I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Định nghĩa.
Chỉ số giá chứng khoán: là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị
trường cổ phiếu, thể hiện bởi giá chứng khoán bình quân hiện tại so với giá bình
quân thời kỳ gốc đã chọn. Thông thường danh mục những cổ phiếu được chọn
để tính chỉ số giá phải có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại một sở
giao dịch, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường.
Chỉ số giá cổ phiếu được tính cho:
- Từng cổ phiếu
- Tất cả cổ phiếu của từng thị trường
- Từng ngành, nhóm ngành
- Thị trường quốc tế
2. Ý nghĩa của chỉ số chứng khoán.
Chỉ số chứng khoán thường được coi như nhịp đập của thị trường mà nó đại
diện. Khi chỉ số chứng khoán tăng điều đó đồng nghĩa với việc thị trường đang
lên và ngược lại.
Có nhiều cách tính chỉ số chứng khoán khác nhau nhưng mỗi một chỉ số chứng
khoán đều ẩn chứa thông tin về tình trạng thị trường chứng khoán tại thời điểm
tính. Mỗi chỉ số chứng khoán đứng riêng lẻ không mang lại thông tin hữu ích cho
nhà đầu tư, mà phải xem xét nhiều chỉ số chứng khoán và phải theo dõi trong cả
thời kỳ, qua đó nhận định được xu thế, xu hướng của thị trường, từ đó có các
hoạt động đầu tư hiệu quả.
3. Các phương pháp tính chỉ số giá hiện nay
a) Phương pháp số bình quân giản đơn:
Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng
khoán tham gia tính toán:
∑ p
i
I
p
Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình
quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết
thời kỳ tính toán. Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính
toán:
Người ta dùng công thức sau để tính.
∑ qt pt
I p = -------------
∑ qt po
Trong đó: I p : Là chỉ số giá Passcher
p t : Là giá thời kỳ t
p o : Là giá thời kỳ gốc
qt : Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán ( t )
hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán.
i : Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n : là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy
quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ
cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán.
Các chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX
(Nhật) ; CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng công); các chỉ số của Thuỵ
Sỹ,.. và VnIndex của Việt Nam áp dụng phương pháp này
d) Phương pháp Laspeyres.
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền
giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy kết quả
tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:
: Là chỉ số giá Passche
I
L
: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê chúng tôi
không thấy nó áp dụng ở bất kỳ một quốc giá nào.
II. MỘT SỐ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ.
1. Chỉ số DowJone công nghiệp.
a) Sự hình thành chỉ số DowJone và DowJone công nghiệp
- Chỉ số DowJone là chỉ số giá chứng khoán, phản ánh sự biến động bình quân
của giá chứng khoán thuộc thị trường chứng khoán New York, một thị trường
chứng khoán lớn nhất thế giới
Chỉ số DowJone hiện nay là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc
nhóm hàng đầu (Blue chip) trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao
dịch chứng khoán New York. Nó bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: Công
nghiệp DJIA (DowJone Industrial Average), Vận tải DJTA (DowJone
Transportation Average) và Dịch vụ DJUA (DowJone Utilities Average).
- Chỉ số công nghiệp Dow Jones (NYSE: DJI, hay còn được gọi là DJIA, Dow 30,
INDP, hoặc được gọi thông thường là Dow Jones hay The Dow) là một trong các
chỉ số của thị trường chứng khoán, ra đời vào thế kỷ 19 bởi Tổng biên tập báo
Wall Street Journal và đồng sáng lập công ty Dow Jones. Đó là chỉ số cho thấy
một số loại cổ phiếu nhất định được giao dịch thế nào. Dow là chỉ số đo lường
hiệu quả hoạt động của ngành công nghiệp trong thị trường chứng khoán Mỹ.
Chỉ số này được tính toán từ giá cổ phiếu của 30 công ty lớn nhất và phổ biến
nhất ở Mỹ. Chữ “Công nghiệp” trong cái tên của chỉ số này có tính lịch sử. Hầu
hết 30 công ty thành viên đều không liên quan đến ngành công nghiệp nặng
truyền thống. Nhóm 30 công ty này thường xuyên có sự thay đổi. Khi công ty nào
có sự sa sút đến độ không đủ tiêu chuẩn để xếp vào Top 30 của các cổ phiếu Blue
Chip, công ty đó sẽ lập tức bị thay thế bằng một công ty khác đang trên đà tăng
trưởng
Theo ví dụ trên: Số chia Dow cũ: 2; tổng cũ: $35; tổng mới: $25
Số chia Dow mới= 2*(25/35)=10/7
Chỉ số chứng khoán trên thị trường lúc này= 25:10/7= 17.5
Như vậy, số chia Dow giúp điều chỉnh tác động của việc chia, tách, xác nhập đến
chỉ số chứng khoán Dow Jones, phản ánh đúng động thái của giá (sự thay đổi
giá), đảm bảo tính liên tục về thông tin của chỉ số chứng khoán này.
Khi có sự điều chỉnh của số chia Dow Jones, nhằm bảo đảm giá trị ban đầu,
phản ánh mà nhà đầu tư nắm giữ trước và sau khi có sự chia tách xác nhập thì
chỉ số chứng khoán Dow Jones không đơn thuần còn là trung bình đơn giá của
tất cả cổ phiếu trên thị trường như công thức ban đầu nữa.
Thực tế, số chia Dow Jones được cập nhập hàng ngày bởi báo phố Wall.
d) Một số thông tin thực tế:
Khi lần đầu tiêu xuất
hiện, chỉ số đạt 40.94
điểm. Nó được tính là chỉ
số trung bình trực tiếp,
bằng cách cộng các giá
cổ phiếu thành phần và
chia số lượng cổ phiếu.
Chỉ số đạt mức thấp nhất
vào mùa hè năm 1896 ở
28.48 điểm, nhưng trong
lịch sử, chỉ số Dow Jones
nhiều lần đạt mức cao
khi nền kinh tế công
nghiệp đã trở nên vững
vàng. Chỉ số Dow tính
trung bình 5.3% hàng
năm trong thế kỷ 20.
Những năm 1980 và đặc biệt 1990 chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của chỉ
đóng cửa ngày 20/12/2011(12,103.58).
Số chia Dow Jones ngày 21/12/2011 được công bố là 0.132129493.
Tổng giá cổ phiếu của 30 công ty trong ngày 21/12 là
$1599,79(12,103.58*0.132129493).
Trung bình giá cổ phiếu của 30 công ty trong ngày 21/12 là
$53.33(1599.79/30).
Tổng khối lượng giao dịch trong ngày là $163,247,818.
Trong ngày chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones được tính liên tục
theo phút.
2. Chỉ số tổng hợp Nasdaq
a) Một số khái niệm cơ bản
- NASDAQ(Viết tắt của Hiệp Hội Quốc gia của người Mua bán Chứng khoán có
bảng giá được điện toán hóa) là một thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Đây là thị
trường giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất của Hoa Kỳ. Với khoảng 3,800
công ty, khối lượng giao dịch trung bình trên thị trường này cao hơn bất kỳ một
thị trường chứng khoán nào trên thế giới.
Được thành lập năm 1971 bởi Hiệp hội Quốc gia của người Mua bán chứng
khoán (NASD); cũng là những người đã từ bỏ Hiệp hội này sau các vụ mua bán
năm 2000 và 2001. 1998, NASDAQ sáp nhập vào Sở giao dịch chứng khoán Hoa
Kỳ, trở thành NASDAQ-Amex Market Group và vào đầu thế kỷ 21, NASDAQ trở
thành sàn giao dịch điện tử lớn nhất tại Mỹ cả về khối lượng giao dịch và trị giá
giao dịch. Năm 2000, Hiệp hội những người buôn bán chứng khoán quốc gia
(NASD) đã phát triển NASDAQ thành một công ty thương mại đại chúng với cái
tên NASDAQ Stock Market, Inc.
Sau đó nó được NASDAQ OMX Group sở hữu và điều hành, cổ phiếu của nó được
niêm yết trên thị trường chứng khoán vào năm 2002, và được Ủy ban Chứng
khoán và Thị trường chứng khoán (SEC) giám sát. Vào 8/11/2007, NASDAQ
mua lại Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia(PHLX) với giá 652 triệu USD.
Đây là Sở giao dịch chứng khoán lâu đời nhất tại Mỹ , đã chính thức đi vào hoạt
động từ năm 1790. Sau khi được Công ty OMX Na Uy mua lại và đạt được thỏa
Thời kỳ đáy của chỉ số này là vào năm 1974 ở mức 54 điểm, thị trường khi đó
giảm đến 45% so với khi mới bắt đầu hình thành. Vào ngày 10/3/2000, chỉ số
này đạt đỉnh 5,132.52 và đóng cửa ở mức 5,048.62; sự suy giảm so với mức đỉnh
đã báo hiệu thời kỳ kết thúc của bong bóng thị trường chứng khoán. Chỉ số giảm
một nửa giá trị trong vòng một năm và cuối cùng đạt điểm đáy của thị trường đi
xuống vào tháng 01/2002 với điểm đáy của một ngày giao dịch 1.108,49 sau khi
đóng cửa ở 1,114 của ngày trước đó. Trong khi chỉ số này dần dần được phục
hồi sau đó, nó đã không được giao dịch ở một nửa giá trị đỉnh của nó cho đến
5/2007. Thị trường mở cửa vào qúy 4/2007 với thêm 80 điểm đóng cửa ở mức
2,800 điểm vào 9/10/2007. Khối lựợng giao dịch trong ngày là 2,861.51 vào
ngày 31/10/2007 là điểm cao nhất đạt được kể từ ngày 24/1/2001. Trong khi
sự lo ngại tăng lên về tăng giá năng lượng và nguy cơ suy thoái đã đưa NASDAQ
về đúng phạm vi hoạt động của nó vào đầu năm 2008, thị trường đi xuống cuối
cùng được công nhận hoàn toàn vào ngày 6/2 khi mà NASDAQ đóng cửa ở mức
thấp hơn 2,300, khỏang 20% so với mức cao kế cận. Vào ngày 29/9/2008,
NASDAQ giảm gần 200 điểm, cao nhất kể từ khi bong bóng ngành công nghiệp
đã bị vỡ, giảm 9.14% xuống dưới 2000 điểm (là mức cao thứ 3 trong lịch sử).
Vào ngày 13/10, chỉ số NASDAQ ghi nhận sự sụt giảm thêm 200 điểm (11%), thị
trường tiếp tục bất ổn định. Chỉ số này tiếp tục giảm ở hai tháng tiếp theo, chỉ số
này ghi nhận các điểm đáy trong vòng 51/2 năm vào ngày 20/11 năm 2008,
đóng cửa ở 1,316.12 gần điểm đáy của khối lượng giao dịch trong ngày, gần
bằng 55% so với đáy khi thị trường đang lên.
Năm 2011 chỉ số Nasdaq dừng ở mức 2.605 điểm, giảm 1,8% so với mức chốt
năm 2010, đây là năm giảm điểm đầu tiên của Nasdaq từ năm 2008.
Ngày 8/2/2012, chốt phiên giao dịch chỉ số Nasdaq Composite cũng tăng
được 28,74 điểm, tương ứng với 0,91%, lên đứng tại mức 3.193,87 điểm.
Với đà tăng mạnh mẽ trong phiên 8/2, hiện chỉ số Nasdaq Composite
đang đứng ở mức cao nhất trong vòng 12 năm qua, trong khi chỉ số S&P
500 trở lại mức đỉnh trong suốt 5 năm vừa qua.
III. CHỈ SỐ GIÁ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.