BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
TRẦN ĐĂNG THẾ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG BÔNG
XEN CANH VỚI CÂY NGẮN NGÀY TẠI HUYỆN
CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Thư ký hội ñồng Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Văn Sanh TS. Lâm Thị Bích Lệ
BUÔN MA THUỘT, NĂM 20111 MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn ñề
Trong những năm gần ñây, diện tích trồng bông ở vùng Tây Nguyên có sự
sụt giảm nghiêm trọng. Theo thống kê của Công ty Bông Việt Nam niên vụ
2007/2008 diện tích bông khoảng 3.700 ha, ñến niên vụ 2009/2010 diện tích bông
tại Tây Nguyên chỉ còn khoảng 1.500 ha, những nguyên nhân chính làm cho diện
tích bông suy giảm: Thứ nhất, do quy trình kỹ thuật canh tác bông còn phức tạp,
năng suất bông chưa thực sự ổn ñịnh, hiệu quả kinh tế của cây bông chưa cao…
Thứ hai, do cây bông chưa ñủ khả năng cạnh tranh với một số cây trồng ngắn ngày
khác như: ngô, ñậu xanh, ñậu tương, lạc…
Kết quả nghiên cứu của ñề tài làm cơ sở cho việc bố trí các mô hình trồng bông
thích hợp tại ñịa phương. Đồng thời làm cơ sở cho những nghiên cứu chuyên sâu về cây
bông tại huyện Cư Jút nói riêng và vùng Tây Nguyên nói chung.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ñất, ñem
lại hiệu quả kinh tế cho người trồng bông, nâng cao vị trí cây bông trong hệ thống cơ
cấu cây trồng tại ñịa phương, tạo ñiều kiện mở rộng diện tích, tăng năng suất và sản
lượng bông.
4. Giới hạn của ñề tài
- Giống nghiên cứu: Đề tài chỉ tiến hành trên giống bông lai F1 VN04-3,
thuộc loài bông Luồi (G. hirsutum L.), là giống có triển vọng và hiện ñang trồng
phổ biến tại vùng nghiên cứu.
- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài của chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tại
huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành trong vụ mưa năm 2009 và 2010.
3 Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm xen canh
- Xen canh là trồng cùng một lúc nhiều loại cây trồng trên một đơn vò diện
tích trong cùng một vụ, nhằm tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên sẵn có để đa
dạng hóa sản phẩm và làm tăng hiệu quả đồng vốn đầu tư của người sản xuất.
- Một hệ thống trồng xen có hiệu quả sinh học cao là hệ thống canh tác
thỏa mãn 4 yêu cầu :
L
x
; L
y
; L
z
là những LER riêng biệt của các xây trồng x, y, z.
A
x
, A
y
, A
z
là năng suất của các cây trồng x, y, z trong điều kiện trồng xen.
P
x
, P
y
, P
z
là năng suất của các cây trồng đó trong điều kiện trồng thuần.
Tuy nhiên, sản lượng cây trồng không chỉ quan hệ với diện tích đất,
cây trồng, quản lý và môi trường (như được ngụ ý bởi LER) mà còn có quan
hệ mật thiết với thời gian sinh trưởng của cây trồng hoặc thời gian mà đất bò
chiếm giữ bởi một cây trồng hay tổ hợp các cây trồng như trong trường hợp
4 vừa xen, vừa gối, canh tác đa canh, đa tầng. Điều đó đã khai sinh ra khái
n
=
∑ ∑
1
Trong đó:
t
i
m
: là thời gian phát triển của cây trồng i trong điều kiện trồng thuần.
t
I
: là thời gian tòan bộ hệ thống trồng xen.
y
i
I
: Năng suất (tấn/ha) của cây trồng i trong trồng xen.
y
i
m
: Năng suất (tấn/ha) của cây trồng i trong trồng thuần.
n : là tổng số các cây trồng trong hệ thống.
Wiiley, Rao (1980) đã phát triển khái niệm LER trong việc đánh giá mức
độ cạnh tranh giữa các cây trồng xen bằng chỉ tiêu “chỉ số cạnh tranh’’
(Competitive Ratio - CR):
CR
X
và P
Y
: là năng suất của các cây trồng xen trong trồng thuần.
S
Y
: là không gian tương ứng bò chiếm chỗ bởi cây trồng Y.
S
X
: là không gian tương ứng bò chiếm chỗ bởi cây trồng X.
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng xen có 4 chỉ tiêu cơ bản đã
được đề nghò bởi Perrin et al. (1976) bao gồm: Tổng chi phí, tổng thu nhập, lợi
nhuận và hiệu quả đầu tư:
HQĐT(%) =
Lợi nhuậ
n
Tổng chi phí đầu t ư
X 100
5 1.1.2 Những nghiên cứu về xen canh
1.1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Ở nhiều nước, cây bông thường ñược trồng xen với nhiều cây trồng khác
ñể làm tăng năng suất và quản lý sâu hại. Hiệu quả của việc trồng bông xen với
rau Húng quế ñã ñược kiểm chứng trên ñồng ruộng ñối với sự lan tràn của dịch
hại, khả năng ảnh hưởng ñến năng suất và hiệu quả kinh tế tại Ai Cập. Cây
Húng quế ñược biết ñến như là loại cây có tác dụng xua ñuổi ñối với nhiều loại
dụng ñược 60-80% hiệu suất của ñất. Trồng xen giúp nâng cao năng suất cây
trồng, phòng trừ sâu hại dễ dàng hơn, ñặc biệt nếu trồng cây họ ñậu sẽ cho nhiều
nguồn lợi hơn [53].
Trên thế giới, phần lớn cây họ ñậu ñược sử dụng ñể trồng xen với cây
bông. Vì cây họ ñậu có phản ứng trung tính với ánh sáng, chịu che bóng và có
khả năng cố ñịnh ñạm, tăng ñộ màu mỡ cho ñất. Theo Kunase Karan.V và cs
[57], việc xen 3 hàng ñậu xanh với bông (giống MCu5) ñã làm giảm ñược lượng
ñạm cần bón theo khuyến cáo là 25%, nhưng năng suất bông vẫn không bị giảm.
Nghiên cứu về khả năng trồng xen của giống bông C50 với những cây
trồng khác trong ñiều kiện nhờ nước trời ở Tamil Nadu (Ấn Độ) cho thấy: năng
suất bông trồng thuần cao hơn so với mô hình bông trồng xen. Năng suất bông
giảm do trồng xen có thể ñạt tối ña là 28%, ớt và rau mùi ñều không thích hợp
cho trồng xen. Bông xen với ñậu ñen cho hiệu quả kinh tế cao nhất, ñậu ñen
ñược khuyến cáo dùng làm cây trồng xen trong những năm có lượng mưa thấp
(dẫn theo Trần Anh Hào, 1996) [9].
Các nghiên cứu của Tarhalkar P. P, Mudholkar N. J (1990) cho rằng: Tại Ấn
Độ cây bông có thời vụ kéo dài, giai ñoạn ñầu sinh trưởng chậm tạo thành một thời
vụ ngắn khoảng 70-100 ngày. Do vậy, những cây có tán lá thấp như: lúa mạch, ñậu
xanh, ñậu ñen, lạc, ñậu tương ñều có thể trồng xen với cây bông. Trồng xen các cây
ñậu xanh, ñậu ñen, ñậu ñũa, hướng dương với bông thì mật ñộ các loài chích hút trên
bông trồng xen thấp hơn bông trồng thuần, trong ñó trồng xen ñậu xanh vào bông
cho tổng thu nhập cao nhất [50].
Kết quả nghiên cứu tại Rio Grande do Norte (Brazil) ñã chỉ ra rằng: trồng 2
hàng bông xen 1 hàng ñậu ñũa cho năng suất bông cao hơn trồng 1 hàng bông xen
7 1 hàng ñậu ñũa. Số lượng cây ñậu ñũa không ảnh hưởng lớn ñến năng suất bông
(Bererra Neto F và cs, 1991) [38].
với cơ cấu cây trồng khác (Tổng công ty Bông Việt Nam, 2003) [26]. Việc trồng
bông xen với các cây trồng khác ñã tận dụng ñược thời gian, không gian và tiết
kiệm ñược công chăm sóc. Các mô hình bông xen lạc, ñậu cô ve hoặc ñậu tương
trong ñiều kiện mùa khô có tưới bổ sung ñều cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với
mô hình bông trồng thuần (Lê Quang Quyến và cs, 2004) [24].
Theo Phạm Xuân Hưng (2002), tại Thanh Hóa, trồng bông xen lạc với mật
ñộ từ 1,0 ñến 1,2 vạn cây/ha làm tăng năng suất bông ñể có thể bù ñắp ñược sự
giảm năng suất lạc. Đặc biệt, hiệu quả kinh tế của mô hình trồng bông xen lạc khá
cao và cao hơn nhiều so với trồng ngô xen lạc, vì cây ngô chống chịu với ñiều kiện
khô hạn kém hơn cây bông, hiệu quả kinh tế thấp hơn cây bông [13].
Trên ñất cát ở huyện Thăng Bình (Quảng Nam), trong ñiều kiện vụ Xuân hè:
Mô hình bông xen lạc theo kiểu 1 hàng bông kép (1,4 - 0,6 m) xen 4 hàng lạc cho
hiệu quả kinh tế cao nhất và vượt mô hình trồng bông thuần (5,5 triệu ñồng/ha) và
mô hình trồng lạc thuần (2,7 triệu ñồng/ha) [26].
Theo Đinh Quang Tuyến & cs (2008), tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
trồng bông xen ñậu tương theo kiểu 1/4 (1 hàng bông xen 4 hàng ñậu tương, với
khoảng cách giữa 2 hàng bông là 1,4m) cho lãi thuần cao nhất (ñạt 17,5 triệu
ñồng/ha). Tại Kông Chro (Gia Lai), trồng bông xen ñậu xanh theo kiểu 2/4
(bông hàng kép cách nhau 1,4m xen 4 hàng ñậu xanh) cho lãi thuần ñạt 13,3
triệu ñồng/ha. Trồng bông xen ngô theo kiểu 4/1 (4 hàng bông xen 1 hàng ngô)
cho lại lãi thuần và thu nhập cao tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông và huyện Chư
Sê, tỉnh Gia Lai [29].
1.2 Tình hình sản xuất bông trong nước và trên thế giới
1.2.1 Tình hình sản xuất bông trên thế giới
Trong bốn thập kỷ qua, sản xuất và tiêu thụ bông vải trên toàn thế giới có
những bước tăng trưởng mạnh, sản lượng bông xơ từ 9,8 triệu tấn (năm 1960/1961)
lên ñến 21,1 triệu tấn vào những năm 2001/2002 (Badiane và ctv, 2002). Niên vụ
2001/2002 trên thế giới có hơn 50 quốc gia sản xuất bông với diện tích hàng năm
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng bông của một số quốc gia ñứng
ñầu thế giới trong niên vụ (2007 – 2009)
Niên vụ
Quốc gia
Diện tích (triệu ha) Năng suất bông xơ (tạ/ha)
2007/08 2008/09 2009/010
2007/08 2008/09 2009/010
Trung Quốc 6,02
5,95
5,30
12,99
13,10
13,5
Mỹ 4,25
3,06
-
9,85
9,11
1,3
8,15
7,51
6,53
Braxin 1,08
0,85
0,84
14,88
14,86
14,19
Thổ Nhĩ Kỳ 0,52
0,35
0,28
12,98
13,25
Uzbekistan (1,42 triệu ha), Brazil (0,85 triệu ha) và Thổ Nhĩ Kỳ (0,35 triệu ha). Trong
số các nước sản xuất bông ñứng ñầu thế giới thì Braxin, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ là
các nước có năng suất bông ñạt mức khá cao, năng suất bông xơ bình quân chung của
các quốc gia này ñạt mức từ 12,98 - 14,88 tạ/ha, ước tính diện tích trồng bông tăng
(33,6 triệu ha), sản lượng bông xơ ñạt 25,1 triệu tấn (ICAC, 2001 - 2011) [41].
1.2.2 Tình hình sản xuất bông trong nước
Bảng 1.3: Diễn biến tình hình sản xuất bông ở Việt Nam trong những năm qua
Niên vụ Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
1996/1997 10.676
6,00
6.866
1997/1998 11.716
9,00
10.986
1998/1999 19.963
8,00
16.245
2004/2005 20.260
9,55
19.358
2005/2006 23.098
9,20
21.254
2006/2007 15.445
11,20
17.300
2007/2008 7.446
9,83
7.324
2008/2009 3.240
10,60
3.434
ñáng kể, chúng ta ñã tạo ñược các giống bông, ñặc biệt là các giống bông lai có
năng suất cao, chất lượng xơ tốt, chống chịu ñược sâu bệnh. Hàng loạt các tiến bộ
kỹ thuật ñược áp dụng như: biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp giúp giảm chi
phí thuốc bảo vệ thực vật; các biện pháp kỹ thuật canh tác khác như: hệ thống
luân, xen canh hợp lý, phủ màng PE cho bông, ñặc biệt trồng dày, sử dụng chất
ñiều hòa sinh trưởng Mepiquate Chloride. Chính vì vậy mà năng suất và chất
lượng bông xơ tăng, nghề sản xuất bông mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tính ñến
niên vụ 2002/2003 diện tích bông ñạt hơn 35.000 ha, năng suất ñạt hơn 10 tạ/ha,
tăng lên hơn 2 lần so với thời ñiểm 1996/1997.
Từ năm 2006 ñến nay, năng suất và sản lượng bông nước ta giảm ñáng kể.
Niên vụ 2007/2008 diện tích bông giảm chỉ còn trên 7.000 ha và niên vụ
2008/2009 chỉ còn trên 3.000 ha ở vùng Tây Nguyên, trồng chủ yếu nhờ nước trời.
Bước sang niên vụ 2009/2010, diện tích bông tăng lên khá mạnh (10.470 ha).
12 1.2.3 Tình hình sản xuất bông tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng bông tại huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha)
2007 392 1,0
2008 45 1,1
2009 500 1,6
2010 586 1,8
Niên giám thống kê huyện Cư Jút, 2011 [17]
Nhìn chung, năng suất và diện tích bông tại huyện Cư Jút có chiều hướng tăng dần từ
năm 2007 ñến năm 2010. Tuy nhiên, trong năm 2008 do ñiều kiện thời tiết diễn biến
bất thường từ ñầu vụ và giá thu mua bông thấp làm diện tích bông sụt giảm mạnh.
dạng tháp (trên nhỏ, dưới to).
Cành bông có 2 loại, cành ñực (Monopodial) do mầm ñâm từ giữa nách lá
gọi là mầm chính phân hóa thành và cành quả (Sympodial) do mầm phụ phân hóa
thành. Phía gốc thường chỉ có mầm chính phát triển, do ñó chỉ có cành ñực; còn
phía trên chỉ có mầm phụ phát triển thành cành quả.
Mỗi cây thường có 1 - 10 cành ñực, thường mọc từ nách lá thật thứ 3, 4. Cành
ñực sinh trưởng theo mầm ngọn, do ñó mọc thẳng và thuộc loại cành ñơn trục, hợp với
thân chính một góc nhọn. Cành ñực không trực tiếp mang quả.
Cành quả thường mọc từ nách lá thật thứ 5, 6 trở lên. Các giống chín sớm, vị
trí này thường thấp hơn giống chín muộn. Cành quả sinh trưởng theo mầm nách, do
ñó cành có dạng gãy khúc chữ chi. Cành quả hợp với thân chính thành một góc lớn.
Số lượng cành quả thường từ 15 - 30 cành.
- Lá: gồm hai loại: lá mầm và lá thật. Lá mầm có hình dạng giống vỏ sò nên
còn gọi là lá sò. Sau khi lá sò xòe một thời gian thì lá thật xuất hiện. Thời gian này tùy
thuộc giống và ñiều kiện canh tác. Những lá thật ñầu tiên có hình tim không có khía.
Thường lá thật thứ 5, 6 trở ñi mới có khía, mỗi lá có 2, 4, 6 khía chia phiến lá ra làm 3,
5, 7 thùy. Hình dạng lá tùy thuộc vào giống. Các lá trên thân chính có kích thước lớn
hơn các lá ở cành. Các lá ở phần gốc lớn hơn các lá ở phần ngọn. Lá có nhiều hạch
Gossypol và nhiều lông. Lông ở mặt dưới nhiều hơn lông ở mặt trên và ở gân lá nhiều
14 hơn phiến lá. Lá của bông Luồi (Gossypium hirsutum. L) thường có lông, còn ở Bông
Hải ñảo (Gossypium barbadense) ít hoặc không có lông. Mặt trái của gân chính cách
cuống lá 1/5 có tuyến mật. Một số giống bông có tuyến mật nằm trên gân phụ, một số
giống khác hoàn toàn không có.
- Nụ, hoa: Nụ bông ñầu tiên xuất hiện trên cành quả thứ nhất. Nụ có hình tam
giác cân, với 3 mặt có 3 tai nụ (lá bắc) che các bộ phận bên trong, còn phía trong nụ
là mầm hoa nhỏ. Mặt dưới nụ dính với cuống. Hoa thuộc loại hoa lưỡng tính, tự thụ
khi nở hoa (thời kỳ ñậu quả). Thời gian này, cây bông chuyển từ sinh trưởng dinh
dưỡng sang sinh trưởng sinh thực. Diện tích lá ñược duy trì ở mức khá cao khoảng
30 ngày (LAI ổn ñịnh ở mức trên dưới 3), sau ñó giảm dần và ñến khi quả nở, LAI
ñạt gần 1,5 [3].
Sự phân bố quả trên cây bông phụ thuộc vào giống và ñiều kiện canh tác,
nhưng nhìn chung tỷ lệ ñậu quả giảm dần theo thứ tự cành quả từ gốc lên ngọn.
Tỷ lệ ñậu quả của cành thứ nhất là 70% và của cành thứ 13 giảm xuống còn 10-
20% (Saimaneerat A. và ctv, 1994) [33]; Chu Hữu Huy và cs (1991) cho rằng: nụ
và quả thuộc cành quả phía ngọn rụng nhiều hơn nụ và quả thuộc cành quả phía
dưới. Trên cành quả, những vị trí xa thân chính rụng nụ, rụng quả cao hơn những
vị trí gần thân chính. Tuy nhiên, ở ruộng bông ñất tốt, nếu chăm sóc không thích
hợp, cây bông bốc lá thì thấy tình trạng ngược lại (ở cành quả phía giữa và phía
dưới rụng nhiều hơn) [12].
Nghiên cứu về sự phân bố quả trên cây bông, Đinh Quang Tuyến (2004)
[27] kết luận: các giống bông Luồi có số quả tập trung chủ yếu trên cành quả,
phân bố theo quy luật giảm dần từ gốc ñến ngọn và tập trung ở các vị trí thứ nhất
và thứ hai của 13 cành quả ñầu tiên. Số lượng quả ñã ñậu trên cây càng tăng càng
làm giảm tỷ lệ ñậu quả của những hoa nở tiếp theo trong ngày. Đồng thời, số
lượng quả ñã ñậu trên cây là nhân tố chính hạn chế tỷ lệ ñậu quả diễn ra hàng
ngày của cây bông (Vũ Xuân Long, 1999) [15].
1.3.3 Yêu cầu sinh thái
* Yêu cầu về khí hậu
- Nhiệt ñộ: Bông là cây ưa nóng, nhiệt ñộ thích hợp cho cây bông sinh
trưởng khoảng 25 - 30
0
C. Tùy theo thời kỳ sinh trưởng, phát triển mà yêu cầu
về nhiệt ñộ khác nhau. Nhiệt ñộ quá cao hoặc quá thấp ñều ảnh hưởng không tốt
ñến sinh trưởng của cây bông. Nhiệt ñộ lớp ñất mặt từ 2 - 4
0
C trong vài giờ làm
- Ánh sáng: Bông là cây ưa ánh sáng mạnh, chịu bóng kém, ñồng thời là
cây ngày ngắn. Trong một ngày, lá của cây bông luôn thay ñổi vị trí ñể cho phiến
lá luôn vuông góc với các tia chiếu của mặt trời. Khi ánh sáng không ñầy ñủ,
quang hợp sẽ giảm và protein sẽ nhiều hơn gluxit. Do ñó, chất dinh dưỡng không
ñủ ñể hình thành nụ, quả làm cho sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
mất cân ñối, cây bông dễ bị lốp gây rụng nụ, rụng ñài nhiều. Ngược lại, trong ñiều
kiện ánh sáng ñầy ñủ, cây bông sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt. Cường ñộ ánh
sáng cao sẽ ñẩy nhanh sự phân hóa các cơ quan sinh sản, tăng cường quang hợp,
phát triển của nụ, hoa, lá và các cơ quan khác (Krugiulin, 1988).
- Nước: Cây bông có ñặc tính chịu hạn khá cao nhờ có bộ rễ phát triển và ăn
sâu. Tuy nhiên, ñể sinh trưởng và phát triển bình thường, cho năng suất và phẩm
chất tốt cây bông ñòi hỏi phải có chế ñộ nước thích hợp.
Bông Luồi chịu hạn tốt hơn bông Cỏ. Nhu cầu nước của cây bông thay ñổi rất
lớn tùy theo giai ñoạn sinh trưởng, phát triển. Ở giai ñoạn cây con, cây bông cần ít nước
(10 - 12 m
3
nước/ngày/ha), ở giai ñoạn nụ, hoa cây bông cần nhiều nước cho sự tổng
hợp, tích lũy dinh dưỡng và bốc hơi (giai ñoạn nụ cần 30 - 35 m
3
nước/ngày/ha, giai
17 ñoạn hoa 90 - 100 m
3
nước/ngày/ha). Ở giai ñoạn nở quả, nhu cầu về nước của cây
bông giảm xuống (30 - 40 m
3
nước/ngày/ha). Cả vụ của cây bông cần 5.000 - 8.000 m
kiện/ha thì lượng dinh dưỡng lấy ñi là: 125 kg N; 50 kg P
2
O
5
; 52 kg K
2
O; 22 kg
MgO và 13 kg CaO/ha (Lê Công Nông, 1998) [20].
Vai trò của một số nguyên tố ñối với cây bông như sau:
- Nitơ (N): là chất cây bông cần ñể sinh trưởng và phát dục, là thành phần
cấu tạo nên protein, acid nucleic, diệp lục tố, các loại men và các loại sinh tố
18 Không có nguyên tố N thì không thể hình thành protein và không có protein thì
không có sự sống. Do ñó, ảnh hưởng của N tới sinh trưởng và phát dục của cây
bông hết sức to lớn. Cung cấp phân ñạm ñầy ñủ có thể tăng diện tích lá, hàm lượng
protein, diệp lục và các hoạt ñộng sinh lý khác cũng tăng lên, góp phần làm tăng
năng suất, tăng chiều dài xơ, hàm lượng protein và dầu trong hạt. Trong từng giai
ñoạn sinh trưởng cây bông hút N theo tỷ lệ khác nhau:
+ Giai ñoạn từ gieo ñến hình thành cây con: 4,4% tổng lượng N.
+ Giai ñoạn cây con ñến bắt ñầu ra nụ: 12,8% tổng lượng N.
+ Giai ñoạn ra nụ ñến bắt ñầu hình thành quả: 43,3% tổng lượng N.
+ Giai ñoạn hình thành quả ñến khi chín: 39,5% tổng lượng N.
Thiếu N ảnh hưởng xấu ñến cấu trúc của lục lạp cũng như những hoạt ñộng
của nó: Sự phá hũy hoặc không hình thành Thylacoit, hàm lượng diệp lục giảm,
hàm lượng và hoạt tính của RuDP- cacboxylaza giảm (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn
Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 2000) [25]. Khi thiếu N cây bông sinh trưởng
chậm, cây thấp, phiến lá nhỏ, màu nhạt, rụng ñài nhiều, tàn lụi sớm, quả bé và nhẹ,
khoảng 45kg P
2
O
5
và chia cho từng giai ñoạn sinh trưởng của cây bông như sau:
+ Giai ñoạn gieo ñến cây con: 12,5%.
+ Giai ñoạn cây con ñến ra nụ: 17,8%.
+ Giai ñoạn ra nụ hoa ñến trái lớn: 13,4%.
+ Giai ñoạn trái lớn ñến trái chín: 56,3%.
Nếu bông có tưới với năng suất ñạt trên 40 tạ/ha hấp thu lên ñến 80 kg
P
2
O
5
/ha. Cứ mỗi kiện bông xơ cần bón khoảng 24 - 25 kg P
2
O
5
.
- Kali (K): Kali là nguyên tố có số lượng lớn nhất trong các nguyên tố vô
cơ có mặt trong cây bông. Trong cây bông, kali chủ yếu phân bố ở các tổ chức có
trao ñổi vật chất mãnh liệt. Kali hoạt hóa hơn 60 loại men trong cơ thể sinh vật và
xúc tiến các hoạt ñộng trao ñổi chất như: quá trình chuyển hóa ñường, xúc tiến
quá trình quang hợp, xúc tiến sự hình thành protein, tổng hợp các hydrat cacbon
và vận chuyển chúng, xúc tiến quá trình tổng hợp xelluoza.
Việc hạ thấp hàm lượng kali trong mô từ 0,2 - 0,6% (khối lượng khô) làm
giảm cường ñộ quang hợp và rối loạn tất cả các quá trình khác, dẫn ñến ức chế
sinh trưởng, phá hủy trao ñổi P, ức chế tổng hợp sắc tố, tinh bột, tích lũy
monosaccarit và acid amin trong lá (Hoàng Minh Tấn và ctv, 1996) [25].
Khi thiếu kali, lá mất màu xanh lục, sau ñó chuyển sang vàng, ngọn lá và rìa
40
0
C hạt gần như không nảy mầm. Trong ñiều kiện nhiệt ñộ 55 - 60
0
C kết hợp với
ẩm ñộ ñất cao hạt sẽ chết. Độ ẩm ñất thích hợp cho sự nảy mầm của hạt là 90% ñộ
giữ ẩm của ñất. Ngoài ra, ñất gieo hạt phải thoáng, ñủ oxy.
- Giai ñoạn cây con (từ khi xòe hai lá mầm ñến khi có nụ): Giai ñoạn này
thường kéo dài 24 - 36 ngày. Điều kiện tối thích ở giai ñoạn này là nhiệt ñộ ñất trên
20
0
C, nhiệt ñộ không khí 25 - 30
0
C và ñất ñủ ẩm, thoáng, không ñược bão hòa nước.
Sau khi lá mầm xòe một thời gian, mầm ngọn xuất hiện và ra lá thật ñầu tiên, nếu
gặp nhiệt ñộ thích hợp thì giai ñoạn này kéo dài 5 - 6 ngày, nếu gặp trời lạnh (nhiệt
ñộ < 15
0
C) có thể kéo dài 15 - 16 ngày và sau ñó cứ 2 - 6 ngày ra 1 lá thật tùy ñiều
kiện nhiệt ñộ. Ở giai ñoạn này, rễ bắt ñầu hút dinh dưỡng, lá (gồm cả lá mầm) quang
hợp mạnh dần, sự trao ñổi chất trong tế bào tăng cường. Đây là giai ñoạn rễ ñược
phát triển ưu tiên trong khi thân phát triển chậm. Cuối giai ñoạn này thân, cành và lá
mới bắt ñầu phát triển.
21 - Giai ñoạn nụ (từ khi ra nụ ñầu tiên ñến khi ra hoa ñầu tiên): Giai ñoạn nụ
kéo dài 20 - 25 ngày. Khi có 2 - 3 lá thật, mầm hoa ñã phân hóa và khi có 4 - 8 lá
thật cây bông xuất hiện nụ ñầu tiên. Cây bông cùng một lúc vừa ra cành lá, vừa ra
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây Bông: Sử dụng giống bông lai kháng sâu VN04-3, do Viện nghiên cứu
Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố lai tạo. Giống bông này thuộc nhóm có
thời gian sinh trưởng trung bình, ra hoa và ñậu quả tập trung, dạng cây khỏe, có
khả năng kháng sâu xanh, kháng rầy trung bình khá.
- Cây ngô: Giống ngô lai Bioseed 9698.
- Cây lạc: Giống lạc Xù.
- Cây ñậu tương: Giống ñậu tương Hoa trắng.
2.2 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
- Thời gian: Vụ mưa năm 2009 và 2010.
- Địa ñiểm: Huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
* Vài nét về khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí ñịa lý
Cư Jút là một huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Đắk Nông, cách thị xã Gia
Nghĩa khoảng 120 km theo quốc lộ 14, cách thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk
Lắk theo quốc lộ 14 về phía Nam 20 km, có ñịa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp thành phố Buôn Ma Thuột và huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
- Phía Nam giáp Đắk Mil và một phần huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Phía Đông giáp huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
- Phía Tây giáp Vương quốc Cam Pu Chia.
Huyện Cư Jút có 8 ñơn vị hành chính là: Xã Tâm Thắng, Trúc sơn, Nam
Dong, Eapô, Đắk Wil, Đắk Rông, Cư Knia và thị trấn Ea Tling.
Với vị trí gần các trung tâm kinh tế lớn, nằm trên tuyến giao thông chủ
chốt, thuận lợi cho huyện Cư Jút có ñiều kiện tiếp thu và chuyển giao khoa học
23
Chế ñộ gió: Hướng gió chủ yếu vào mùa mưa là hướng Tây với tốc ñộ gió
trung bình 10 m/s, tốc ñộ lớn nhất 12 m/s. Gió Đông thổi vào mùa khô với tốc ñộ
trung bình 9 m/s, tốc ñộ lớn nhất là 15 m/s.