nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung enzyme đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm (acipenser baeri) giai đoạn thương phẩm - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI LƯU CÔNG CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÓ BỔ SUNG
ENZYME ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ
TẦM (ACIPENSER BAERI) GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÓ BỔ SUNG
ENZYME ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ
TẦM (ACIPENSER BAERI) GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG GHIỆP Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Mã số: 60.62.70

Người hướng dẫn: TS. TRẦN THỊ NẮNG THU

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS. Trần Thị
Nắng Thu, người thầy đầy tâm huyết đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS.Trần Đình Luân, TS. Nguyễn Văn
Tiến, Ths.Nguyễn Thị Trang, KS Đỗ Hữu Quỳnh những người đã giúp tôi thực
hiện tốt luận văn khoa học này.
Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ, công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu
Thủy sản nước lạnh SaPa – Lào Cai, phòng Sinh học Thực nghiệm thuộc Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Viện Công nghệ thực phẩm và thành viên
Công ty Cổ phần Hợp Lực đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận
văn này.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này tôi đã được người
thân, bạn bè, đồng nghiệp động viên, giúp đỡ tận tình. Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất đến họ.
Chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
Tác giả Lưu Công Cường
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… v

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH vii

3.2.4. Trang thiết bị dụng cụ 20
3.3. Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1. Sản xuất thức ăn thí nghiệm 21
3.3.2. Bố trí thí nghiệm 22
3.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu trong nghiên cứu 23
3.4.1. Phân tích hàm lượng dinh dưỡng 23
3.4.2. Kiểm tra các chỉ tiêu sinh trưởng 23
3.4.3. Kiểm tra một số chỉ tiêu môi trường hàng ngày 25
3.4.4. Phân tích thống kê 25
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Điều kiện môi trường 26
4.1.1. Nhiệt độ 26
4.1.2. Oxy hòa tan 27
4.1.3. Các yếu tố môi trường khác 27
4.2. Phân tích chất lượng thức ăn 28
4.2.1. Kích cỡ viên thức ăn 28
4.2.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn 28
4.2.3. Hoạt lực của enzyme trong thức ăn thí nghiệm 28
4.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Tầm
thí nghiệm 29
4.3.1. Tốc độ tăng trưởng giữa các công thức thí nghiệm 29
4.3.2. Thu nhận thức ăn, hệ số chuyển đổi thức ăn 32
4.3.3. Tỷ lệ sống của cá Tầm thí nghiệm 34
4.3.4. Sơ bộ đánh giá chi phí thức ăn 34
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
5.1. Kết luận 36
5.2. Kiến nghị 36
PHẦN VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHẦN VII. PHỤ LỤC 41
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp …………………

Bảng 12. Tỷ lệ sống của các lô thí nghiệm 34
Bảng 13. Bảng phân tích chi phí thức ăn cho 1 kg cá tăng trọng 35

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… ixDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ tiếng Anh
ADG Tăng trưởng bình quân trên ngày Average daily growth
FC Sự thu nhận thức ăn Feed consumption
FCR Hệ số chuyển đổi thức ăn Feed conversion ratio
PER Hiệu quả sử dụng protein Protein efficiency ratio
TA Thức ăn
SGR Tốc độ tăng trưởng đặc trưng Specific growth rate
VCK Vật chất khô
SR Tỷ lệ sống Survival rate
ANOVA Phân tích phương sai
DO Oxy hòa tan
oxygen Demand
KL Khối lượng
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
BW Trọng lượng thân của cá Body weight
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp …………………

và thức ăn cho cá Tầm nói riêng sẽ giúp cá tiêu hóa tối đa dinh dưỡng trong thức
ăn (cung cấp các enzyme tiêu hóa còn thiếu hụt, bổ sung thêm hệ enzyme cho
ống tiêu hóa của cá), đảm bảo an toàn môi trường (giảm lượng thức ăn khó tiêu
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 2

hóa thải ra môi trường), nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng cá (giảm FCR,
tăng sinh trưởng, đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm).
Hiện nay, việc sản xuất các loại Enzyme để bổ sung vào thức ăn chăn
nuôi đã và đang phát triển mạnh mẽ trên quy mô công nghiệp. Do vậy, sử dụng
sản phẩm này để xây dựng công thức thức ăn cho cá Tầm là hướng đi thích hợp.
Nhằm đánh giá được hiệu quả của việc bổ sung enzyme vào thức ăn cho
cá Tầm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn
có bổ sung enzyme đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Tầm (Acipenser baeri)
giai đoạn thương phẩm”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung:
Góp phần chủ động sản xuất thức ăn sử dụng trong nuôi cá nước lạnh phù
hợp với điều kiện ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá được ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme lên tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của cá Tầm thương phẩm.
Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc bổ sung enzyme trong nuôi
cá Tầm.
1.3. Nội dung của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của bổ sung enzyme vào thức ăn lên tăng trưởng, tỷ
lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tầm giai đoạn thương phẩm.
- Sơ bộ hoạch toán chi phí thức ăn cho 1kg cá tăng trọng.
4

xuân từ tháng 2-4 với nhiệt độ nước thích hợp 13-16°C và giới hạn cho phép từ
11-18°C.
2.1.2. Một số yếu tố môi trường trong nuôi cá Tầm
Cá Tầm có thể nuôi với mật độ cao, tuy nhiên cá càng lớn thì diện tích và
độ sâu càng tăng. Đối với cá nuôi thương phẩm: Diện tích khoảng 120-150 m
2
,
độ sâu 1,2-1,5 m, cường độ chiếu sáng thấp, có nước chảy lưu thông. Trong quá
trình sống, cá cần có lượng oxy hoà tan tối thiểu là 3 mg/l, tốt nhất là >6mg/l.
Độ trong yêu cầu >50 cm.
Theo kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của Trung tâm sản xuất
giống và công nghệ nuôi cá Tầm thuộc Viện hàn lâm nghề cá Trung Quốc ở Bắc
Kinh thì cá Tầm có thể chịu được nhiệt độ trong khoảng 0-30
0
C, sinh trưởng tốt
nhất trong khoảng 18-26
0
C. Ở nhiệt độ trên 30
0
C thì cá sẽ bỏ ăn, nếu kéo dài
thời gian ở nhiệt độ này thì cá sẽ chết.
Một số chỉ tiêu về chất lượng môi trường nước nuôi cá Tầm theo khuyến
cáo của hãng Coppens International (Bảng 1).
Bảng 1: Một số chỉ tiêu về chất lượng môi trường nước nuôi cá Tầm
Tên chỉ tiêu Hàm lượng yêu cầu
Độ kiềm 100-400 mg/l

2.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của cá Tầm
2.1.3.1. Nhu cầu protein
Hung (1991), Médale và ctv (1995) cho biết trong giai đoạn nuôi cá
thương phẩm, nhu cầu protein khoảng 40% là thích hợp nhất để cá sinh trưởng
và phát triển. Médale và ctv (1995) cho rằng nhu cầu protein của cá Tầm cần
300g protein cho 1kg tăng trọng. Khối lượng cá tăng trưởng với tỷ lệ giữa
protein và năng lượng là 20-22 mg/KJ. Nghiên cứu của Hassani và ctv, (2011)
trên cá Tầm Acipencer persicus cỡ 10g cho thấy chế độ ăn có chứa 40% protein
và 20,1-25,9% lipid với tỷ lệ protein và năng lượng là 17,86mg/kJ đáp ứng được
nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cá và không có tác động bất lợi về thành
phần sinh hoá của cơ thể.
2.1.3.2. Nhu cầu lipid
Khi nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá Tầm trắng (White sturgeon)
đối với cỡ cá 100g thì cá Tầm sinh trưởng tốt và hiệu quả sử dụng thức ăn cao ở
các nghiệm thức 25,8% và nghiệm thức 35,7% lipid (Hung và ctv,1997). Médale
và ctv (1991) khi nghiên cứu về khả năng tiêu hóa lipid ở cá Tầm Siberian thì hệ
số tiêu hóa thực của cá Tầm đối với thức ăn có hàm lượng lipid 22% với tinh bột
thô kém hơn so với thức ăn có hàm lượng lipid 12,5% với tinh bột chín.
2.1.3.3. Nhu cầu Carbonhydrate
Cá Tầm Siberian kích cỡ 90-150g không có khả năng tiêu hóa tinh bột thô
và chỉ khi tinh bột này được chín hoàn toàn mới cải thiện về tốc độ sinh trưởng
(Kaushik và ctv, 1989).
D-glucose thích hợp cho cá Tầm trắng khoảng 21% và ở cá Tầm Siberian
có thể sử dụng lipogensis và glycogensis cao hơn từ 21-35% nhưng khả năng
tiêu hóa D-glucose thấp hơn khoảng 0-14% (Fyn-Aikins và ctv, 1992).
2.1.3.4. Nhu cầu Vitamin và khoáng chất
Hiện chưa có nhiều nghiên cứu về nhu cầu vitamin và khoáng chất của cá
Tầm. Các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở 3 loại vitamin: Choline, vitamin C và
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp …………………


Ghi chú: (*) nguồn Kaushik và ctv (1991)
(**) nguồn Hung, 1995
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 7

2.1.3.6. Thức ăn và khẩu phần ăn của cá Tầm
Hầu hết các công trình nghiên cứu thức ăn cho cá Tầm tập trung giải
quyết thức ăn cho giai đoạn cá hương và cá giống. Khi nghiên cứu về thức ăn
cho cá Tầm giống (72 g/con), Hung và ctv (1998) đã sử dụng thức ăn có các chỉ
tiêu dinh dưỡng (31,5-51,4% protein, 7,6-19,4% lipid, 3,8-11,7% chất khoáng,
5,9-8,3% độ ẩm). Kết quả cho thấy, cá Tầm sinh trưởng và hiệu quả sử dụng
thức ăn tốt nhất khi cho ăn thức ăn có thành phần dinh dưỡng 4,5% độ ẩm,
51,4% protein, 18% lipid và 11,7% khoáng. Tác giả cũng cho biết khi bổ sung
thêm một số Enzyme: 0,03% phytase, 0,05 deodorase hoặc 0,33% carnitine thì
không cải thiện về sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Tầm.
Thức ăn sản xuất trong nước
Thức ăn sản xuất ở trong nước mới chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ so với
nhu cầu sử dụng thức ăn cho cá Tầm hiện nay tại nước ta. Ở khu vực miền Bắc,
Trung tâm nghiên cứu và sản xuất thức ăn thủy sản thuộc Viện nghiên cứu Nuôi
trồng Thủy sản 1 đã bước đầu sản xuất thức ăn cho cá Tầm và đưa ra thị trường.
Tuy nhiên lượng thức ăn cung cấp vẫn còn rất hạn chế. Nguyên nhân do chất
lượng thức ăn không ổn định, FCR còn cao nên chưa thuyết phục được người
nuôi. Ở miền Nam, Cty TNHH Ngọc Long (NAFASTCO) cũng đã bước đầu
nghiên cứu sản xuất và đưa ra thị trường thức ăn cho cá Tầm. Tuy nhiên, sản
lượng cung cấp ra thị trường vẫn còn rất hạn chế nguyên nhân do lĩnh vực hoạt
động của công ty chủ yếu là thức ăn cho các đối tượng nuôi truyền thống và chất
lượng thức ăn chưa thật sự tốt để thuyết phục người nuôi.
Thức ăn nhập khẩu

gia sản xuất lớn như Ý, Pháp, Tây Ba Nha.
Cá Tầm không những có giá trị dinh dưỡng mà còn có giá trị kinh tế cao.
Năm 2000, ở Mỹ có khoảng 600 tấn cá Tầm được chế biến và bán, tỷ lệ sơ chế
của cá đạt 70% và phi lê đạt 30% (Chebanov và Billard, 2001).
2.2.4.2. Tình hình nuôi cá Tầm ở Việt Nam
Năm 2005, Viện nghiên cứu và nuôi trồng thuỷ sản I đã nhập giống cá
Tầm về nuôi tại Việt Nam. Kết quả, cá Tầm Siberia là loài thích hợp nhất với
điều kiện nuôi ở nước ta, trong thời gian hơn 6 tháng ương nuôi (kể từ cá bột),
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 9

cá đạt kích cỡ trung bình 300-400 g/con và được đánh giá là có khả năng thích
nghi tốt và tăng trưởng nhanh.
Hiện nay, cá Tầm đang được nhân rộng ra các vùng có điều kiện thích
hợp: Nuôi cá Tầm trong lồng tại hồ chứa Thác Bà, Đà Lạt Điều này đã cho
thấy nghề nuôi cá Tầm đang dần phát triển ở nước ta.
2.2. Tổng quan về Enzyme
2.2.1. Khái niệm về enzyme
Enzyme là những chất xúc tác sinh học, có thể là protein hoặc acid
nucleic, có tác dụng làm tăng nhanh tốc độ của các phản ứng hóa sinh vì chúng
làm giảm năng lượng hoạt hóa của phản ứng. Enzyme có đầy đủ tính chất của
chất xúc tác, ngoài ra còn có những tính chất ưu việt hơn so với các chất xúc tác
khác: Hiệu suất cao trong điều kiện nhiệt độ và áp suất bình thường, có tính đặc
hiệu cao. Các tính chất này vẫn được giữ nguyên khi tách enzyme ra khỏi hệ
thống sống và hoạt động trong điều kiện invitro (trong ống nghiệm). Vì vậy mà
enzyme càng được sử dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất và nhiều ngành công
nghiệp.
2.2.2. Những lợi ích của enzyme khi sử dụng trong thức ăn nuôi trồng thủy

khác, khi phối trộn các nguyên liệu thức ăn, axit phytic trong các nguồn protein
thực vật sẽ kết hợp với các nguyên tố khoáng kim loại tạo thành các phức chất
mà động vật thủy sản không thể tiêu hóa được, gây thiếu hụt khoáng trong thức
ăn. Trong hệ tiêu hóa của cá không có phytase, bổ sung phytase vào thức ăn vật
nuôi có thể làm giảm nhu cầu cung cấp P vô cơ và giảm thấp sự bài tiết P vào
trong phân, từ đó hạn chế được ô nhiễm P vào trong đất và nước ngầm.
Ngày nay để phát triển bền vững và thân thiện với môi trường, ngành nuôi
trồng thủy sản sử dụng các nguồn protein thực vật khác nhau như bột đậu tương
và dầu hạt cải thay thế bột cá. Tuy nhiên, một trong những vấn đề chính liên
quan đến việc sử dụng protein thực vật trong khẩu phần ăn của cá là sự hiện diện
của yếu tố kháng dinh dưỡng như phytase (myo-inositol-1,2,3,4,5,6 -
hexakisphosphates), lượng phốt pho có mặt dưới dạng phytate chiếm 80% tổng
số và động vật thủy sản cũng như các loài động vật dạ dày đơn không có sẵn
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 11

enzyme phytase trong đường tiêu hóa để thủy phân phytate trong ruột (Jackson
và ctv., 1996) vì vậy hầu hết các phốt pho dưới dạng phytate được bài tiết vào
trong nước và gây ô nhiễm môi trường (Liebert và Portz, 2005). Bên cạnh đó sự
hấp thu các khoáng chất như kẽm, canxi, magie, sắt cũng bị ảnh hưởng tiêu cực
bởi sự hình thành các phức chất với phytate không hòa tan (Papatryphon và ctv.,
1999). Phytate cũng có thể kết hợp với protein và vitamin tạo thành phức hợp
không hòa tan để giảm hiệu quả sử dụng và tiêu hóa (Liu và ctv., 1998; Sugiura
và ctv., 2001). Ngoài ra một số nghiên cứu invitro đã chỉ ra rằng phytate-protein
phức hợp ít bị tấn công bởi enzyme thủy phân protein (Ravindranvà ctv., 1995).
Thậm chí một số enzyme như pepsin, amylopsin và amylase còn bị ức chế bởi
phytate. Hơn nữa, phytate cũng có thể ảnh hưởng lên tỷ lệ tiêu hóa của lipid và
tinh bột (Cosgrove, 1966). Một số báo cáo đã chỉ ra rằng sự tăng trưởng và hiệu

tương cùng 0, 500, 1000, 2000 và 4000 IU phytase/kg thức ăn. Thử nghiệm thứ
hai phytase được bổ sung với mức 0 và 2000 IU/kg thức ăn thương mại chứa
36% bột đậu tương. Kết quả cho thấy bổ sung phytase đã làm giảm lượng acid
phytic trong phân từ 35mg còn 5mg trong thử nghiệm thứ nhất và 34mg còn
14mg trong thử nghiệm thứ hai. Độ tiêu hóa phốt pho trong thức ăn bổ sung
phytase tăng từ 23% lên 83% trong thử nghiệm một và từ 35% lên 54% trong
thử nghiệm hai.
Sugiura và ctv., 2001, đã tiến hành đánh giá tác dụng của enzyme phytase
đến sự hấp thu các chất dinh dưỡng của cá hồi vân. Kết quả cho thấy việc bổ
sung phytase đã làm tăng sự hấp thu của phốt pho, nitơ (protein), tro, canxi,
đồng, kẽm, magie, stronti và sắt trong khẩu phần ăn chứa bột đậu tương nhưng
ít tro, nhưng lại không có tác động đến khả năng tiêu hoá các chất trên trong
khẩu phần ăn chứa bột đậu tương và bột cá với hàm lượng tro cao trong khẩu
phần. Trong khẩu phần ăn ít tro, sự hấp thu phốt pho tăng từ 27% (không bổ
sung phytase) lên 90% (bổ sung 4000 IUphytase/kg thức ăn) và 93% (khô đậu
tương đã được sử lý trước bằng phytase với liều lượng 2000 IU/kg khô đậu
tương). Trong khẩu phần ăn với hàm lượng tro cao, việc bổ sung acid citric đã
làm giảm hiệu quả của phytase, trong khi đó khẩu phần ăn ít tro thì việc bổ sung
acid citric đã làm tăng đáng kể hoạt động của enzyme. Sự bài tiết phốt pho trong
phân của cá hồi ở chế độ ăn ít tro có chứa bột đậu tương được xử lý trước bằng
phytase là 0,32g/kg thức ăn tiêu thụ, giảm 95-98% so với lượng phốt pho trong
phân của cá hồi vân sử dụng thức ăn thương mại.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 13

Theo những dạng khác nhau của phytase, sản phẩm này được chia thành 4
kiểu với các khả năng hoạt động khác nhau, thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3. Các dạng phytase và hoạt lực enzyme phytase

O
C. Ngược lại khi có
mặt của CaCl
2
nó có thể bền với nhiệt lên tới 90
O
C, sau 10 phút enzyme mất đi
khoảng 50% hoạt tính. Nghiên cứu này chỉ ra rằng ion Ca
2+
có khả năng giúp
phytase ổn định chống chịu với nhiệt độ cao (Kim và ctv, 1998).
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 14

Người ta dự tính, nếu phytase được sử dụng cho ngành chăn nuôi động
vật dạ dày đơn ở Mỹ thì enzyme này sẽ giải phóng lượng phosphate có trong
thức ăn với giá trị tương được 168 triệu USD và tránh được 8,23x10
4
tấn
phosphate dư thừa thải ra môi trường hàng năm. Việc bổ sung phytase vào thức
ăn đã được 22 quốc gia thực hiện. Enzyme Finase® phytase đã bổ sung ngô và
đậu tương vào thức ăn chăn nuôi lợn và thủy sản. Điều này đã giúp cải thiện 1/3
lượng phosphate khó tiêu trong thức ăn thành lượng P dễ tiêu (Cromwell và ctv,
1995). Một số thí nghiệm khác cũng đã chứng minh rằng có thể thay thế
phosphate vô cơ bằng bổ sung phytase từ vi sinh vật vào thành phần thức ăn cho
động vật, làm giảm từ 30-40% lượng phosphate thải qua phân ra môi trường
(Jongbloed và ctv, 1992).
Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đã hoàn thiện công

protease tốt nhất trong môi trường bazo cao và kém trong môi trường acid mạnh.
Ở mức pH từ 8,5-10 hoạt động của protease đạt trên 14 IU/mg protein, trong khi
đó ở mức pH từ 1,5-3 thì hoạt động của protease chỉ ở mức 0,45-0,61 IU/mg
protein.
Drewa và ctv., 2005 đã tiến hành nghiên cứu bổ sung protease trong khẩu
phần ăn chứa hỗn hợp bột lanh viên với bột đậu (F:P) và hỗn hợp dầu cải với bột
đậu (C:P) trong sản xuất thức ăn cho cá hồi vân giai đoạn thương phẩm. Trong
thí nghiệm thứ nhất tác giả đã sử dụng 30% F:P và C:P trong khẩu phần ăn cho
mỗi công thức và có bổ sung hoặc không bổ sung protease với liều lượng 0,25‰
cho mỗi công thức để đánh giá khả năng tiêu hoá dinh dưỡng của cá hồi. Kết
quả cho thấy việc bổ sung enzyme vào trong khẩu phần ăn chứa F:P đã không
cải thiện được khả năng tiêu hoá thực protein thô, thậm chí còn giảm đi so với
khẩu phần không bổ sung (0,849-không bổ sung và 0,836-có bổ sung); khả năng
tiêu hoá thực năng lượng, chất khô và ete chiết suất cũng không có sự sai khác
giữa khẩu phần ăn có bổ sung hay không bổ sung protease. Trong khẩu phần ăn
chứa C:P thì việc bổ sung protease đã giúp tăng khả năng tiêu hoá protein từ
0,76 lên 0,836; việc bổ sung protease cũng giúp cải thiện việc tiêu hoá chất khô,
năng lượng tổng và ete chiết suất và có sai khác có ý nghĩa so với khẩu phần ăn
không bổ sung protease. Trong thí nghiệm thứ hai tác giả đã sử dụng 24% F:P
và C:P trong khẩu phần ăn cho mỗi công thức và có bổ sung hoặc không bổ sung
protease với liều lượng 25‰ cho mỗi công thức để đánh giá khả năng sử dụng
thức ăn, khối lượng cá tăng lên, hệ số chuyển hoá thức ăn và tốc độ tăng trưởng
đặc trưng ngày cho cá hồi vân cỡ 190g. Thức ăn sản xuất với hàm lượng protein
là 42% và năng lượng tiêu hoá 19 MJ/kg. Kết quả thí nghiệm cho thấy bổ sung
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………… 16

enzyme protease trong khẩu phần ăn chứa F:P không thấy có sự khác biệt ở mức

C kéo dài trong 120 phút. Chi
(2007) xác định điều kiện nhiệt độ và pH cho tối ưu hóa hoạt tính của protease
kiềm trong môi trường cơ chất là nấm Aureobasiddium pullulans đã cho thấy
protease có hoạt tính cao nhất ở pH=9 và nhiệt độ 45
O
C.

Trích đoạn Tốc độ tăng trưởng giữa các công thức thí nghiệm Thu nhận thức ăn, hệ số chuyển đổi thức ăn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status