KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI:
NHỮNG NGUYÊN NHÂN, CÁCH NGĂN NGỪA
VÀ KHẮC PHỤC
Bởi LAWRENCE H. SUMMERS *
Dale Jorgenson đã dành cho tôi một niềm vinh dự lớn và thách thức không nhỏ
khi mời tôi diễn thuyết.: một niềm vinh dự lớn vì danh sách dài những nhà kinh tế lỗi lạc,
họ có thứ tự trước tôi, thách thức là tiêu chuẩn mà họ đặt ra, và bởi vì bất cứ một nhà
khoa học không có thách thức nào lớn hơn bằng việc đưa ra một báo cáo mạch lạc trong
những sự kiện quan trọng với những nhà khoa học ngang hàng với mình.
Đôi khi các bạn tôi hỏi tôi về sự khác nhau giữa cuộc sống như một viện sĩ và
cuộc sống của một viên chức. Có rất nhiều sự khác nhau. Tôi đưa ra hai điểm. Trước
tiên, như là một viện sĩ , một trong những tội lỗi có thể mắc phải là ký tên vào một cái gì
mà thực chất mình không viết. Như là một công chức, đó là một sự đánh dấu của hiệu
quả để làm càng thường xuyên càng tốt. Thứ hai, là một viễn sĩ, nếu có một vấn đề quá
khó và không tìm được một giải pháp thõa đáng, thì sẽ có một câu trả lời rõ ràng: làm
việc trên vấn đề khác biệt . Đó không phải là một nét xa xỉ mà một chính phủ phải có.
Tôi đã được nhắc nhở điều này thường xuyên những năm gần đây bởi vì chúng ta
đang vật lộn với khủng hỏang tài chính, trong số đó nổi bậc là thị trường kì hạn không
kiểm soát được. Bất cứ ai nghi ngờ tầm quan trọng trong xã hội về những gì nhà kinh tế
làm thì nên xem xét các cuộc tranh luận xung quanh những cuộc khủng hỏang này. Hàng
trăm ngàn người có tiêu chuẩn sống gia tăng nhanh chóng thì lại bị tụt giảm. hàng trăm
ngàn nếu không phải là hàng triệu trẻ em buộc phải nghỉ học và đi làm; hàng trăm tỷ đô
la của tài sản có thật đã bị mất; Sự ổn định của nhiều quốc gia lớn đang trở thành vấn cần
bàn đến và Mỹ đã thực hiện những chính sách ngoại giao phi quân sự lớn nhất liên quan
đến những cam kết tài chính bằng kế hoạch Marshall.
Hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến tìm hiểu, ngăn ngừa và làm giảm những
cuộc khủng hoảng này đều là bí quyết của các khóa học kinh tế : cố định tỷ giá hối đoái
linh hoạt, tâm lí hành xử tắc trách và cân bằng kép, đầu cơ và lưu lượng tiền mặt, tài
chính và chính sách tiền tệ, quy định và cạnh tranh. Các nhà kinh tế nghĩ gì, nói gì và làm
gì, đều có ngụ ý sâu xa về cuộc sống của hàng triệu công dân. Dù đó là thảo luận về vai
Truman đã cho tôi những bình luận và đề nghị rất hữu ích. Tôi đặc biệt cảm ơn Nouriel
Roubini và Stephanie Flanders vì sự trợ giúp và thảo luận giá trị cho bài giảng này.
I. Mục tiêu của một hệ thống tài chính tòan cầu hiệu quả
Những năm gần đây đã chứng kiến một sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống tài
chính toàn cầu, như dòng chảy vốn của đầu tư tư nhân để phát triển công nghiệp đến các
quốc đang gia phát triển tăng từ $ 174 tỷ đồng trong thập niên 1980 đến $ 1,3 nghìn tỷ
đồng trong thập niên 1990. Năm 1990, nền kinh tế sát nhập đã phát hành đồng tiền
chung Châu Âu. Năm 1998, 40 hay nhiều nền kinh tế sát nhập đã phát hành chúng trong
suốt những năm của thập niên 1990. Và phạm vi của cuộc khủng hỏang tài chính lớn lan
rộng nhanh chóng, như cuộc khủng hoảng mà chúng ta đã trải qua vào năm 1998 được
xem là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong suốt 50 năm qua, điển hình là sự sụp đổ của
Nga đã dấy lên nhiều câu hỏi về tiền đề của việc hội nhập tài chính toàn cầu là điều tất
yếu.
Là một câu hỏi quan trọng và công bằng nhất, nhưng nó có thể được trả lời. Có
nhiêu nền kinh tế thị trường mà chúng ta công nhận nó là như vậy. Một trong những khía
cạnh đáng chú ý là tạo ra một hệ thống tài chính được tổ chức tốt. Một mặt người tiêu
dùng muốn giữ nhiều nguồn để chuẩn bị cho việc về hưu, hay cho những ngày mưa hay
tích lũy để mua xe mà không có cơ hội đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, có nhiều cơ hội
cho việc sử dụng nguồn năng lượng hôm nay để sản xuất ra nhiều nguồn năng lượng hơn
cho ngày mai bằng cách đầu tư cho khoa học công nghệ hay giáo dục, hoặc tạo cơ hội
cho người tiêu dùng Thõa mãn nhu cầu của họ. Đó là nhiệm vụ của hệ thống tài chính
nhằm mang những cơ hội và nhu cầu lại với nhau.
Khi mà điều này được làm tốt hơn, sẽ tạo được lợi ích rất lớn. Nền kinh tế tăng
trưởng bởi vì đầu tư thu hồi được lợi nhuận cao hơn. Nguồn vốn khan hiếm sẽ được sử
dụng hiểu quả hơn. Người tiêu dùng sẽ có được lợi ích từ tiêu dùng tương lai nhiều hơn
thay vì từ bỏ cơ hội tiêu dùng. Rủi ro được chia đều và mỗi cá nhân sẽ có ít biến động
hơn về số lượng mà họ có thể tiêu dùng. Đó là những lợi ích hiển nhiên và có thực, vì vậy
mà thật thích hợp cho hệ thống tài chính có thể hấp thụ được những nguồn thực tế này.
Bây giờ để hiểu rộng hơn, cuộc tranh luận cụ thể về một hệ thống tài chính cạnh
tranh diễn ra song song với cuộc tranh luận về những thị trường cạnh tranh nói chung.
thực thi pháp luật cũng mang lại lợi ích.
Đây là những khái niệm trừu tượng. Có một lập luận rằng cái lợi từ giao dịch
trung gian và giao dịch qua các dịch vụ tài chính có tiềm năng rất lớn. Trước tiên, đó là
sự tăng trưởng của lực lượng lao động trên thế giới trong vài thập kỉ tới sẽ diễn ra ở phần
thế giới đang phát triển cũng như thời đại của công nghiệp hóa thế giới. Bây giờ, việc tiết
kiệm trên thế giới đều diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển. Và nhiều chứng cứ về
các nhà máy thép phế thải và những gì mà chủ tịch dự trữ liên bang Alan Greenspan gọi
là “việc xây dựng dễ thấy” nói về tiềm năng của các hệ thống trung gian được cải thiện
làm cho việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong các nước đang phát triển cũng như giữa
phần thế giới phát triển và đang phát triển.
Đáng chú ý là một số Jagdish Bhagwati (1998) đã dẫn chứng rằng những lợi ích
này chỉ được áp dụng cho việc đầu tư trực tiếp dài hạn. Nhưng trong khi đó, như tôi sẽ
thảo luận, sẽ có rất nhiều nguy hiểm từ việc tạo ra giá trị thặng dư trong dòng tài chính.
Nên nhớ rằng bản thân môi trường tài chính cũng tạo ra được những lợi ích quan trọng.
Trước tiên, thu nhập từ phí giao dịch giữa giao dịch tài chính và các giao dịch khác có
liên quan, cung cấp tính thanh khỏan xuyên biên giới đến thị trường liên ngân hàng. Thứ
hai,họ cung cấp vốn cho các doanh nghiệp trong nước với những điều khỏan tốt nhất.
Thứ ba, hợp tác với các đại diện của doanh nghiệp nước ngoài và các quỹ tài chính nước
ngoài, bản thân nó cũng mang lại những lợi ích quan trọng. Nói chung, càng cố gắng
phân biệt giữa luồng vốn tốt và xấu nhắc nhở tôi phân biệt giữa nhập khẩu tốt và xấu về
hang hóa và dịch vụ trong thương mại quốc tế và để chứng minh……
Trong khi tất cả những tiềm năng chắc chắn là có, những thuật ngữ như “rủi ro về
đạo đức”, “ lựa chọn ngược”, “mua bans khống”, và “ tâm lý bày đàn” cho chúng ta biết
rằng lý thuyết kinh tế chỉ ra rất nhiều lí do tại sao thị trường tài chính luôn luôn không
hòan hảo. Và lịch sử các cuộc khủng hoảng hàng thế kỉ qua đã dạy chúng ta một cách
không rõ ràng về việc các dòng chảy vốn trên thị trường tài chính rất khác nhau trong
việc phân phối quỹ tiết kiệm hiệu quả và tối ưu cho những dự án đầu tư đúng đắn.
Nghĩ về động lực tài chính như thế nào là tốt nhất? Phép suy luận có thể là hữu
dụng. Máy bay phản lực bay trên bầu trời thoải mái hơn, hiệu quả hơn và an tòan hơn
mặc dù tai nạn sẽ khốc liệt hơn và xuất hiện nhiều hon từ khi mà phát minh ra máy bay
e
7.5 9.9 6.6 7.4 2.0
Cộng 24 tháng thấp nhất 8.7
e
n.a. n.a. 15.6 n.a. n.a.
Tài khoản hiện thời hàng quý
(tỉ USD)
Điểm cao nhất (11.5) (2.4) (7.4) (7.9) (7.8) (3.6)
Điểm thấp nhất (4.6) 1.8 10.9 0.3 4.2 6.6
12 tháng sau điểm thấp nhất (3.8)
e
1.8 6.2 (1.2) 3.5 3.5
24 tháng sau điểm thấp nhất n.a. n.a. n.a. (3.0) n.a. n.a.
Tài khoản hiện thời hàng quý
(Phần trăm của GDP)
Điểm cao nhất n.a. (3.8) (6.3) n.a. (10.7) n.a.
Điểm thấp nhất n.a. 8.6 16.1 n.a. 16.4 n.a.
12 tháng sau điểm thấp nhất n.a. 3.4 6.9 n.a. 10.8 n.a.
24 tháng sau điểm thấp nhất n.a. n.a. n.a. n.a. n.a. n.a.
Thay đổi trong những nguồn lực mạng
lưới quốc tế
(tỉ USD)
a
Điểm cao nhất đến điểm thấp nhất (14.5) (15.3) (25.7) (19.5) (36.0) (18.0)
Cộng 12 tháng thấp nhất 8.8
Dự liệu dự trữ là những dự trữ gộp ít quý giá
d
Những bảng cân đối tài khoản hiện thời hàng quý được điều chỉnh theo từng thời kỳ
e
Dựa trên tham chiếu IMF
Các cuộc khủng hoảng quốc tế có thể được định nghĩa theo nhiều cách hoặc nhiều
dạng khác nhau. Ý tôi muốn nói các cuộc khủng hoàng tài chính quốc tế là tình huống
diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, không phải diễn ra trong nền kinh tế đóng. Theo cách
định nghĩa này, tôi không có ý coi nhẹ vai trò chính yếu mà sự yếu kém cơ bản trong
nước có thể góp phần tạo nên sự khủng hoảng. Tôi chỉ muốn loại trừ những tình huống
nền kinh tế trong nước nghèo nàn có thể dẫn đến những vấn đề nợ nần. Tôi cũng muốn
loại trừ những cuộc khủng hoảng tiền tệ ở những quốc gia mà điều chỉnh tỷ giá hối đoái,
như chúng ta nhìn thấy trượt giá có thể là dấu hiệu báo trước cho sự khủng hỏang tài
chính quốc tế.
Nếu chúng ta ngăn ngừa những tai nạn có hiệu quả có thể xảy ra, và giảm nhẹ
chúng nơi mà chúng ta không thể ngăn ngừa, thật quan trọng để biết chúng xảy ra như thế
nào và bản chất của những tiền đề của chúng. Có sáu cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế
chính trong suốt những năm 1990 : Mexico 1995; Thái Lan , Indonesia , và Hàn Quốc
1997- 1998; Nga 1998; và Brazil 1998-1999. Bảng 1 cung cấp thông tin về những cuộc
khủng hoảng đó. Những thành phần chung bao gồm một sự khoa trương trong tài khoản
tạm thời, một sự sụt giá thực sự lớn và một sự suy tàn quan trọng trong đầu ra thực sự.
Với một số sự khác nhau giữa những trường hợp, kiểu mẫu trong tất cả những cuộc
khủng hoảng ở đây, và thực vậy, một số khủng hoảng lịch sử, xuất hiện bao gồm ba phần
tử rõ ràng.
Đầu tiên, sau một thời gian đầu tư vốn với số lượng đáng kể, các nhà đầu tư (cả
trong và ngoài nước) quyết định giảm bớt các cổ phiếu về tài sản trong quốc gia bị ảnh
hưởng để phản ứng lại một sự thay đổi trong các vấn đề cơ bản của nó. Điều này có thể
có nhiều nguồn: mối quan tâm về tính khả thi của chế độ tỷ lệ trao đổi, như trong hầu hết
các trường hợp này, mối quan tâm về thiếu hụt tài chính lớn, như ở Nga và Brazil; mối
tượng này là đặc biệt hiển nhiên ở Mexico trước 1995 và ở Hàn Quốc giữa sự Tạ ơn Và
Lễ Nôen vào năm 1997, và hình như một sự đặc biệt tỏa khắp của đặc tính khủng hoảng
thị trường. Không ai, rốt cuộc, nâng những câu hỏi món nợ tài chính trong Vương quốc
Anh, theo lối thoát đồng bảng Anh từ cơ chế tỷ lệ trao đổi Châu Âu (ERM) vào 1992, hay
trong lục địa Châu Âu sau khi tan rã ERM vào 1993.
Thứ ba, sự rút vốn và sự dao động có liên hệ trong tỷ giá hối đoái và giảm bớt
truy nhập vốn làm tăng cơ sở hạ tầng yếu kém, lần lượt làm tăng sự đáp ứng của thị
trường tài chính. Sự sụt giảm thực sự của tỷ lệ thu nhập thực tế và tiêu dùng. Những sự
chờ đợi đối với một sức ép đang gia tăng tỷ giá hối đoái sụt lở cho đào thoát vốn. Và,
Quan trọng nhất, giá trị những món tiền nợ nước ngoài đang gia tăng trong nước và giảm
bớt số tiền gửi trong nước của những người đi vay, làm suy yếu hệ thống tài chính, lần
lượt gây ra những sự giảm sút trong việc cho vay và cơ sở hạ tầng trở nên tồi hơn
5
.
Để hiểu được sự khủng hoảng kinh tế chúng ta thấy rằng, cả ba phần tử đều quan
trọng. Không có một sự thay đổi trong quan điểm, được điều khiển bởi một nguyên tắc cơ
bản của sự suy yếu trong nền kinh tế, nó không thể thực hiện việc tính tóan cho những
quyết định rút vốn. Không có ngân hàng chạy tâm lí học, nó không thực hiện được tính
toán cho quy mô của sự thay đổi trong những quyết định định vị của nhà đầu tư, mà hình
như không liên tục như vậy đối với bất kỳ phương diện nào dễ dàng thấy được những
khía cạnh của nguyên tắc cơ bản. Không có sự tham khảo chọn lọc trên những hệ thống
tài chính nội địa và các hãng tập đoàn, nó khó khăn cho việc tính toán to lớn của người
quan sát sự suy sụp kinh tế và sự thất bại của những sự sụt giảm tỉ giá hối đoái thực sự
thúc đẩy lớn việc xuất khẩu trong một số trường hợp.
Một đặc tính của năm 1990 giai đoạn của sự rối loạn là sự có mặt của quốc tế
"truyền nhiễm, " được nhìn thấy trong cơn khủng hoảng ERM của những năm 1992-
1993, " rượu mạnh " hiệu ứng của tiếng Mexico cơn khủng hoảng đồng pêsô của 1994-
1995, " bệnh sốt rét vàng da " những hiệu ứng của cơn khủng hoảng Châu á của 1997-
1998,
5
buộc chúng để rút gọn những vị trí của chúng trong những thị trường khác, như vậy
truyền nhiễm mạnh hơn.
(vi) Một số phần tử của những nhà đầu tư không hợp lý có thể ở công việc; hoảng sợ, qui
tụ, và sự thương mại hồi tiếp dương có thể giải thích một phần tại sao những nhà đầu tư
rút không phân biệt từ nhiều thị trường không có sự phân biệt cẩn thận trong những thị
trường rõ nét khác dựa trên những nền tảng của chúng.
(vii) Cuối cùng, và trong cách nhìn nhận của tôi, quan trọng hơn, "những ngoại hình danh
tiếng "
7
là gần như chắc chắn tại công việc. Một cơn khủng hoảng vào một nước có thể
ảnh hưởng đến những sự chờ đợi và những sự nhận thức của những nhà đầu tư về những
điều kiện kết cấu chung và những tính dễ bị tổn thương trong những nước khác và chính
sách đáp lại thích hợp tới những tính dễ bị tổn thương như vậy
8
.
Từ viễn cảnh của kinh nghiệm thực tế, những sự phân biệt phân tích giữa "khủng
hoảng được cân bằng lớn" và " khủng hoảng được điều khiển bởi nền tảng " có vẻ ít rõ
hơn so với chúng thỉnh thoảng làm việc trong thực nghiệm.
6
Thực nghiệm và lý thuyết trên truyền nhiễm rộng lớn; nhiều đóng góp gần đây thì hiện
diện ở IMF và Ngân hàng Thế giới- hội nghị tài trợ trên Truyền nhiễm Tài chính Quốc tế
( ngày 3-4 Tháng hai năm 2000) (sẵn có trực tuyến tại <http: // www.worldbank.org /
research/ interest/ confs / upcoming/ papersfeb3-4/ paper.htm>). Những sự khảo sát gần
đây tốt bởi Rudiger Dornbusch v.v (2000) và Matthew Prisker (2000).
7
Đây là một khái niệm được phát triển bởi Richard Zeckhauser (1986).
8
Báo giá báo cáo kinh tế 1999 của tổng thống (Hội đồng của những cố vấn Kinh tế,
1999 P. 244): " chẳng hạn những nhà đầu tư” lòng tin trong sức mạnh của mô hình kinh
tế Châu Á có thể có được thay đổi khi một trong số những ngôi sao biểu diễn vấp. Sự thất
Maynard Keynes bắt được một ý tưởng tương tự.
Bây giờ giả thiết rằng tình trạng cơ bản của tôi là sao cho mọi người được thanh
toán không lâu hơn một phần ba của những nhà đầu tư động sản để rút vốn. Bạn làm rồi
gì? Trở lại, có nhiều cân bằng: mọi người cần phải ở lại nếu mọi người khác làm, và mọi
người cần phải kéo ở ngoài nếu mọi người khác làm, nhưng nhiều sự căn bằng thuận lợi
hơn dường như nhiều nữa sự linh hoạt.
Tôi nghĩ rằng sự thí nghiệm suy nghĩ này đạt được cái gì đó thực tế. Một mặt,
ngân hàng họat động hay những sự tương tự quốc tế của chúng xảy ra. Mặt khác, chúng
không được điều khiển bởi những hơi nắng: sự có thể đúng của chúng được điều khiển và
xác định bởi phạm vi của nền tảng những sự yếu kém. Những câu hỏi này của sự lựa
chọn cân bằng có thể và thực vậy đã có hình thức được phân tích
9
. Cho những mục đích
của tôi, cái điểm mà ngăn ngừa khủng hoảng thì nặng nề cho việc phát hành của những
tình trạng né tránh nơi mà tâm lý hoạt động ngân hàng nắm giữ, và ý định kia phụ thuộc
nhiều trên việc làm mạnh thêm những cơ quan chính và những nền tảng khác.
9
Stephen Morris và Hyun Song Sing (1998) cung cấp một sự phân tích mới của những
nền tảng yếu, sự không chắc chắn của loại tôi bàn luận ở trò chơi " tình trạng khó xử của
con chó sói” của Hofstadter, và thông tin riêng tư trong một tiêu chuẩn mô hình sự cân
bằng nhiều có thể sản xuất một sự duy nhất. Công việc này gợi ý tính dễ vỡ của kết quả
cân bằng nhiều và vai trò quan trọng của những sự yếu kém cơ bản. Thách thức bây giờ
sẽ là mô hình hiện tượng này trong động lực hiện thực hơn những sự thiết đặt.
III. Sự ngăn ngừa cơn khủng hoảng ở cấp độ Quốc gia và Quốc tế:
A. Những nỗ lực ngăn ngừa cơn khủng hoảng Quốc gia
Nhiều cú sốc lớn kinh nghiệm của những nước - tới điều khoản mậu dịch của họ,
tới sự tin cậy nhà đầu tư, hay bên trong những hệ thống tài chính nội địa. Một cách tương
đối ít của họ có khủng hoảng tài chính chính. Tại sao? Bảng 2 cung cấp những hệ số chủ
quan của sự quan trọng của nhiều nhân tố như những tiền đề tới sáu cuộc khủng hoảng tài
chính phổ biến của những năm 1990.
Thiếu hụt tài chính 1 3 3 3 3 1
Sự yếu kém trong lĩnh vực ngân
hàng và tài chính
3 1 1 1 1 1
Nợ ngắn hạn chính phủ 1 3 3 1 2 1
Tổng công nợ ngắn hạn nước
ngoài
2 1 1 2 1 1
Sự cai quản chung 2 1 2 2 2 1 Ghi chú: Chìa khóa đến những mục bảng: 1, rất nghiêm túc; 2, nghiêm túc; 3, không trung
tâm.
a
Indonesia để thả nổi tỷ giá hối đoái vào tháng 8 năm 1998, làm biểu lộ dấu hiệu mạnh mẽ
của sự lơ lửng tỷ giá hối đoái thực tế, không sử dụng dự trữ bảo vệ tỷ giá. Tuy nhiên, chế độ tỷ
giá hối đoái cứng nhắc dường như khuyến khích tăng lên nhiều dòng nợ nước ngoài trong khu
vực tư nhân.
Một thực nghiệm nữa có hệ thống nhiều hơn để có phân tích những tiền đề và
không tiền đề của khủng hoảng tài chính với những kết luận rộng rãi tương tự tới bảng
thô thiển của tôi
10
. Bốn sự quan sát này, lần lượt, giúp đỡ xác định bốn yếu tố của một
chiến lược quốc gia có hiệu quả cho việc tối giản nguy cơ của loại khủng hoảng này.
Đầu tiên, và dễ dàng để nói hơn so với làm, đang gìn giữ một hệ thống tài chính
Thứ 4, các quốc gia nên giảm tính dễ tổn thuơng của mình để đảm bảo rủi ro
thanh khoản và rủi ro cân đối tài sản. Dự trữ nước ngoài cần thiết để so sánh với thước đo
đáng tin cậy của số tiền nợ/ khoản phải thu mà khoản này sẽ như là một khả năng chống
lại dự trữ của 1 quốc gia. tỷ lệ thường thấy của dự trữ cho xuất khẩu thường ít sử dụng.
Cũng như vậy, chính sách thiện về vốn ngắn hạn cũng bị hạn chế.
Quan điểm cuối cùng cực kỳ quan trọng bởi vì chúng ta sẽ thấy được 1 dạng đường chéo
thời gian và thời gian lặp lại trong những khủng hoảng gần đây:
(i) Chúng ta thấy ở Mexico, với việc gia tăng các khu nghỉ mát với cái tên
Tesoboonos tiêu tốn nhiều dollar dẫn đến khủng hoảng
(ii) Chúng ta thấy ở Thái Lan, trong việc cắt giảm các loại thuế trong việc vay
muợn các bờ biển của nước ngoài và chính phủ quyết định cầm cố tất cả dự
trữ của nó vào thị trưởng giao sau.
(iii) Chúng ta thấy ở Nam Hàn, nơi mà có sự kiểm soát khác nhau đối với giữ
nguồn vốn dài hạn ra và mở rộng đưa các nguồn vốn ngắn hạn vào
(iv) Và chúng ta thấy ở Nga, những nỗ lực của nhà nước để thu hút các nhà đầu tư
quốc tế vào thị trường đồng rub được đặt tên là GKO’s
Trong nội dung bài này thì sự nghi ngờ 1 cách tự nhiên tăng lên để kiểm soát
nguồn vốn ngắn hạn chảy vào như 1 thước đo chống khủng hoảng. Nhưng quan điểm đầu
tiên và thường là quan điểm không được chú ý, giống như các nhà kinh tế học thuờng đề
xuất những nỗ lực giảm thiểu tiêu dùng năng lượng nên bắt đầu bằng việc giảm tiêu dùng
năng lượng hơn là đưa ra một loạt những thuế năng lượng mới, vì thế ưu tiên thứ nhất là
dòng chảy nguồn vốn phải dược làm nhưng không thiệt hại, và vì thế, để tránh những
chính sách mà liên quan quá đến nguồn vốn ngắn hạn như chúng ta đã đề cập ỡ những
nền kinh tế khủng hoảng trước đây.
Một thước đo cách quản lý hợp lý về nguồn vốn ngắn hạn thì ẩn chứa những luật
lệ khôn ngooan thận trọng của ngân hàng. Nơỉ mà sự kiểm soát là lỗi theo tư tưởng thần
học về sự ra đi, nhưng kinh nghiệm thì cho rằng những sự kiểm soát có khuynh hướng trở
nên không hiệu quả qua thời gian tạo nên chi phí tư nhân và sự không chính xác, và
không chắc chắn của thời kỳ quá độ của những dịch vụ tài chính mà có thể đó là nguồn
ổn định quan trọng. Chúng không phải là thuốc bách bệnh và thực sự làm suy biến sự thể
củng cố thêm sự vững chắc. Hơn nữa, như thể Ken Galbraith đã quan sát, lương tâm là
nỗi lo sợ cho những người đang quan sát, nó có thể là phương tiện hiệu quả duy nhất của
việc khuyến khích các nguyên tắc cá nhân. Rất nhiều loại chỉ số cần thiết trong việc thể
hiện nền kinh tế.
Cũng có 1 vai trò quan trọng cho sự giám sát quốc tế tốt hơn về chất lượng các
chính sách quốc gia ở trong vùng như mô tả. Đó là vai trò được thể hiên bằng việc tăng
quyền hạn, trách nhiệm của IMF lên trong một số lĩnh vực chính của các vùng, như nó có
thể bỏ ngay từ khi nó có thể nói rằng IMF đại diện cho “ nó là chính sách tài chính chính
“ Các hội thảo quốc tế như G-7, G-20 mới, các bộ trưởng tài chính APEC và vân vân
cũng có thể hữu ích. Thật vậy, các thành công chính của họ là không đưa ra quyết định cụ
thể là họ nên gặp nhau khi nào - thi thoảng hay không. Hơn nữa, nó là cách lan truyền
những cách suy nghĩ về những phản ứng lại của sự phát triển kinh tế. Giá trị của sự
truyền tin là các thực hiện tốt nhất, hoặc ít nhất là cách thực hiện tốt hơn, không bị đánh
giá thấp. Những hội thảo ngoài hành lang cung cấp những cơ hội quan trọng để sử dụng
những áp lực chính chính trị để can thiệp các chính sách quốc gia theo hướng đúng.
Ngoài sự tán thành cùa các thành viên tham dự hội thảo, câu hỏi thường được đưa ra là
làm gi để thức đẩy các nước theo đuổi theo những chính sách mạnh hơn. Câu trả lời cơ
bản là tuỳ thuộc sở thích cá nhân. Phân thưởng tương xứng cho những nước với những
chính sách cải thiện là sẽ có thu nhập tốt hơn và một tiêu chuẩn sống cho người dân của
nước đó. Sự khuyến khích này có thể giảm thấp những chi phí vay mượn từ thị trường .
Có một số nguời mà đề nghị làm tăng một cách có hệ thống nguồn dự trữ ngoại tê
của một quốc gia thông qua việc dùng nguồn tài chính cứu trợ vô điều kiện và phổ biến,
qua đó làm giảm tai nạn ít nhất giống như giảm rủi ro mong đợi thể hiện hết khả năng của
mình qua kiểm soát khủng hoảng mà vừa được thảo luận.
12
Có 1 vài lý thuyết và những đóng góp về chính sách tranh cãi về việc cải cách hệ thống
tài chính quốc tế nhằm mục đích phòng tránh và giải quyết khủng hoảng với mức chi phí
thấp. Những đóng góp đó bao gồm Council on Foreign Relations (1999), Eichengreen
(1999), Martin Feldstein (1999), and Kenneth Rogoff (1999). Ngày nay, các nhà nghiên
cứu cũng đã bắt đầu phát triển các mô hình phân tích về kiến trúc để hướng đến các mối
với khủng hoảng có khuynh hướng thảo luận chi tiết giai đoạn nhớ lại trong 5 giai đoạn
của tai hoạ. Đầu tiên có sữ phủ nhận là khủng hoảng có thể xảy ra. Thứ hai, chúng ta thấy
sự tức giận với 1 sự xuất hiện đột ngột của những kẻ đầu cơ và những thế lực bên ngoìa
khác. Thứ ba, có 1 sự mặc cả, nghiên cứu liều lĩnh cho dấu hiện ký lạ mà chúng ta đã
thấy ví dụ áp lực cho năng lực hệ thống tiền tệ trong khủng hoảng ở Indonexia. Thứ tư
trở thành sự bất lực, thường dẫn tới quyết định là kêu gọi IMF. Cuối cùng giai đoạn thứ
năm, có sự chấp thuận và 1 thoả thuận vế kế hoạch cho vay muợn.
Về mặt lý thuyết tác giả thường mất kiên nhẫn với việc đưa ra những lời khuyên
vô ích của những nhà cầm quyền tiền nhiệm mà tư vấn cho những nạn nhân của khủng
hoảng tài chính để liên hệ với những khoản nợ của họ, tin xấu đến nhanh dẫn đến quyết
định kịp thời để giải quyết khủng hoảng và vân vân. Hơn nữa, tác giả đánh giá cao những
kế hoạch sắc bén mà trở thành khuôn mẫu bởi vì chúng nắm bắt đúng sự thất. Trong tình
huống này sự tin cậy là trung tâm, sẽ là sai lầm nếu nghĩ nó chỉ là 1 yếu tố mà những nhà
cầm quyền trong nước làm để giải quyết vấn đề.
Có lẽ lời khuyên tốt nhất mà tác giả đã nghe đượclà chính sách đúng đắn theo
đuổi khủng hoảng là lời cảnh cáo của Tổng thống Ernesto Zedillo dựa trên kinh nghiệm
lãnh đạo Mexico thoát khỏi khủng hoảng năm 1995, khi thị trường phản ứng lại thì
những chính sách cũng cần phải phản ứng lại tương tự.
Những phát biểu này dùng để định dạng 1 chính sách hiệu quả phản ứng lại khủng
hoảng. Nội dung là gì? Nó sẽ thay đổi theo từng trường hợp. Nhưng theo kinh nghiệm
Thì tác giả đề nghị một số bài học quan trong sau:
(i) Đảm bảo niềm tin trong thị trường và các nhà đầu tư tin rằng khủng hoảng
luôn tồn tại và việc theo đuổi nó là cần thiết. Điều đó đòi hỏi phải sự rõ ràng
minh bạch ( cung cấp toàn bộ thông tin liên quan đến thị trường cốt để những
nhà đầu tư không thích rủi ro không chắc vấn đề nghiêm trọng như thế nào ).
Lời cam kết tin cậy và phù hợp để thể hiện 1 chính sách điều chỉnh chặt chẽ
( cốt để những nhà chính trị và chính sách chắc chắn không lài hại niền tin của
nhà đầu tư ) và tiếp cận với những chủ nợ ( cốt để chính sách phủ định đột
ngột và những bất ngờ được tối thiểu hoá, và để những chủ nợ được cam đoan
1 lần nữa nữa là sự hợp tác với những khó khăn nợ sẽ được theo đuổi )
khoản cho vay ảo đang tăng lên; (b) những sự cam kết tuyệt đối tin tưởng dẫn
đến nỗ lực tham gia các cuộc “đầu cơ để gỡ gạc”; (c) Một hệ thống bảo đảm
tiền gửi không rõ ràng, được ưa chuộng hơn hệ thống minh bạch và khích lệ
hỗ trợ, trong thời gian mà không có một nguồn nào đáng tin cậy từ nguồn tiền
của nhà nước có sẵn từ mặt trái của đảm bảo này; và (d) sự bóp méo và giao
thoa chính trị trong quá trịnh ngăn chặn đó cũng đươc nêu ra ( vì khi một ngân
hàng Indonesia thuộc sở hữu của con trai tổng thống Soeharto bị đóng cửa 1
ngày và mở lại ngay ngày hôm sau dưới 1 cái tên khác ngay tại cơ ngơi cũ).
(v) Bảo hộ xã hội manh mẽ và có hiệu quả cần được thiết lập. Chính sách xã hội
và chi tiêu hiệu quả có thể làm giảm nhẹ nhiệm vụ điều tiết trong suốt thời kỳ
khủng hoảng, giúp thiết lập sự ủng hộ cho việc cơ cấu lại, và chắc chắn rằng
gánh nặng từ sự điều tiết không rơi vào nhóm người nghèo nhất và dễ bị tổn
thương trong xã hội 1 cách không tương xứng. Đây là vấn đề ràng buộc về
đạo đức. Nó cũng có thể được xem là sự ràng buộc chính trị nếu chính sách
điều tiết mạnh mẽ được trợ giúp. Quốc gia cần sở hữu chương trình điều tiết
và chính phủ phải dân chủ và được sự ủng hộ phổ biến cho chính sách mà
xem chừng là khó khăn trong ngắn hạn. Chẳng hạn, một số quốc gia Châu Á
( Thái Lan, Nam Triều Tiên và Indonesia), quá trình khôi phục lại niềm tin và
phục hồi giá tài sản gắn liền với quyền lực của một chính phủ mới có quyền
lực chính trị hợp pháp và được ủng hộ đông đảo hơn chính quyền cũ.
Rõ ràng, trong tất cả sự điều chỉnh này sẽ rất khó để có được sự công bằng, và
chúng ta không bao giờ đảm bảo rằng họ sẽ làm đúng cho mỗi trường hợp. Nhưng không
có nghi vấn nào (và chưa từng có trước đây) về cái đích của việc duy trì lòng tin và sự
bền vững càng nhanh càng tốt và để mở đường cho sự tăng trưởng mới.
B. Đối phó với khủng hoảng thế giới
Như tôi đã lưu ý ở trên, một đặc trưng của khủng hoảng trong giai đoạn trầm
trọng nhất của nó là các chủ nợ của quốc gia tập trung vào xem xét về mặt động lực học,
không phải kinh tế học, có hay không nguồn đủ chất lượng đáp ứng nghĩa vụ tài chính
sắp đến hạn. Thiếu sự đảm bảo thì xem như sự khôi phục lòng tin là không thể thực hiện.
Nhiệm vụ trung tâm để đối phó với khủng hoảng là sự thiết lập một đường dẫn mà
các thị trường mới nổi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi kỳ vọng về những nguồn lực sẵn có
cho các giải cứu về tài chính.
Một ví dụ đó là không có một bằng chứng nào về việc trả nợ cho các chủ nợ trong
cuộc khủng hoảng tài chính của Mexico. Ngoài ra, sự phân tích cũng chỉ ra rằng nếu các
khoản cho vay trong cuộc khủng hoảng tài chính được chứng minh là hiệu quả chúng sẽ
mang lại nguồn lợi nhuận cho các chủ nợ, đồng thời các quốc gia có liên quan cũng
không phải gánh chịu chi phí thuế như trong trường hợp nhận tiền từ các công ty bảo
hiểm. Quả thực, các khoản cho vay hiệu quả sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các bên liên
quan, điều này được gọi là sự đổi mới Pareto. Một điều chắc chắn là một hệ thống tài
chính vững mạnh không thể được xây dựng dựa trên cơ sở các kỳ vọng về sự giải cứu tài
chính.
Thứ ba, trong một vài trường hợp việc cho vay không thể giúp cho việc giải quyết
hoàn toàn khủng hoảng cũng như là khôi phục lại niềm tin thị trường một cách đầy đủ.
Những nguyên nhân trên dẫn đến việc kết hợp nhiều thành phần tư nhân như là 1
biện pháp thay thế để đối phó với khủng hoảng. Sự kết hợp của các chủ nợ ngân hàng đã
thực hiện 1 vai trò chủ yếu trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính ở Nam Triều Tiên
và Brazil. Ưu điểm của phương pháp đối phó khủng hoảng bằng việc kết hợp các thành
phần tư nhân đó là không cần dùng đến sự hỗ trợ tài chính từ các thành phần kinh tế công
và giúp giảm bớt các rủi ro về mặt đạo đức. Tuy nhiên, phương pháp này cũng đem lại
những khó khăn nhất định.
Ở đây có sự khó khăn trong việc đạt đến sự kết hợp giữa các thành phần tư nhân.
Bởi lẻ họ có rất ít động lực để kết hợp với nhau nếu sự kết hợp là dựa trên tinh thần tự
nguyện. Còn trong trường hợp bắt buộc phải kết hợp thì câu hỏi được đặt ra đó là sự công
bằng giữa các bên tham gia.
V Kết luận
Tôi sẽ kết luận từ nơi tôi bắt đầu. Hệ thống tài chính vững mạnh sẽ là nguồn hỗ
trợ to lớn cho sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới và việc lưu thông dòng vốn giữa các
quốc gia cũng sẽ tạo ra những khoản lợi nhuận to lớn. Và như chúng ta đã biết, ở đây có
sự tiềm ẩn những rủi ro vô cùng to lớn.
Tôi sẽ mô tả sau đây một vài suy nghĩ hướng dẫn cho sự kết nối quốc tế trong
tiền gửi và thanh khoản” Thời báo kinh tế chính trị, Tháng 6 1983,91(3), pp. 401–19.
Dornbusch, Rudiger; Park, Yung Chul and Claessens,Stijn. “Sự lây lan : Nó lan
truyền như thế nào và làm thế nào để dừng lại?” Unpublished manuscript, Massachusetts
Institute of Technology, January 2000.
Eichengreen, Barry. Một thiết kế mới cho tài chính quốc tế: Lịch trình ứng dụng tại
Châu Á. Washington, DC: Institute for International Economics, 1999. Eichengreen,
Barry and Rose, Andy. “Thực tiễn của cuộc khủng hoảng tiền tệ ngân hàng.” Mimeo,
University of California–Berkeley,1998.
Feldstein, Martin. “Tự bảo vệ thị trường năng lượng .” National Bureau of Economic
Research (Cambridge, MA) Working Paper No. 6907, January 1999.
Frankel, Jeffrey and Rose, Andy. “Tiền mặt cho thị trường năng lượng: thực tiễn.”
Thời báo kinh tế quốc tế, November 1996, 41(3– 4), pp. 351– 66.
Goldfajin, Ilan and Valdes, Rodrigo O. “Khủng hoảng kép và vai trò của tính thanh
khoản.” Mimeo, International Monetary Fund, Washington, DC, 1998. . “Khủng hoảng
thanh khoản và thiết kế hệ thống tài chính thế giới.” Unpublished manuscript, Central
Bank of Chile, Santiago, July 1999.
Goldstein, Morris. Khủng hoảng tài chính Châu Á: nguyên nhân, giải pháp và những
lời khuyên. Washington, DC: Institute for International Economics, 1998.
Goldstein, Morris; Kaminsky, Graciella and Reinhart, Carmen. “Hệ thống tài chính
dễ đổ vỡ: Cảnh báo cho thị trường năng lượng.” Mimeo, Institute for International
Economics, Washington, DC, 1999.
Jeanne, Olivier. “Khủng hoảng nợ và hệ thống tài chính thế giới.” Unpublished
manuscript, International Monetary Fund, Washington, DC, November 1999.
Jeanne, Olivier and Wyplosz, Charles. “The International Lender of Last Resort: How
Large Is Large Enough?” Mimeo, International Monetary Fund, Washington, DC,
September 1999.
Johnson, Simon; Boone, Peter; Breach, Alastar and Friedman, Eric. “Doanh nghiệp
nhà nước trong khủng hoảng tài chính Châu Á.” Journal of Financial Economics, 2000
(forthcoming).
Kaminsky, Graciella and Reinhart, Carmen. “Khủng hoảng kép: nguyên nhân từ rắc
hiệu quả: Một trường hợp thận trọng cho thuế giao dịch chứng khoán.” Tạp chí nghiên
cứu tài chính, Tháng 12, 1989, 3(2–3), pp. 261–86.
Wallace, Neil. “Sự cố gắng để giải thích tính kém thanh khoản của hệ thống ngân hàng :
The Diamond and Dybvig Model with Sequential Servicing Taken Seriously.” Federal
Reserve Bank of Minneapolis Quarterly Review, Fall 1988, 12(4), pp. 3–16.
Zeckhauser, Richard. “Trách nhiệm lẫn lộn giữa khu vực công và tư nhân,” in Winthrop
Knowlton and Richard Zeckhauser, eds., American society: Public and private
responsibilities. Cambridge, MA: Ballinger, 1986, pp. 45–77.
Zettelmeyer, Jeronim. “Ảnh hưởng ngắn hạn về vay nợ quốc gia .” Bản thảo,
Quỹ tiền tệ quốc tế, Washington, DC, T.12 – 1999.