Kiến thức về mối quan hệ giữa thủy điện và
lũ lụt ở Việt Nam
3
> Mực nước ở hạ lưu Mực nước sông ảnh hưởng giao thông đường thủy và một
số sinh hoạt của dân cư ven sông. Lượng nước xả từ nhà máy thủy điện và hồ chứa
sẽ tác động lên mực nước sông vùng hạ lưu, do đó nhu cầu phát điện nếu xung đột
với những nhu cầu khác của người dân vùng hạ lưu cần phải được phân tích để đạt
được một thỏa thuận có lợi ích cao nhất cho cộng đồng. Bậc thang thủy điện hệ thống sông Đồng Nai (2009)
VẤN ĐỀ LŨ LỤT Ở VIỆT NAM
Ngoài lý do thiên nhiên là mưa nhiều tạo nên lũ lụt, đôi lúc tác động của con
người lại là nguyên nhân chính. Nếu chia một lưu vực thành ba vùng: thượng lưu
là núi rừng, vùng ngập lụt là nơi dân cư sinh sống, và hạ lưu là cửa sông đổ ra
biển, thì thiệt hại do lũ lụt sẽ ở mức tối thiểu nếu: (i) nước lũ được giữ lại phần nào
nhờ rừng, nhờ thảm thực vật ở thượng lưu và nhờ các hồ chứa thiên nhiên cũng
như nhân tạo;
(ii) hệ thống thoát nước đầy đủ và hiệu quả ở vùng ngập lụt, gồm có kênh rạch,
cống rãnh, , ở đây hồ ao thiên nhiên cũng góp phần điều tiết nước lụt; (iii) tránh
xây dựng ở các điểm thấp bị ngập lụt thường xuyên; và
(iv) cửa sông được khai thông để nước có thể thoát ra biển dễ dàng. Vì tài nguyên
nước là của chung nên khi cấp giấy phép xây dựng và vận hành một dự án thủy
điện, nhà nước phải cân nhắc tính toán đến các lợi ích khác, thiết thực nhất là khả
năng điều tiết lũ của hồ chứa. Như vậy ngay từ đầu cần xác định rõ ràng bao nhiêu
dung tích của hồ chứa sẽ được dùng để điều tiết lũ. Phần dung tích này được xác
định bằng biểu đồ chống lũ (flood control guide curve) là biểu đồ chỉ mực nước hồ
cao nhất mà nhà máy có thể tích nước cho mục đích phát điện. Phần dung tích của
hồ chứa từ biểu đồ chống lũ đến mức nước cao nhất của hồ chứa chỉ để dành cho
việc điều tiết lũ. Khi mùa lũ bắt đầu vào một ngày đã ấn định trong năm mực nước
định để dành dung tích hồ còn lại sẵn sàng cho việc điều tiết lũ. Khi có dự
báo một cơn lũ sắp đến, người điều hành hồ chứa phải quyết định bao nhiêu
nước sẽ giữ lại và bao nhiêu sẽ được xả xuống hạ lưu sau khi được cung
cấp thông tin về dự báo đồ thị nước lũ (flood hydrograph). Đây là một
quyết định quan trọng vì lượng nước được giữ lại trong hồ chứa, nếu không
kịp xả ra, sẽ làm giảm khả năng cắt lũ trong một vài ngày sắp tới khi một
cơn lũ thứ hai có thể xuất hiện. Nước lũ xả ra từ hồ chứa sẽ ảnh hưởng lên
mực nước sông ở hạ lưu như thế nào cũng cần được tính toán để xác định
lưu lượng và thời khắc phải xả. Có hai vấn đề trong việc xả lũ:
(ii) nếu xả hết trong giai đoạn đầu của con lũ - để giữ dung tích cắt lũ của
hồ chứa càng nhiều càng tốt - dự phòng lũ sẽ đến nhiều hơn, và nếu sau đó
lũ không đến nhiều như dự báo thì hồ chứa đã không làm được nhiệm vụ
cắt lũ hữu hiệu;
(ii) nếu chỉ xả một phần, giữ lại một phần nước lũ trong hồ chứa và lũ tiếp
tục đến nhiều hơn mức dự báo thì mực nước trong hồ chứa sẽ tiếp tục tăng.
Khi mực nước hồ lên đến tối đa thì hồ không còn sức chứa để điều tiết lũ và
buộc phải xả bằng lưu lượng nước vào hồ để giữ cho đập khỏi bị tràn có thể
gây vỡ đập. Phần xả thừa của đập (spillway) phải được thiết kế để xả thoát
được những cơn lũ lớn, có thể là lũ có tần suất 1000 năm, 10.000 năm hay
lũ cực đại PMF tùy theo mức độ thiệt hại ở hạ lưu khi vỡ đập.
Mô hình chống lũ Từ những quan sát ở trên, ta có thể nhận thấy để chống lũ có hiệu quả cần có
những yếu tố sau đây: - một hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn đầy đủ ở
thượng lưu và hạ lưu hồ chứa có khả năng thông tin số liệu đo đạc tức thời, cho
phép người điều hành theo dõi tình hình biến chuyển của lũ trên toàn lưu vực, -
một mô hình dự báo khí tượng thủy văn chính xác đáng tin cậy được cập nhật
tức thời các số liệu quan trắc, từ đó có thể cập nhật dự báo thường xuyên, - một
2. Các nhà máy thủy điện phải được vận hành cho lợi ích của toàn xã hội, trong
đó mục đích phát điện phải cân bằng với những lợi ích công cộng khác,
3. Công tác chống lũ có hiệu quả đòi hỏi quy trình hợp lý, số liệu quan trắc đầy
đủ, dự báo đáng tin cậy, người điều hành có kinh nghiệm và một cơ chế chính
quyền hữu hiệu.