nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm cá chình (anguilla marmorata) tại hà nội (giai đoạn 40 đến 150g) - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG HỒNG MINH TUYẾT

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRONG NUÔI THƯƠNG PHẨM
CÁ CHÌNH (Anguilla marmorata) TẠI HÀ NỘI (GIAI ĐOẠN 40 ĐẾN 150G)
HỒNG MINH TUYẾT

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRONG NUÔI THƯƠNG PHẨM
CÁ CHÌNH (Anguilla marmorata) TẠI HÀ NỘI (GIAI ĐOẠN 40 ĐẾN 150G CHUN NGÀNH: NI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 60 62 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC


ii

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, xin bày tỏ lòng biết ơn đối với trường Đại học Nha Trang, Viện nghiên

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3

1.1. Đặc điểm sinh học của cá chình hoa 3

1.1.1. Hệ thống phân loại: 3

1.1.2. Đặc điểm hình thái 3

1.1.3. Đặc điểm sinh thái 4

1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng 5

1.1.6. Đặc điểm sinh sản 6


2.3.2. Chăm sóc và quản lý bể thí nghiệm 21

2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu 22

2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1. Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường 24

3.1.1. Nhiệt độ 24

3.1.2. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 24

3.1.3. pH 25

3.2. Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chình 25

3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống 25

3.2.2. Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá chình 26

3.2.3 Tỷ lệ sống của cá chình 27

3.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chình 28

3.3.1. Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng 28

3.3.2. Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá chình 29

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hình dạng ngoài cá chình hoa 3
Hình 1.2: Vòng đời của cá chình hoa (A. marmorata) 7
Hình 2.1: Cá chình nuôi trong quá trình thí nghiệm 18
Hình 2.2: Hệ thống bể thí nghiệm 19
Hình 2.3: Chế biến thức ăn trong quá trình thí nghiệm 20
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Hình 3.1: Khối lượng cá tăng lên qua các tháng nuôi 26
Hình 3.2: Tỷ lệ sống của cá khi kết thúc thí nghiệm 27
Hình 3.3: Khối lượng cá tăng lên qua các tháng nuôi 28
Hình 3.4: Tỷ lệ sống của cá khi kết thúc thí nghiệm 30
vii

MỞ ĐẦU

Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nội có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm
thủy sản (hàng năm tiêu thụ khoảng 25 - 30.000 tấn thủy sản). Với hơn 30 nghìn ha mặt
nước có khả năng nuôi trồng thủy sản trong đó có 6.700 ha ao hồ, 19.800 ha ruộng trũng
đã mở ra cho Hà Nội một tiềm năng lớn về diện tích để phát triển nuôi trồng thủy sản.
Trong những năm gần đây các đối tượng thủy đặc sản như cá trắm đen, cá lăng, cá chình
đã và đang được người nuôi quan tâm. Đặc biệt là cá chình với chất lượng thịt thơm ngon,
được nuôi khá phổ biến trên thế giới và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi.
Cá chình là loài cá dữ thiên về ăn động vật là chính, trong tự nhiên thức ăn của cá là
tôm, cá con, động vật đáy nhỏ và côn trùng thủy sinh. Các mô hình nuôi cá chình được
thực hiện tại Hà Nội cho kết quả chưa cao do việc kiểm soát môi trường chưa chặt chẽ,
thức ăn chưa được cung cấp đầy đủ Trong đó kỹ thuật nuôi có vai trò quyết định đến
năng suất và hiệu quả nuôi. Nghiên cứu để chọn ra mật độ nuôi và thức ăn phù hợp cho cá
chình là rất cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện quy trình nuôi cá chình theo hướng thâm
canh nhằm đưa lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao cũng như tạo ra các sản phẩm có chất
lượng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Với mục tiêu đó tôi tiến hành thực hiện đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống trong
nuôi thương phẩm cá chình (Anguilla marmorata) giai đoạn 40 đến 150g tại Hà Nội”.

Mục tiêu: Góp phần hoàn thiện quy trình nuôi thương phẩm cá chình hoa theo
hướng thâm canh
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định mật độ phù hợp để nuôi thâm canh cá chình hoa trong hệ thống tuần
hoàn giai đoạn từ 40g đến 150g.
2. Đánh giá khẳ năng sử dụng thức ăn tự chế trong quy trình nuôi thâm canh cá
chình hoa giai đoạn từ 40 đến 150g.
Nội dung:


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm sinh học của cá chình hoa
1.1.1. Hệ thống phân loại:

Hình 1.1: Hình dạng ngoài cá chình hoa
Lớp: Osteichthyes
Phân lớp: Acfinopterygill
Bộ: Angguilliformes
Phân bộ: Anguilloidei
Họ: Anguillidae
Giống: Anguilla
Loài: A. marmorata
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Thân dài, dạng rắn, phía sau dẹp bên. Chiều dài đầu lớn hơn khoảng cách từ khe
mang đến khởi điểm vây lưng; bằng, lớn hoặc nhỏ hơn một chút với khoảng cách giữa
khởi điểm vây lưng và khởi điểm vây hậu môn. Mõm nhọn, chiều dài mõm lớn hơn chiều
rộng của đáy miệng. Miệng khá rộng, rạch miệng kéo dài về phía sau tới qua viền sau của
mắt. Răng trên xương gian hàm và xương lá mía tạo một dải rộng ở phía trước, hẹp dần ở
phía sau và kết thúc bởi đuôi nhọn. Răng trên xương hàm trên có khoảng trống giữa hàng
phía trong và phía ngoài. Dải răng trên xương lá mía kết thúc trước dải răng trên xương

o
C lượng thức ăn vào từ 2 ÷ 2,8%, tại nhiệt độ 23 ÷ 28
o
C lượng thức ăn cá
sử dụng là 2,8 ÷ 3,2% và trên 28
o
C lượng thức ăn giảm xuống còn từ 2 ÷ 2,8% khối
lượng cơ thể (Ngô Trọng Lư, 2000).
Hàm lượng oxy hòa tan (DO): Trong thủy vực DO có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động của cá chình. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước yêu cầu phải trên 2mg/l, thích hợp
nhất cho cá sinh trưởng là 5mg/l. Các nghiên cứu về khả năng chịu đựng của cá chình đối
với hàm lượng oxy hòa tan là rất khác nhau. Theo Wantanabe (1989) khả năng chịu đựng
cực đại và cực tiểu của cá chình là 0,43mg/l và 11,2mg/l. Theo Inaba (1959) giá trị này là
0,06mg/l và 22,39mg/l. Theo Ikemoto giá trị cực tiểu và cực đại đối với hàm lượng DO là
0,74mg/l và 9,81mg/l, phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Nhìn chung, cá chình thích sống ở
các thủy vực nước chảy, độ trong và hàm lượng oxy hòa tan cao.

Độ pH: Trong tự nhiên cá chình có thể sống ở môi trường có giá trị pH từ 4 ÷ 10,
pH thích hợp từ 6,5 ÷ 8,5. Giá trị pH thích hợp nhất cho cá phát triển là từ 7,0 ÷ 8,0
(Boestius, 1980; dẫn theo Chu Văn Công, 2006)
5

Ở Trung Quốc yêu cầu kỹ thuật của ao nuôi cá chình có giá trị pH từ 7,2 ÷ 8,5, ở
Nhật Bản giá trị pH từ 7,0 ÷ 9,0; pH dưới 7,0 bất lợi cho sinh trưởng của cá chình
(Atsuishi Usui, 1991)
Ánh sáng: Cá chình là loài sống đáy, chui rúc trong hang đá, hốc cây, vùi mình
xuống bùn cát. Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng, ban ngày chúng tìm nơi có ánh sáng yếu để
ẩn nấp, ban đêm mới ra kiếm mồi.
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng


để đẻ trứng.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, kích thước của cá chình đực và cá chình cái
có sự sai khác khá lớn. Cá chình cái phát triển nhanh hơn nhiều so với cá chình đực, và cá
chình cái sống trong nước ngọt lâu hơn trước khi quay trở lại biển để đẻ (Moriarty, 1986;
Naismith & Knights, 1988; Baras và etv, 1996).
Thông thường các cái thành thục sinh dục khi kích thước cơ thể đạt từ 40 – 80cm và
sau 7 – 8 năm tuổi. Các chỉ tiêu đó đối với cá chình đực là < 40cm và tuổi trung bình là 6
tuổi (White & Knights, 1997). Cá cái khi chín muồi sinh dục có tỷ lệ mỡ trong cơ thể rất
lớn, chiếm khoảng 20,35% trọng lượng cơ thể, để cung cấp năng lượng cho sự di cư ra bãi
đẻ (Larsson và evt., 1990) (Knights B.White E., 1998).
Mùa vụ đẻ trứng của cá chình ở khu vực châu Á bắt đầu vào mùa xuân và kết thúc
vào giữa hè (Isao Matsui, 1979). Cả hai quá trình đẻ trứng và nở của cá chình phải thực
hiện ở vùng biển có độ sâu 400 – 500m, nhiệt độ nước 16 – 17
o
C và độ mặn trên 35‰
(Atsushi Usui,1991). Cá cái đẻ một lần trong năm. Một cá cái có thể đẻ từ 7-13 triệu trứng.
Trứng của cá chình thuộc loại trứng trôi nổi, có đường kính gần 1mm. Cá bột khi mới nở
ra bơi lên tầng trên từ từ cho đến khi cách mặt nước 30 cm thì chúng dừng lại và sống ở
đó (Isao Matsui,1979).
Cá con mới lớn có hình lá liễu, sau 1 năm mới trôi dạt vào cửa sông. Trải qua nhiều
biến thái hình thành cá chình hương màu trắng, cá ngược dòng sắc tố đen tăng dần thành
màu đen. Vòng đời của cá chình hoa được minh họa trong hình 2.

7

Trên thế giới, cá chình được coi là một món ăn bổ dưỡng, cao cấp. Các nước Tây Âu
và Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá chình mạnh nhất thế giới [1].
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nghề nuôi cá chình ở Nhật làm thức
dậy mối quan tâm của các nhóm, các cơ sở nuôi cá thâm canh ở các nước châu Âu, đặc
biệt là Ý, Đức, Pháp. Tuy nhiên, do những hạn chế về điều kiện khí hậu, nhiệt độ môi
trường thường quá thấp, nên diện tích và quy mô nuôi ở khu vực này còn phát triển rất
chậm. Từ Nhật Bản nghề nuôi cá chình đã lan rộng ra một số nước như Đài Loan, Hàn
Quốc, Trung Quốc. Đài Loan đã học nghề nuôi cá chình từ Nhật, nghiên cứu ứng dụng
lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1952. Sau đó nuôi cá chình thương phẩm quy mô
nhỏ đã được tổ chức thực hiện vào năm 1958. Nuôi cá chình trong các trang trại với quy
mô lớn được thực hiện vào năm 1964. Đến năm 1964 tổng diện tích nuôi cá chình của Đài
Loan xấp xỉ 3000 ha.
Trung Quốc nghề nuôi cá chình phát triển chậm hơn so với các nước khác trong khu
vực. Tuy nhiên, do nhu cầu của thị trường cũng như nguồn lợi về con giống rất lớn, nên cá
chình đã được chú ý nuôi rất mạnh. Các hình thức nuôi đã được nghiên cứu cải tiến cho
phù hợp với điều kiện thực tế của mình. Ban đầu, cũng như Đài Loan, Trung Quốc đã du
nhập kỹ thuật nuôi cá chình của Nhật vào nuôi thử nghiệm.
Vào những năm 80 – 90 của thập kỷ XX, Trung Quốc đã thành công kỹ thuật nuôi cá
chình trong ao đất, giúp cho nghề nuôi cá chình trong ao đất ở Trung Quốc phát triển
nhanh chóng, giảm giá thành và cạnh tranh được với Đài Loan.
Nuôi cá chình cũng được thực hiện ở Mỹ. Tuy nhiên do nhu cầu của người dân
không cao, nguồn lợi tự nhiên khá phong phú và ổn định nên số lượng các trang trại nuôi
cá chình ở Mỹ chỉ vào khoảng 50 trang trại. Kỹ thuật nuôi du nhập từ bên ngoài, đặc biệt
là Nhật.
Ở New Zealand, cá chình đang được nuôi thử nghiệm bởi nghề cá New Zealand và
trường đại học Victoria, bang Wellington. Mục đích chính của chương trình là làm thế nào để
khai thác ổn định một cách tối đa nguồn lợi, thúc đẩy nghề nuôi cá chình phát triển và nghiên
9

cứu thêm đặc điểm sinh học của các loài cá chình New Zealand. Hoạt động nuôi cá chình ở

Ở Nhật và Đài Loan thì cá chình Nhật (A. japonica) là loài được nuôi chính và tiếp
theo đó là cá chình Châu Âu (A. anguilla). Loài cá chình hoa (A. marmorata) tuy không
được phân bố nhiều ở Đài Loan nhưng do giá trị cao nên vẫn được nuôi với quy mô nhỏ ở
một số vùng [43].
Do hiện nay nuôi với mật độ quá lớn, thành phần thức ăn không đầy đủ chất dinh
dưỡng đã làm cho dịch bệnh tấn công nhiều. Quản lý dịch bệnh đã được các nhà khoa học
và người sản xuất quan tâm nhưng hiện nay vẫn chưa giải quyết được triệt để.
Việc kết hợp nuôi trồng thủy sản với trồng cây trong nước để sản xuất cá và cây
trong một hệ thống kín. Aquaponics được thiết lập và triển khai rất tốt, đặc biệt ở Hoa Kỳ
và tại Đại học Virgin Island (Croix, Hoa Kỳ, Đảo Virgin). Nuôi cá kết hợp với trồng rau
(Aquaponic) có thể trở thành một phần quan trọng trong quá trình sản xuất thực phẩm và
quá trình phát triển bền vững. Ở Hoa Kỳ và Austrailia, hệ thống aquaponic đang được áp
dụng trong các dự án nông nghiệp đô thị [8]. Việc triển khai Aquaponic trong quá trình
sản xuất thủy sản đã giúp cho người dân Austrailia phát triển nuôi cá thâm canh cao, đồng
thời qua việc dùng dễ cây để hấp thụ chất dinh dưỡng trong nước đã giúp cho việc giảm sử
dụng các hóa chất trong quá trình nuôi trồng thủy sản, tiết kiệm nguồn nước, có thêm
nguồn rau cho động vật hoặc con người có thể trực tiếp sử dụng.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cá chình được nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 30, nhưng các
công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc công bố thành phần loài, đặc điểm phân loại của
chúng. Năm 1934, Chevey đã nghiên cứu và công bố ở miền Trung Việt Nam có 2 loài cá
chình: A. elphinstonei và A. australis. Năm 1937, Chevey và Lemsson xác định ở vùng
Bắc Bộ có cá chình Nhật A .japonica. Mẫu cá được các ông thu về sông Hồng năm 1935
[54]. Tuy nhiên, hiện nay theo các kết quả điều tra cho thấy không còn bắt gặp loài này ở
sông Hồng nữa [5].
Năm 1974 Orsi đã xác định được 4 loài ở vùng biển Việt Nam: A. elphinstonei, A.
japonica, A. marmorata, A. bicolor pacifica. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu
Phụng, Nguyễn Nhật Thi (1994) trong Danh Mục Cá Biển Việt Nam xác định có 3 loài là:
A. japonica, A. marmorata, A. celebesensis. Võ Văn Phú, Lê Văn Miên (1997) đưa ra
trong danh sách khu hệ cá của đầm phá Thừa Thiên- Huế 2 loài A. bicolor pacifca và A.

Chu Văn Công làm chủ nhiệm. Kết quả nuôi trong ao đất với mật độ 2-4 con/m
2
, tỷ lệ
sống đạt 51-57%, năng suất 4,5 tấn/ha.

12

Năm 2001 người dân Phú Yên cũng đã tiến hành nuôi cá chình trong lồng trên sông,
thời kỳ cao điểm có trên 200 lồng. Đối tượng cá chình được nuôi gồm 2 loài là cá chình
bông (A.marmorata), cá chình mun (A. bicolor pacifica). Tuy nhiên, do nắng hạn kéo dài
cá bị chết hàng loạt làm thiệt hại lớn về kinh tế, nên đến tháng 12 năm 2001 Phú Yên chỉ
còn khoảng 20 – 30 lồng nuôi. Ở Huế, trại cá Cư Chánh đã nuôi thử nghiệm trong bể xi
măng. Năm 2008, 2009 đã có nhiều người nuôi cá chình ở Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh và
một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và nghề này đã cho người nuôi cá chình có những
thu nhập khá cao so với những loài cá khác. Cho đến nay thì nghề nuôi cá chình đã được
mở rộng nuôi ở nhiều nơi nhưng năng suất vẫn chỉ đạt 8-10 tấn/ha. Tuy nhiên với giá cá
thương phẩm giao động trong khoảng 200-250 ngìn đồng/kg người nuôi vẫn có lãi 400-
500 triệu/ha.
Ở Vũng Tàu việc Trung tâm khuyến ngư xây dựng thành công mô hình nuôi cá
chình, hoàn thiện quy trình nuôi đã nhân rộng mô hình ra cho người dân đến nay đã có
nhiều hộ chuyển từ nuôi cá truyền thống sang nuôi cá chình mang lại hiệu quả cao. Đặc
biệt đã có nhiều người trở thành tỷ phú nhờ nuôi cá chình như ông Võ Văn Linh ở ấp 3,
xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang đã bỏ ra hàng trăm triệu đồng để đầu tư nuôi cá
chình và trở thành tỷ phú.
Ở Nghệ An, từ thành công của mô hình trình diễn nuôi cá chình thương phẩm trong
bể xi măng năm 2009, đến nay nhiều huyện, thị đã phát triển mạnh nghề nuôi này, xuất hiện
nhiều điển hình như: ông Nguyễn Xuân Thành, xóm 4 xã Quỳnh Hưng với viện tích nuôi
5.00 m
2
ao, nuôi mật độ 1 con/m

thức ăn. Sự thiếu hụt của một hay một vài chất dinh dưỡng khác nhau sẽ dẫn đến tỷ lệ tăng
trưởng giảm, cá dễ bị bệnh và có thể bị chết (Atsuishi, 1991; Berg, 1990; Nguyễn Phi
Nam, 2003).
Theo mạng lưới ngư nghiệp phương Nam của Trung Quốc (2006) thì hầu hết các trại
nuôi cá chình của Trung Quốc đều sử dụng thức ăn dạng bột cho cá chình do Nhật sản xuất,
lúc cho ăn thì bổ sung thêm dầu và nước. Khi cho ăn thì trộn đều thành bột nhão dính và thả
vào sàng cho ăn cố định. Sử dụng loại bột này có ưu điểm là dễ luyện ăn nhưng thức ăn bột
nhão lại không chịu được nước dễ tan trong nước và làm cho nước bị ô nhiễm.
1.3.1. Nhu cầu Protein
Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng nên các tổ chức mô của cá cũng như
của động vật, protein chiếm khoảng 60 ÷ 70% tổng số vật chất khô của cơ thể. Cá sử dụng
protein để đáp ứng nhu cầu amino acid. Nhu cầu protein của cá chình cao hơn so với các
loại cá nước ngọt khác. Theo Nose và Arai (1972), tiến hành nghiên cứu nhu cầu protein
đối với cá chình Nhật Bản là 45,5%.
Arai và ctv (1986) xác định nhu cầu protein cho cá chình châu Âu (nguồn protein là
casein) là 30%. Degani và ctv (1985) kiểm tra tỷ lệ khác nhau giữa bốn nguồn protein và
các mức protein khác nhau, chỉ ra rằng hàm lượng 45% protein trong khẩu phần thức ăn
của cá chình giống châu Âu đạt đến mức sinh trưởng cao nhất. Nhu cầu protein của cá
chình cao (450g protein/1kg thức ăn khô), cao hơn so với những loài cá nước ngọt khác.
14

Spannhof và Kuhne (1977) đã báo cáo rằng khẩu phần có chứa 48% protein thô, 22% chất
béo và 18% tinh bột ngũ cốc là hiệu quả nhất trong bảy hỗn hợp khác nhau được sử thử
nghiệm trong việc thúc đẩy tăng trưởng của cá chình châu Âu cỡ 70 – 90g.
Hàm lượng protein trong thức ăn nuôi cá chình khác nhau ở từng giai đoạn phát triển,
cá chình kính và cá chình đen hàm lượng protein thô trên 49%, cá chình giống là 47%, cá
chình trưởng thành là 45% trở lên (Wu, 2002).
Higuera (1989) đã tiến hành thí nghiệm trên cá chình cỡ 40g và nuôi ở nhiệt độ 25
o
C

khác nhau, từ 1÷10%. Ở Nhật Bản, hàm lượng vitamin bổ sung cho cá chình thay đổi theo
nhiệt độ môi trường nước. Khi nhiệt độ thấp hơn 18
o
C lượng vitamin bổ sung là 5%,
nhung khi nhiệt độ trên 18
o
C lượng vitamin bổ sung là 10% (Atsuishi, 1991).
Theo nghiên cứu của Arai và các ctv (1972) đối với cá chình Nhật Bản, sự thiếu hụt
acid nicotinic sẽ dẫn đến khả năng tiêu thụ thức ăn giảm, tốc độ tăng trưởng chậm, sự
không bình thường trong hoạt động di chuyển bơi lội và điều hòa áp suất thẩm thấu. Sau
10 tuần nuôi thì dừng phát triển, sau 14 tuần nuôi da bị xám đen lại và viêm loét. Còn
theo Yamakawa và các ctv (1975), thì cá chình Nhật Bản nếu thiếu hàm lượng vitamin E
trong thức ăn cá sẽ giảm ăn đồng thời giảm tốc độ sinh trưởng do đó hàm lượng vitamin E
yêu cầu tối thiểu là 200 mg/kg thức ăn khô.
1.3.4. Nhu cầu về chất khoáng
Chất khoáng là những nguyên tố hóa học cần thiết để xây dựng nên cơ thể và tham
gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể động vật. Chất khoáng có vai trò như là chất
xúc tác đối với các enzyme hormone và protein. Ngoài ra chất khoáng còn có vai trò điều
hòa áp suất thẩm thấu. Căn cứ vào hàm lượng nhiều hay ít các loại chất khoáng trong cơ
thể động vật có thể chia thành những nguyên tố thông thường hoặc nguyên tố vi lượng.
Cá chình Nhật Bản yêu cầu trong hàm lượng tối thiểu trong khẩu phẩn thức ăn
170mg/kg.
16

Bảng 1.1. Nhu cầu chất khoáng trong thức ăn của cá chình Nhật Bản
(Arai và Nose, 1979)
Chất khoáng Nhu cầu hàm lượng
Ca 300mg ÷3g
P 6g
Mg 400 ÷ 700 mg


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status