
đó, lần sụt giảm đầu tiên kể từ tháng 7 năm ngoái. Mặc dù tỷ lệ lạm phát có suy giảm
nhưng con số này vẫn vượt quá định mức 2% của ECB.
Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo, ECB sẽ cắt giảm lãi suất hơn nữa và có thể tỷ lệ lãi
suất chỉ còn 0,5% trong nửa đầu năm nay, gần ngang bằng với tỷ lệ lãi suất cực thấp của
Cục dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng trung ương Anh.
Mỹ
Có thể thấy, từ năm 2001 cho đến hết năm 2007, tình hình lạm phát tại Mỹ thay đổi
qua các năm như sau: năm 2000 và năm 2006, tỷ lệ lạm phát đứng ở mức khá cao 3,4%,
tỷ lệ lạm phát thấp nhất là 1,6% và đến năm 2007, tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên 4,1%.
Nền kinh tế Mỹ qua hai tháng đầu năm 2008 vẫn phải đương đầu với tình trạng lạm
phát cao bởi giá dầu tăng kỷ lục đã khiến giá xăng và dầu đốt nóng tăng cao. Theo thông
báo của Bộ lao động Mỹ, tháng 11 /2009, giá tiêu dùng ở Mỹ tăng 0,4% so với tháng 10.
Tính chung cho cả năm 2011, lạm phát tại Mỹ tăng 3%, tăng mạnh so với mức tăng
chỉ 1,5% trong năm 2010 và là năm có mức lạm phát cao nhất kể từ năm 2007. Chỉ số
lạm phát lõi cũng ghi nhận mức tăng cao nhất trong vòng 4 năm, đạt 2,2%. Tuy nhiên, so
với mức lạm phát đỉnh điểm 3,9% hồi tháng 9, lạm phát tại nền kinh tế lớn nhất thế giới
đang hạ nhiệt một cách rõ rệt.
1.2. Thất nghiệp
Châu Á
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, cuối năm 2009 có 12,8 triệu thanh niên ở khu vực
Đông Á thất nghiệp, ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương là 8,3 triệu và 15,3 triệu người
ở Nam Á. Tỷ lệ này tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương được dự đoán sẽ đạt đỉnh
14,8% trong năm nay, tại Nam Á và Đông Á là 10,3% và 8,4%.
Tại Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ an sinh xã hội và nhân lực Doãn Uý Dân cho biết tình
hình việc làm ở nước này rất đáng lo ngại, thất nghiệp đã ở mức nghiêm trọng (trong 2
tháng cuối năm 2008, có hàng chục nghìn nhà máy, công xưởng ở Trung Quốc phải đóng

quân hàng năm khoảng gần 11%. Theo ABD, lạm phát ở Việt Nam đang ở mức cao nhất
Châu Á, nhì thế giới, chỉ sau Venezuela.
Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lục trong vòng
hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mức dưới hai con
số. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng 4,49% so với tháng
2008 2009 2008 2009 2010
II III IV I II III IV I II
Tỷ lệ thất
nghiệp
5,8 9,3 5,3 6,0 6,9 8,2 9,3 9,7 10,0 9,7 9,7
Nam 6,1 10,3 5,5 6,4 7,6 9,0 10,4 10,8 11,2 10,7 10,6
Nữ 5,4 8,1 5,1 5,6 6,2 7,3 8,0 8,3 8,7 8,5 8,7
12/2008. Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với những năm gần đây và là
mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân.
Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp. Chỉ số
CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2009 (0,59%) nhưng lại có xu hướng
giảm trong những tháng cuối năm 2009.
Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong
những năm 2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng
vai trò chính nữa.
Biểu đồ 4: Diễn biến chỉ số CPI theo tháng giai đoạn 2008 - 2010
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một điểm
sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát khỏi
suy thoái kinh tế. Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có tác động tích cực đến
ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai các chính sách kích
thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Mặc dù xu hướng
tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác
động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại. Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức
cao do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá
của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu

trong khu vực. Lạm phát cao, kéo dài trong nhiều năm liên tục đã gây nhiều tác động tiêu
cực đến sản xuất và đời sống của người dân. Lạm phát cao là một trong các biểu hiện của
bất ổn kinh tế vĩ mô.
Biểu đồ 5:Diễn biến lạm phát 5 tháng đầu năm 2011.
Đối với lạm phát 5 tháng đầu năm 2011, thì việc điều chỉnh tăng giá xăng dầu, điện,
tỷ giá, các mặt hàng khác .v.v… là nguyên nhân trực tiếp làm cho lạm phát trong mấy
tháng gần đây cao hơn so với cùng kỳ của các năm trước. Ngoài ra, đồng Việt Nam mất
giá cũng làm tăng lạm phát vì giá sản phẩm và nguyên liệu nhập khẩu sẽ gia tăng tính
theo VNĐ.
Tổng cục thống kê vừa công bố chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI) của tháng 3/2011 là
2,17%, cao nhất trong 34 tháng qua và tăng 14% so với cùng kì năm ngoái. Ngoài việc
phản ánh sự tăng giá của 11 nhóm hàng hóa dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, CPI còn dự báo
nguy cơ xảy ra tình trạng thất nghiệp do các biện pháp làm chậm tăng trưởng để kiềm
chế lạm phát.
2.2. Thất nghiệp tại Việt Nam.
Thất nghiệp đang là nỗi sợ hãi của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là từ cuộc
khủng hoảng năm 2008. Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt
xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng
kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình.
Tình trạng thất nghiệp cao trong giới trẻ là một trong những nguyên nhân gây ra tệ
nạn xã hội nghiêm trọng hiện nay. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp và thiếu việc làm tăng
cao tỷ lệ thuận với con số các vụ án được xét xử do tòa án công bố: số thanh niên phạm
tội hình sự ngày càng tăng, số thống kê chưa đầy đủ cũng đã cho thấy trên 60% người
phạm tội hình sự ở trong độ tuổi thanh niên từ 15-30.
Việt Nam chúng ta có thể nói là nước có tỉ lệ thất nghiệp khá cao đặc biệt là trong độ
tuổi lao động. Theo tổng cục thống kê Việt Nam, xét riêng về tỷ lệ thất nghiệp của Việt
Nam so với khu vực thì chúng ta đứng ở mức trung bình với 2,27%, nhưng tỷ lệ thiếu
việc làm lại ở tỷ lệ cao là 3.34% (năm 2011). Theo số liệu này thì tình trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm ở Việt Nam đã giảm so với những năm trước. Tuy nhiên, ngày càng
nhiều lao động thành thị rơi vào tình trạng phải làm những công việc không phù hợp

động trong độ tuổi năm 2011 là 3,34%, trong đó khu vực thành thị là 1,82%, khu vực
nông thôn là 3,96% .
2.3. Mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp
2.3.1.Đánh giá tổng quan giai đoạn 2008 - 2011
Trong những năm gần đây, cùng với những chuyển biến của nền kinh tế thế giới, nền
kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Hậu quả của những chính sách tăng
trưởng kinh tế cùng với những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát
trong nửa cuối năm 2007 và đầu năm 2008, nền kinh tế nước ta cũng chịu ảnh hưởng
không kém. Với những chính sách vĩ mô của nhà nước, nhiếu người đang lo ngại về tình
trạng lạm phát cao đang diễn ra mà vẫn không đạt được tốc độ tăng trưởng. Năm 2011
vừa qua tỉ lệ lạm phát ở nước ta là 18.58% cao hơn 11.58% so với lạm phát mục tiêu mà
Quốc Hội đã đề ra là không vượt quá 7% và cao hơn 6.83% so với năm 2010, trong khi
đó tỉ lệ tăng trưởng cũng chỉ ở mức 6%. Giá cả hầu hết các mặt hàng đều leo thang trong
đó phải kể đến 2 nhóm hàng lương thực – thực phẩm và nhiên liệu; sự mất giá của VNĐ
cũng trong năm 2011 tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm so với năm 2010 nhưng vẫn còn
khá cao (2.27%). Tại Việt Nam, với lãi suất cho vay đang ở mức cao, nhiều doanh
nghiệp đang trì hoãn hoặc không muốn mở rộng đầu tư. Lượng dịch vụ và hàng hóa được
Năm
Tỷ lệ thất nghiệp (%) Tỷ lệ thiếu việc làm (%)
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
2008 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10

Năm 2007, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính diễn ra ở Mỹ và sau đó lan rộng ra
toàn thế giới và Việt Nam cũng không năm ngoài khu vực trên. Trong ba năm từ 2007-
2009, dường như không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Từ năm 2010 cho
đến nay thì lại thay đổi theo hướng lạm phát giảm thì thất nghiệp tăng, điều này đúng với
giả thuyết về đường cong Phillips trong ngắn hạn.
2.3.3. Tác động của lạm phát và thất nghiệp đối với nền kinh tế Việt Nam.
Thứ nhất: Lạm phát không phải luôn luôn có hại, nếu ta duy trì lạm phát ở mức vừa
phải khoảng 4-5% sẽ là dầu bôi trơn cho toàn bộ nền kinh tế, giúp tăng trưởng kinh tế,
tạo công ăn việc làm.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, có thể đánh đổi lạm phát để có mức
tăng trưởng cao. Ví dụ như Mỹ có những giai đoạn sử dụng tỷ lệ lạm phát cao hơn cả
mức tăng trưởng GDP để tăng cường nguồn vốn cho phát triển kinh tế: 1973 CPI là
11,0%, GDP là 5,77%; năm 1979 CPI là 13,7%, GDP là 3,18%; 1981 CPI là 4,4%, GDP
là 2,45%… Hoặc như Trung Quốc dùng lạm phát bình quân 10,98% trong 14 năm (1984-
1997) để tạo số vốn từ phát hành tiền lên 3235,71 tỷ NDT (tương đương 383,2 tỷ USD),
giúp tăng trưởng GDP 3,23 lần và 3 lần tăng lương, trở thành cường quốc kinh tế thứ tư
trên thế giới.
Thứ hai: Ở Việt Nam, với xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình
độ phát triển kinh tế thấp việc sử dụng lạm phát như một công cụ để tránh nguy cơ tụt
hậu sẽ rất có ý nghĩa. Việc tận dụng lạm phát và vận dụng một cách khoa học ở Việt
Nam – vừa đảm bảo tỷ lệ lạm phát ở mức có thể kiểm soát đồng thời đảm bảo mục tiêu
tăng trưởng và các mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một việc hết
sức quan trọng. Lạm phát tạo ra nguồn vốn cực rẻ cho nền kinh tế, giúp nền kinh tế vượt
qua khủng hoảng, nền kinh tế vượt qua được khủng hoảng là điều kiện tiền đề cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế và từ đó có tác dụng to lớn đối với việc tạo ra công
ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Và thực tế đã chứng minh bằng thành công vượt qua
các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới của Việt Nam.
Thứ ba:Trong điều kiện kinh tế toàn cầu hậu khủng hoảng phục hồi chậm, nhưng
kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng
khá nhanh.

Có thể nhận định, nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không
phải do các yếu tố bên ngoài. Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao
hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh
cũng như các nước có điều kiện tương tự.
Từ năm 2004 đến nay, lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP.
Cá biệt năm 2008 lên đến 23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở
mức 11,75%, gấp gần 2 lần mức tăng GDP; năm 2011 lạm phát lạm phát là 18,58%
gấp 3,15 lần mức tăng GDP, lạm phát năm 2012 là 6,81% gấp 1,35 lần tăng GDP.
Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một số doanh
nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự ưu ái trong việc
phân bổ vốn. Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí trong thời gian qua và hiện
vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất điển hình của sự ưu ái dành
cho các doanh nghiệp nhà nước.
Việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn
cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi lạm phát cao mà tỷ
giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho
một lượng hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút.
Bên cạnh đó, việc nền kinh tế quá mở: kim ngạch nhập khẩu có lúc chiếm tới
80% GDP, gây ra nhập siêu là một căn nguyên dẫn tới lạm phát.
Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá như
trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt
thương mại, thâm hụt ngân sách luôn dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn
ở mức rất cao.
3.1.2 Lạm phát do cầu kéo
Bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền – hàng
với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa),
đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúng lúc, đúng địa chỉ ,
giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Xét tổng quát là sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status