Hậu khủng hoảng tài chính thế giới và phát triển bền vững - Pdf 67

Tài liệu phục vụ Hội nghị
“Hậu khủng hoảng tài chính thế giới và phát triển bền vững”
Đà Nẵng 7-10/3/2010
1. Hệ quả của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đến
kinh tế, xã hội Việt Nam
Hàng loạt những thay đổi do tác động của khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế thế giới đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng ít nhất cho đến trung hạn đối
với phát triển và biến đổi kinh tế nước ta. Đó là:
- Nhu cầu nhập khẩu ở các thị trường chủ yếu như Hoa kỳ, EU và Nhật
bản đang và sẽ tiếp tục giảm xuống; thêm vào đó, các hàng rào kỹ thuật sẽ cao
hơn và khắt khe hơn. Vì vậy, xuất khẩu của nước ta vào các thị trường nói trên
sẽ khó khăn hơn, và khó có thể đạt được tốc độ tăng trưởng như trước đây.
- Dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển, trong đó, có nước ta sẽ
tiếp tục giảm nhiều so với những năm qua, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp và vốn
vay thương mại. Dòng vốn đầu tư gián tiếp vẫn tiếp tục biến động, không ổn định
trong những năm tiếp theo. Vì vậy, không chỉ số vốn đăng ký mới giảm xuống,
mà còn việc thực hiện một số lượng không nhỏ các dự án đã đăng ký cũng gặp
nhiều khó khăn; một số trong đó sẽ định hoãn hoặc chấm dứt hoạt động. Vốn kiều
hối cũng sẽ có xu hướng giảm. Việc quản lý duy trì cân bằng cán cân thanh toán
sẽ khó khăn hơn; rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô cũng có thể gia tăng hơn.
Những tác động của khủng hoảng đến kinh tế, xã hội Việt Nam là:
- Mặc dù không nằm trong vòng xoáy của khủng hoảng toàn cầu, nhưng
trên thực tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã có sự suy giảm đáng kể,
năm 2008 là 6,18%, năm 2009 còn 5,32% từ mức 8,46% của năm 2007.
Xét theo ngành kinh tế, tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng
năm 2008 chỉ đạt 6,33%, năm 2009 chỉ tăng 5,52%; khu vực dịch vụ năm 2008
tăng 7,20%, năm 2009 chỉ tăng 6,63%, thấp hơn nhiều so với những năm trước.
- Bội chi ngân sách cao (7% GDP) do phải tài trợ cho gói giải pháp ngăn
chặn suy giảm, kích thích kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, nợ chính phủ tăng
mạnh (năm 2008 nợ của Chính phủ khoảng 36,5% GDP, năm 2009 ước lên đến
40% GDP).

trang trại mất
việc làm
Tỉ lệ lao
động tại xí
nghiệp,
xưởng SX
mất việc làm
Chung 21,7 17,2 36,9 85,3 8,7
An Giang 19,5 29,3 40,5 85,9 5,6
Bình Thuận 21,5 18,7 44,4 88,7 10,5
Lạng Sơn 21,1 21,3 34,1 44,0 7,4
Nam Định 22,5 15,1 34,1 85,3 11,9
- Tìm kiếm việc làm mới cho lao động mất việc rất khó khăn, tỷ lệ tìm
được việc làm mới rất thấp, việc làm phi nông nghiệp tại nông thôn trở thành
cứu cánh cho lao động mất việc làm.
Tỷ lệ lao động trở về địa phương tìm được việc làm theo tỉnh (đơn vị: %)
Tỉ lệ lao động trở
về địa phương tìm
thấy việc làm
Tỉ lệ lao động trở về
tìm thấy việc làm trong
ngành NLN nghiệp
Tỉ lệ lao động trở về
tìm thấy việc làm
trong lĩnh vực CN và
dịch vụ tại địa phương
Chung 11,3 5,3 6,1
An Giang 8,6 3,5 5,1
Bình Thuận 20,0 7,2 12,8
Lạng Sơn 30,7 13,5 17,2

(%)
Tỉ lệ xã
đánh giá
xây dựng
tại địa
phương
giảm
Mức độ
giảm* (%)
Chung 68,4 18,5 65,2 23,6 52,3 25,9
An Giang 73,9 18,0 65,2 26,6 46,7 16,9
Bình Thuận 66,0 20,8 74,5 29,5 58,5 34,8
Lạng Sơn 64,9 15,8 53,0 19,3 45,0 28,9
Nam Định 71,2 20,2 73,4 22,4 59,8 22,3
- Suy giảm kinh tế đã làm giảm đầu tư cho sản xuất, đặc biệt là các hộ sản
xuất quy mô lớn, tập trung nhiều ở các xã đồng bằng, trung du, xã khá.
Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế lên sản xuất nông nông nghiệp của một số
tỉnh
Tỉnh
Ảnh hưởng của suy giảm
kinh tế lên đầu tư của
trang trại
Ảnh hưởng của suy giảm
kinh tế lên việc giảm giá
bán SP NN
Tỉ lệ xã
đánh giá
đầu tư cho
trang trại
giảm

kinh tế lên hoạt động sản
xuất TTCN và CN nhỏ
Ảnh hưởng của suy giảm
kinh tế lên việc giảm giá
bán SP TTCN và CN nhỏ
Tỉ lệ cơ sở
SX TTCN
và CN nhỏ
ngừng hoạt
động năm
2009
Tỉ lệ cơ sở
SX TTCN
và CN nhỏ
giảm hoạt
động năm
2009 so với
2008
Tỉ lệ xã
đánh giá SP
TTCN phải
bán giá thấp
hơn so với
trước suy
giảm kinh
tế
Mức độ
giảm giá
bán SP
TTCN* (%)

Tăng vốn đầu tư phát triển ước thực hiện cả năm đạt khoảng 60.800 tỷ
đồng.
Các khoản chi nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội
khoảng 9.800 tỷ đồng để tăng mua dự trữ quốc gia về gạo và xăng dầu và thực
hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên nhằm bảo đảm an sinh xã hội phát sinh
ngoài dự toán.
Tận dụng gói kích cầu, nhiều doanh nghiệp đã cơ cấu lại hoạt động sản
xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiến độ đầu tư các dự án, vì vậy, từ tháng 5/2009,
hoạt động sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục góp
phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Kinh nghiệm rút ra từ thực tế của Việt Nam là:
(1) Nhận định, đánh giá đúng tình hình, chuyển hướng chính sách kịp
thời. Từ đó đề ra gói giải pháp kích thích kinh tế đồng bộ, toàn diện, nhưng có
trọng tâm, trọng điểm. Chú trọng thực hiện các chương trình giảm nghèo, bảo
trợ xã hội như: hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp
gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; ban hành cơ chế, chính sách để đẩy mạnh
việc đầu tư xây dựng nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và công
nhân khu công nghiệp thuê, phát triển nhà ở giá thấp để bán cho các đối tượng
gặp khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị; hỗ trợ cho người nghèo đón Tết, ban
hành chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn;
ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo.
(2) Công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc của các cấp các ngành
quyết liệt, tích cực, có sự phối hợp, thống nhất hành động từ cấp trung ương đến
địa phương.
(3) Chú trọng công tác thông tin tuyên truyền kịp thời, công khai để tạo
tâm lý xã hội tích cực và đồng thuận.
3. Vai trò của cơ quan lập pháp trong ứng phó với khủng hoảng kinh
tế và giai đoạn hậu khủng hoảng
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội Việt Nam đã thường xuyên theo dõi,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status