Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón ở thời kỳ 7 đến 9 lá đến sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại Thái Nguyên - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HIẾU
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƢỢNG ĐẠM
BÓN Ở THỜI KỲ 7 - 9 LÁ ĐẾN SINH TRƢỞNG PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI TẠI THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60. 62. 01.10 Giáo viên hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lân THÁI NGUYÊN, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố.

Tôi xin trân trọng cảm ơn./.

Tác giả luận văn Nguyễn thị Hiếu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

Trang bìa phụ i
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 5
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới 5
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu mật độ trồng ngô trên thế giới 7

3.1.2. Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của
một số giống ngô lai vụ xuân năm 2011 - 2012 51
3.1.3. Ảnh hưởng của mật độ đến đặc điểm hình thái, sinh lý của một số
giống ngô lai tại vụ xuân năm 2011 - 2012. 52
3.1.4. Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống ngô vụ
xuân năm 2011 - 2012 59
3.1.5. Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của các giống ngô vụ xuân năm 2011 - 2012 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
3.1.6. Hiệu quả kinh tế của mật độ với 2 giống LVN14 và LVN092 71
3.2. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển của một số
giống ngô lai vụ xuân 2011 - 2012 72
3.2.1. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây của một số giống ngô lai 72
3.2.2. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến diện tích lá của các giống ngô
lai thí nghiệm vụ xuân năm 2011 - 2012 73
3.2.3. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của các giống ngô vụ xuân năm 2011 – 2012 76
3.3. Xác định lượng đạm bón cho ngô vụ xuân trên cơ sở đánh giá tình
trạng dinh dưỡng đạm thông qua màu sắc lá. 85
3.3.1. Tình trạng dinh dưỡng của ngô 85
3.3.2. Xác định lượng đạm bón ở giai đoạn 7 – 9 lá cho ngô vụ xuân trên
cơ sở đánh giá tình trạng dinh dưỡng đạm của cây thông qua LCC 89
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 94
4.1. Kết luận 94
4.1.1. Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô
LVN14 và LVN092 trong điều kiện vụ xuân tại Thái Nguyên 94
4.1.2. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất của

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống ngô LVN14 và LVN092 vụ xuân năm 2011 và năm 2012 65
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất lý thuyết và năng suất thực
thu của giống ngô LVN14 và LVN092 vụ xuân năm 2011- 2012. 69
Bảng 3.10. Hiệu quả kinh tế của mật độ đến giống LVN14 và LVN092 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của một số
giống ngô tham gia thí nghiệm vụ xuân năm 2011 – 2012 74
ĐVT: (m
2
lá/ m
2
đất) 74
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số bắp/cây của 2 giống ngô
LVN14 và LVN092 vụ xuân 2011 – 2012 76
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số hàng /bắp của giống LVN14
và giống LVN092 ở vụ xuân năm 2011 – 2012 77
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số hạt/hàng của giống LVN14
và giống LVN092 ở vụ xuân năm 2011 – 2012 79
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng 1000 hạt của giống
LVN14 và giống LVN092 ở vụ xuân năm 2011 – 2012 81
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất lý thuyết của 2 giống
ngô LVN14 và LVN092 vụ xuân 2011 – 2012 83
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất thực thu của 2 giống
ngô LVN14 và LVN092 vụ xuân 2011 – 2012 84
Bảng 3.18: Hệ số tương quan giữa hàm lượng đạm trong cây với các yếu tố
cấu thành năng suất của ngô vụ xuân năm 2011 và năm 2012 88
Bảng 3.19. Hệ số tương quan giữa màu sắc lá với hàm lượng đạm trong cây


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Đ/c
:
Đối chứng
CT
:
Công thức
TGST
:
Thời gian sinh trưởng
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Năng suất thực thu
FAO
:

hỗn hợp của gia súc và gia cầm vì thành phần chính của cây ngô là tinh bột và
đường chiếm tới 80% trong chất khô nên gia súc, gia cầm tiêu hóa tốt các chất
dinh dưỡng trong hạt ngô. Ở các nước phát triển có nền công nghiệp lớn ngô là
nguồn thức ăn chủ lực, các nước này đã sử dụng 70 - 90% sản lượng ngô cho
chăn nuôi như: Hunggary 97%, Pháp 90%, Mỹ 89%, Rumani 89% Bên cạnh
đó ngô còn được dùng làm thức ăn ủ chua và thức ăn xanh cho gia súc.
Ngoài việc ngô là nguyên liệu chính cho các nhà máy thức ăn gia súc
tổng hợp, ngô còn là nguyên liệu sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucoza,
bánh kẹo… Trong công nghiệp y dược dùng ngô bào chế glucoza, penicillin,
vitamin. Mặt khác dầu ngô làm dầu ăn, xà phòng… Những năm gần đây ngô
còn là cây thực phẩm được ưa chuộng (ngô bao tử) là loại rau cao cấp có giá
trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Hiện nay hoạt động sản xuất Ethanol
đang phát triển mạnh và Mỹ là nước đứng đầu trong công nghệ chế biến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Ngô được đưa vào trồng ở nước ta khoảng 300 năm trước đây. Trong
những năm gần đây sản xuất ngô không ngừng tăng lên về diện tích và sản
lượng, năm 2000 diện tích 730,2 nghìn ha, sản lượng đạt 2005,9 nghìn tấn
nhưng đến Năm 2010 diện tích tăng lên đáng kể 1617,8 nghìn ha với sản
lượng đạt 8403 nghìn tấn tăng 18,07% về diện tích và 58,70% về sản lượng
[FAO,2012][32]. Chính vì những giá trị của cây ngô và những chính sách
khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật của nhà nước ta mà diện tích, năng
suất ngày càng được mở rộng.
Mặc dầu đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng sản lượng ngô
nước ta vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày một tăng
nhanh. Hiện nay, nước ta phải nhập khoảng 600.000 – 800.000 tấn/năm để
làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi. Để đáp ứng nhu cầu về ngô, có
thể giải quyết bằng hai hướng: Một là mở rộng diện tích và đầu tư thâm canh
các giống ngô lai mới có năng suất cao (LVN14, LVN092, LVN99…); hai là

3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Giúp cho học viên củng cố được những kiến thức đã học, đồng thời gắn
liền với thực tiễn giúp cho mỗi học viên nâng cao được chuyên môn, nắm
được phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Góp phần tìm ra mật độ trồng và lượng đạm bón thích hợp ở giai đoạn
7 - 9 lá cho một số giống ngô lai có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu
cầu thị trường trong nước và thị trường thế giới để đưa vào sản xuất đại trà tại
Tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong những năm gần đây, sản xuất ngô ở nước ta tăng lên nhanh
chóng nhờ sự thúc đẩy của ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến. Đặc
biệt là từ những năm 1990 trở lại đây diện tích, năng suất, sản lượng ngô
tăng lên liên tục nhờ những ứng dụng mới về tiến bộ khoa học kỹ thuật. Việc
sử dụng hiệu quả các giống ngô mới có tiềm năng năng suất cao trong sản
xuất là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: giống, phân bón, điều kiện khí
hậu, biện pháp canh tác, bảo vệ thực vật… trong đó mật độ và lượng phân
bón là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất
lượng của ngô.
Ngô là cây phàm ăn, yêu cầu bón nhiều phân, trong số các nguyên tố
đa lượng thiết yếu thì đạm được xem là nguyên tố quan trọng nhất cho quá
trình sinh trưởng thân lá, nở hoa và hình thành hạt. Thời kỳ bón có ý nghĩa

1.2. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu giống ngô lai trên thế giới
Những nghiên cứu về nguồn gốc cây ngô của Vavilop (1926) đã cho
thấy Mehico và Peru là trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của cây ngô.
Mehico là trung tâm thứ nhất còn Aldet (Peru) là trung tâm thứ hai, nơi đây
cây ngô đã trải qua nhiều quá trình nhanh chóng.
Ngô được người Châu Âu biết đến sau chuyến thám hiểm phát hiện ra
Châu Mỹ của columbus (1942). Ở Châu Mỹ cây ngô được người dân da đỏ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
trồng rộng rãi khắp Châu Lục này làm lương thực để nuôi sống họ.
Năm 1494 cây ngô được đưa về Tây Ban Nha và bắt đầu mang lại nền
văn minh cho Châu Âu. Người Châu Âu nhanh chóng nhận được giá trị lương
thực của cây ngô và trồng rộng rãi vì cây ngô dễ trồng, dễ chăm sóc, thu
hoạch cho năng suất cao, ăn ngon, giá trị dinh dưỡng cao (Lê Huy Hàm và cs,
2009) [7].
Năm 1716, Cottin Matther là người đầu tiên nghiên cứu về giới tính của
cây ngô, ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo của cây ngô tại
Massachussetes.
Tám năm sau Matther và Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính
của cây ngô cho rằng gió đã giúp cây ngô thụ phấn. Năm 1876 Charler Dawin
quan sát thấy hiện tượng ưu thế lai, ông tiến hành thí nghiệm với hàng loạt
cây giao phối và tự thụ phấn với hàng loạt cây như đậu đỗ, ngô…Ông đã quan
sát thấy sự hơn hẳn của cây giao phấn với cây tự thụ phấn về chiều cao tốc độ
nảy mầm, số quả trên cây và sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng
suất hạt ( Lê Huy Hàm và cs, 2009) [7].
Trong quá trình nghiên cứu về ngô hiện tượng ưu thế lai được các
nhà chọn tạo rất sớm. Mở đầu về sử dụng giống ngô lai trong chọn tạo

chịu được mật độ cao gấp 2 - 3 lần các giống ngô được tạo ra cách đây 50
năm và tiềm năng năng suất cao hơn hẳn ( Trần Đức Lương và cs 2000)[12].
Năng suất của Mỹ hơn 40 năm qua tăng 58% do lai đơn, 21% do mật
độ và 5% là nhờ khoảng cách hàng. Mật độ trồng và lượng phân bón được
nghiên cứu nhiều nhất trong các biện pháp canh tác cây ngô. Rất nhiều thí
nghiệm liên quan đến mật độ và phân bón ở nước Mỹ và nhiều khu vực khác
trên thế giới, trước năm 1988 đã đánh giá khá hệ thống trong cuốn sách do
nhà khoa học nổi tiếng thế giới biên soạn: Sprague.G.F. và J.W. Dudley cùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
cộng sự ( Trần Đức Lương và cs 2000)[12].
Người ta đã nghiên cứu khoảng cách hàng 20cm đến 200cm và mật độ
từ 0,5 đến 24 vạn cây/ha. Giai đoạn trước năm 1940 khoảng cách hàng phụ
thuộc vào kích thước của ngô và khoảng cách thuận lợi là 100 - 112cm.
Cùng với việc mở rộng các giống ngô lai và cơ giới hóa, khoảng cách
hàng hẹp và cách đều và trở nên phổ biến hơn. Sticker ở Skanas đã kết luận
rằng: Với cùng mật độ khoảng cách 51cm cho năng suất tăng 5% so với
khoảng cách 102 cm ở điều kiện khô hạn và 6% ở điều kiện tưới (Nguyễn văn
Bào, 1996)[2]. Roman và Cook đã thu được năng suất tăng 14% ở khoảng cách
46cm so với 91cm ở Michangan. Coviller qua 9 thí nghiệm ở Nebraska cho
thấy năng suất tăng 14% ở khoảng cách hàng 51cm so với 102cm (Trần Đức
Lương và cs, 2000)[12]. Trong thí nghiệm ở Dinianna cho thấy năng suất tăng
7% ở khoảng cách 51cm và 4% ở khoảng cách 76 cm so với khoảng cách
102cm (Trương Đích, Phạm Hồng Quảng, Phạm thị Tài, 2002)[6]. Ở Argentina
đã công bố kết quả thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách gieo
35cm và 70cm cùng mật độ 7,6 vạn cây/ha ở 2 giống ngô lai DK636 và DK39
trong hai năm 1996 và 1997 cho thấy trong điều kiện gieo hàng hẹp (35cm)
năng suất hơn hẳn so với khoảng cách truyền thống (Barbiera và cs, 2000)[28]
. Widdicombe và Kurt.D.Thelen đã làm thí nghiệmvới bốn giống khác

1.2.1.3. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, có tiềm năng
năng suất lớn. Trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất ngô, phân bón
giữ vai trò quan trọng nhất (Trần Trung Kiên, 2009)[11]. Theo Berzeni và
Gyorff (1985) [29] thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các
yếu tố khác như mật độ, phòng trừ cỏ dại, đất trồng có ảnh hưởng ít hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Xayo cho rằng cây ngô hút hầu hết các chất dinh dưỡng trong lớp canh tác
của vỏ trái đất và nguồn dinh dưỡng chủ yếu của cây ngô là từ đất trồng. Hàng
trục tấn nông sản được tạo ra hàng năm, cây ngô đã lấy khỏi đất một lượng
lớn về đạm, lân, kali trên 1ha đất canh tác. Vì vậy để thu được năng suất ngô
cao, ổn định hàng năm cần bổ sung một lượng lớn chất dinh dưỡng thông qua
việc bón phân từ đất.
Sự hút các chất dinh dưỡng thay đổi theo các giai đoạn sinh trưởng,
phát triển của ngô. Dựa vào biến đổi hình thái của cây để xác định nhu
cầu dinh dưỡng từng thời kỳ cho ngô. Viện Kỹ thuật Cây ngũ cốc và Thức
ăn gia súc (Pháp) chia quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô ra làm
4 giai đoạn:
- Giai đoạn tăng trưởng chậm: Từ khi mọc đến khi 7 – 8 lá: Đây là giai
đoạn hình thành và phát triển bộ rễ. Đây cũng là giai đoạn phân hoá tạo bông
cờ. Giai đoạn này lượng dinh dưỡng cây hút không lớn chỉ bằng 1 – 4% tổng
lượng dinh dưỡng so với cả vòng đời cây hút.
Sự hút chất dinh dưỡng ở thời kỳ đầu tuy chậm nhưng rất quan trọng cho
ngô, bao gồm các dạng dễ hấp thu của các hợp chất chứa NPK so với tổng
lượng dinh dưỡng và tổng chất khô đã tích luỹ được. Sau mọc 20 – 30 ngày
ngô tích luỹ được 4% chất khô, 9% lân, 10% đạm, 14% kali; sau 60 ngày:
45% chất khô, 57% lân, 66% đạm, 92% kali.
- Giai đoạn tăng trưởng nhanh: Từ 7 – 8 lá đến sau trỗ 15 ngày: Ở giai

O
5
– 20K
2
O kg/ha. Theo Shan (1994) mức bón phân được khuyến cáo
cho ngô ở Đài Loan là 175 kg N + 95 kg P
2
O
5
+ 70 kg K
2
O/ha (Trần Trung
Kiên, 2009)[11].
Theo Sinclair và Muchow (1995) (dẫn theo Trần Trung Kiên, 2009) [11],
hàng thập kỷ gần đây, năng suất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức
cung cấp N cho ngô. Đạm được cây ngô hút với một lượng lớn và đạm có ảnh
hưởng khác nhau rõ rệt đến sự cân bằng cation và anion ở trong cây. Khi cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
hút N – NH
4
+
sự hút các cation khác chẳng hạn như K
+
, Ca
2+
, Mg
2+
sẽ giảm

(Mitsuru và CS, 1991a; 1992; 1994) (dẫn theo Mitsuru, 1994) (Trần Trung
Kiên, 2009)[11]. Từ 50 – 60% đạm trong hạt đã được lấy từ đạm đồng hoá ở
trong lá và thân, trước thời kỳ ra hoa (Crowford và CS, 1982; Mitsuru và
CS, 1991b) (dẫn theo Mitsuru, 1995)( Trần Trung Kiên, 2009) [11].
Poss và Saragoni (1992) nhận thấy rằng 13 – 36 kg N/ha đã bị rửa trôi
bên dưới vùng rễ ngô trong thời kỳ sinh trưởng. Mayers (1988) thông báo
rằng cây ngô chỉ hấp thu 20 – 40% lượng đạm cung cấp trong suốt thời gian
sinh trưởng (dẫn theo Sing và CS, 2004) (Trần Trung Kiên, 2009) [11]. Đạm
cũng rễ bị mất bởi một phần các hợp chất đạm khoáng bị rửa trôi khỏi lớp đất
cày (Misuxtin, Peterburgxki, 1975) (Trần Trung Kiên, 2009)[11].
Năng suất ngô cao chỉ có thể đạt được khi thời gian diện tích lá xanh kéo
dài và tỷ lệ đồng hoá đạm cao sau thời kỳ ra hoa (Mitsuru, 1994) (Trần Trung
Kiên, 2009) [11]. Một số báo cáo về khả năng hút N cũng đã chỉ ra rằng tốc
độ đồng hoá cực đại xảy ra gần giai đoạn phun râu (Hay và CS, 1953;
Hanway, 1962; Mengel và Barber, 1974; Bigeriego và CS, 1979) và kết thúc
vào cuối giai đoạn tung phấn (dẫn theo Mitsuru, 1995) (Trần Trung Kiên,
2009) [11].
Theo Moxolov (1979) (Trần Trung Kiên, 2009)[11], nếu mức dinh
dưỡng nitơ đủ thì kali sẽ xâm nhập vào cây nhiều hơn và sự hút kali mạnh
hơn là nguyên nhân thúc đẩy nhanh chu trình chuyển hoá các hợp chất phốt
pho trong cây.
Theo Uhart và Andrade, 1995 [35], [36], thiếu đạm làm chậm sinh trưởng
của hai giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, giảm tốc độ
ra lá, hạn chế mạnh đến sự phát triển diện tích lá. Thiếu đạm hạn chế đến hiệu
quả sử dụng bức xạ, nhất là thời kỳ ra hoa, ảnh hưởng đến năng suất bắp tổng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
số. Cũng theo hai tác giả trên việc cung cấp và tích luỹ N ở thời kỳ ra hoa có
tính quyết định số lượng hạt ngô, thiếu N trong thời kỳ này làm giảm khả năng

Duque (1998) (Trần Trung Kiên, 2009)[11], nghiên cứu bón phân cho
ngô trên đất đồi chua ở Philippin cho rằng bón phân ở mức 100 kg P
2
O
5
/ha năng
suất ngô đạt 7,016 kg/ha.
Theo Evangelista (1999) (Trần Trung Kiên, 2009)[11], năng suất ngô
tăng lên cùng với việc tăng liều lượng phân, năng suất chỉ bắt đầu giảm
xuống khi bón đạm ở mức 160 kg P
2
O
5
kg/ha.
Đạm có vai trò rất quan trọng trong quá trình nâng cao năng suất ngô
nhưng yêu cầu dinh dưỡng của ngô ở các giai đoạn là khác nhau. Vì vậy
muốn nâng cao năng suất ngô không thể thiếu việc cung cấp đầy đủ kali và
phốt pho bởi vì:
Phốt pho là một thành phần của nhân tế bào và là nguyên tố rất cần thiết
cho quá trình phân chia tế bào, đặc biệt sự phân chia mạnh mẽ mô đỉnh sinh
trưởng. Người ta cũng cho rằng P kích thích sự hình thành rễ cây ngô, trợ
giúp quá trình chín của cây và ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt (Arnon,
1974) [27].
Ở giai đoạn cây non của cây ngô, một lượng lân dễ tiêu phát hiện ở trong
đất có vai trò thúc đẩy Nitrat hoá (Pleshkov, 1958) (dẫn theo Arnon, 1974) [27].
Cung cấp đầy đủ P có vai trò trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng khi
mà có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống rễ chưa đủ khả năng hút
lân từ kho dự trữ trong đất (Piere và Polhman, 1933) (dẫn theo Arnon, 1974)
[27]. Thiếu P giai đoạn này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của các bộ
phận sinh sản nguyên thuỷ, sự thiếu hụt không thể bù đắp được bằng việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status