Thực trạng công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý bảo hiểm nhân thọ tại công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nam (giai đoạn 20092013) - Pdf 24

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CÔNG TÁC TUYỂN
DỤNG, ĐÀO TẠO ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ 8
1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ 8
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của BHNT 8
1.1.1.1 Khái niệm: 8
1.1.1.2 Đặc điểm 9
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của BHNT 11
1.1.3 Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 12
1.2 Đại lý bảo hiểm nhân thọ 13
1.2.1 Khái niệm và phân loại đại lý BHNT 13
1.2.1.1 Khái niệm: 13
1.2.1.2 Phân loại đại lý BHNT: 14
1.2.2 Vai trò của đại lý BHNT 15
1.2.3 Nhiệm vụ và trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ 16
1.2.3.1 Nhiệm vụ: 16
1.2.3.2 Trách nhiệm 18
1.2.4 Quyền lợi của đại lý bảo hiểm nhân thọ 20
1.3 Công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý bảo hiểm nhân thọ 21
1.3.1 Công tác tuyển dụng 21
1.3.2 Công tác đào tạo 23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI LÝ
1
BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ HÀ
NAM (GIAI ĐOẠN 2009-2013) 27
2.1 Giới thiệu về công ty Bảo Việt nhân thọ Hà Nam 27

Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
BHNT Bảo hiểm nhân thọ
BVNT Bảo Việt Nhân thọ
CTBH Công ty bảo hiểm
HĐBH Hợp đồng bảo hiểm
ĐLBH Đại lý bảo hiểm
STBH Số tiền bảo hiểm
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng so sánh giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
9
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Bảo Việt Nhân thọ Hà Nam (2008 –
2012) 32
Bảng 2.2: Doanh thu khai thác mới của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nam
(2009-2013) 33
Bảng 2.3: Cơ cấu doanh thu của công ty theo sản phẩm (2009-2013) 34
Bảng 2.4: Doanh thu và hiệu quả khai thác của đại lý (2009-2013) 40
Bảng 2.5: Kết quả tuyển dụng đại lý bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt
Nhân thọ Hà Nam (2009-2013) 41
Bảng 2.6: Bảng kết quả đào tạo Nền tảng 56
Bảng 2.7: Bảng kết quả đào tạo Phát triển 57
Bảng 2.8:Kết quả triển khai mô hình Phát triển kinh doanh 60
5
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, BHNT ở Việt Nam cũng ra đời, và
ngày càng phát triển. Sự thành công đó có sự đóng góp không nhỏ của công tác
tuyển dụng, và đào tạo đại lý tại các công ty bảo hiểm nhân thọ. Nói cách khác, nếu
không thực hiện tốt công tác tuyển dụng, và đào tạo đại lý BHNT, thì có lẽ, ngành
bảo hiểm nhân thọ nước nhà sẽ mãi mãi ở điểm khởi đầu.
Công tác tuyển dụng, và đào tạo đại lý, không chỉ nhằm mục đích, tạo ra

bảo hiểm nhân thọ tại công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nam (giai đoạn 2009-2013)
cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình, với mong muốn tích lũy kiến thức của
bản thân, và có những ý kiến đóng góp về những tồn tại trong vấn đề nêu trên tại
công ty.
Chuyên đề của em ngoài phần mở đầu và kết luận, có kết cấu 3 phần:
CHƯƠNG I: Khái quát về bảo hiểm nhân thọ và công tác tuyển dụng, đào tạo
đại lý bảo hiểm nhân thọ.
CHƯƠNG II: Thực trạng công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý bảo hiểm
nhân thọ tại công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nam.
CHƯƠNG III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác
tuyển dụng và đào tạo đại lý bảo hiểm tại công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nam.
Em xin chân thành cảm ơn Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
cùng các anh chị cán bộ, nhân viên trong công ty, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
chuyên đề thực tập tốt nghiệp này này. Em rất mong nhận được sự góp ý của các
thầy cô giáo và các anh chị cùng các bạn để bài viết được hoàn thiện tốt hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
7
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CÔNG TÁC
TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của BHNT
1.1.1.1 Khái niệm:
Bảo hiểm nhân thọ ra đời nhằm bảo hiểm cho rủi ro, có liên quan đến tuổi thọ
của con người, bao gồm 2 sự kiện trái ngược nhau là:: sống hoặc tử vong.
Theo ngài David E. Bland - Tổng giám đốc viện Bảo hiểm hoàng gia Anh:
“Các đơn bảo hiểm nhân thọ căn cứ vào đời sống của một người cụ thể, người đó
được bảo hiểm, và được thanh toán khi người đó chết” Theo khái niệm này,
BHNT được thanh toán, duy nhất trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong,
do đó, khái niệm này có phạm vi rất hẹp khi định nghĩa về BHNT.

Tài sản;
Trách nhiệm dân sự
Phí bảo hiểm
Các nhân tố ảnh hưởng:
- Số tiền bảo hiểm
- Thời gian tham gia
- Tỷ lệ tử vong
- Lãi suất kĩ thuật
Số lần đóng phí
Đóng phí 1 lần, hoặc định
kỳ
Các nhân tố ảnh hưởng:
- Số tiền bảo hiểm
- Chế độ bảo hiểm
- Xác suất rủi ro
Số lần đóng phí:
Thường đóng một lần
Quyền lợi bảo hiểm
Tiền bảo hiểm được chi trả
trong các trường hợp:
-Thương tật toàn bộ vĩnh
viễn
-Tử vong
- Hết hạnn hợp đồng
Chỉ được bồi thường khi rủi
ro thuộc phạm vi bảo hiểm
xảy ra
Thời hạn bảo hiểm
Dài hạn, thường từ 5 đến 10
năm, hoặc suốt đời

các bên trong hợp đồng theo các quy định của pháp luật.
- Tính đa mục đích của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trong khi bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được nhu cầu khắc phục một phần
hậu quả khi rủi ro xảy đến với đối tượng được bảo hiểm, góp phần ổn định tài chính
cho khách hàng tham gia bảo hiểm, thì BHNT có thể đáp ứng được đa dạng mục đích
khác nhau, tùy thuộc vào loại sản phẩm BHNT. Ví dụ như: BHNT tử kỳ hay BHNT
trọn đời giúp thân nhân, gia đình người được bảo hiểm chi trả các khoản mai táng phí,
phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng con cái khi không may người được bảo hiểm qua
đời; người tham gia BHNT hưu trí định kỳ nhận được một khoản tiền giúp họ trang
trải cuộc sống khi về già, không còn khả năng lao động; các sản phẩm BHNT hỗn
hợp hay sản phẩm BH liên kết đầu tư thỏa mãn mục đích tiết kiệm, đầu tư của khách
hàng, giúp họ thực hiện được những kế hoạch trong tương lai như mua nhà, mua xe,
mua sắm trang thiết bị, cho con đi du học…
10
- Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, do đó
quá trình định phí phức tạp
Trong quá trình tạo ra 1 sản phẩm BHNT, công ty bảo hiểm phải bỏ ra vô số
chi phí, có thể kể đến như: chi phí khai thác, chi phí giám định, chi phí quản lý hợp
đồng, chi phí dịch vụ khách hàng…
- Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã
hội nhất định
Lịch sử ra đời và phát triển của BHNT đã diễn ra hàng trăm năm, vai trò và lợi
ích của BHNT là sự thật không thể chối cãi, nhưng tại sao một số nước vẫn chưa thể
triển khai, hoặc triển khai chưa hiệu quả loại hình bảo hiểm này?
Lý giải vấn đề này, các nhà kinh tế học đều cho rằng, khi con người còn chưa
được đáp ứng các nhu cầu sống cơ bản, thì chưa thể phát sinh nhu cầu với BHNT.
Nói cách khác, BHNT ra đời và phát triển trong điều kiện nền kinh tế – xã hội phát
triển. Các điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển BHNT như: tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát, điều
kiện về dân số, tuổi thọ người dân, trình độ học vấn…

1- 2 năm, nên đại đa số người dân không biết đến loại hình bảo hiểm này.
Năm 1987, Bảo Việt nghiên cứu đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng
vào Việt Nam”, nhưng do điều kiện kinh tế – xã hội lúc đó chưa cho phép, nên
BHNT chưa đi vào thực tế. Mãi đến tháng 1 năm 1994, Tổng công ty Bảo hiểm Việt
Nam (tiền thân của Bảo Việt) mới chính thức đề nghị Bộ Tài chính cho thành lập
công ty BHNT đầu tiên. Ngày 22 tháng 6 năm 1996, Bộ Tài chính kí quyết định số
568/QĐ/TCCB, cho phép thành lập công ty BHNT đầu tiên, trực thuộc Bảo Việt.
Đây thực sự là một bước ngoặt, là mốc son đánh dấu lịch sử ngành BHNT Việt
Nam.
1.1.3 Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, BHNT cũng ngày càng phát triển
và đa dạng hóa các sản phẩm của mình (thực chất là đa dạng hóa các loại hợp đồng
bảo hiểm) nhằm đáp ứng và thỏa mãn những nhu cầu ngày càng phong phú của con
người. Tuy nhiên, trên thực tế, ta có thể chia BHNT thành các loại hình cơ bản sau:
Loại 1: Bảo hiểm trong trường hợp tử vong
a) Bảo hiểm tử kỳ: Nếu người được bảo hiểm chết trong thời gian hợp đồng có
hiệu lực, thì công ty bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người
thụ hưởng. Ngược lại, nếu người được bảo hiểm không chết trong thời hạn hợp
đồng, thì người thụ hưởng bảo hiểm không được nhận bất kì khoản tiền nào từ
khoản phí đã đóng.
12
Bảo hiểm tử kỳ có đặc điểm cơ bản là : thời hạn bảo hiểm xác định, và trách
nhiệm và quyền lợi bảo hiểm có tính tạm thời, phí bảo hiểm thấp.
b) Bảo hiểm trường sinh : Công ty bảo hiểm cam kết chi trả cho người thụ
hưởng một số tiền bảo hiểm nhất định (được quy định trong hợp đồng), khi người
được bảo hiểm chết, vào bất cứ ngày nào, kể từ ngày ký kết hợp đồng.
Bảo hiểm trường sinh có thời hạn bảo hiểm không xác định, người thụ hưởng
chắc chắn được nhận được tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm có thể đóng một lần, hoặc
định kỳ.
Loại 2: Bảo hiểm sinh kỳ : Công ty bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền

động chuyên trách hoặc bán chuyên trách.
Theo điều 86, mục 1, chương IV, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam số
24/2000/QH10 quy định điều kiện được phép hoạt động đại lý bảo hiển như sau:
“1. Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;
Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm hoặc hiệp hội
bảo hiểm Việt Nam cấp.
2. Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
Là tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp;
Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm
phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 điều này.
3. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình
phạt tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của
pháp luật không được ký kết hoạt động đại lý bảo hiểm.”
Tóm lại, đại lý BHNT là cá nhân, hay tổ chức được công ty bảo hiểm nhân thọ
ủy quyền, để thực hiện các hoạt động liên quan đến công tác khai thác bảo hiểm
nhân thọ, thu phíi, và các hoạt động khác trong khuôn khổ về quyền, và trách nhiệm
của đại lý, đã được nêu rõ troong hợp đồng đại lý.
1.2.1.2 Phân loại đại lý BHNT:
Có rất nhiều cách phân loại đại lý BHNT, nhằm mục đích giúp các công ty bảo
hiểm quản lý tốt mạng lưới đại lý, và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
BHNT.
- Căn cứ theo phạm vi giới hạn quyền hạn: phân loại theo phạm vi quyền hạn
của đại lý giúp CTBH giảm bớt được phần công việc giao cho đại lý và quản lý
được phạm vi trách nhiệm của các đối tượng đại lý khác nhau.
14
+ Đại lý toàn quyền: thường là các tổ chức có tư cách pháp nhân như: ngân
hàng, công ty luật… Các tổ chức này sẽ được công ty giao cho 100% quyền tư vấn,
chào bán, ký kết HĐBH, giám định… với khách hàng.

15
cho người tham gia bảo hiểm. Đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi của khách hàng, điều
vô cùng quan trọng là người đại lý cần đưa những thông tin đầy đủ, chính xác về
sản phẩm BHNT đến khách hàng, tránh những khiếu kiện, khiếu nại do không nắm
rõ về điều khoản hợp đồng gây ra.
- Đối với công ty bảo hiểm:
Đại lý BHNT là người đại diện, là hình của của công ty bảo hiểm khi tiếp xúc
với khách hàng. Đại lý BHNT khi tiếp xúc, tư vấn và chào bán các sản phẩm BHNT
đến với khách hàng không chỉ mang về lợi nhuận mà còn làm nhiệm vụ xây dựng
uy tín và thương hiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, đạo đức của người đại lý
BHNT là vô cùng quan trọng.
Là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, đại lý là người tiếp nhận những ý
kiến của khách hàng về sản phẩm, ghi nhận những nhu cầu mới phát siinh của
khách hàng, từ đó nhanh chóng phản hồi thông tin lại cho công ty bảo hiểm. Công
việc này giúp cho công ty nhanh chóng nắm bắt những nhu cầu mới phát sinh của
xã hội, những ưu điểm và nhược điểm của sản phẩm để lên kế hoạch, xây dựng các
chính sách về sản phẩm, công tác phát hành, quản lý hợp đồng, các công tác dịch
vụ, chăm sóc khách hàng…nhằm làm hài lòng khách hàng, nâng cao năng lực cạnh
tranh và khuếch trương uy tín của công ty trên thị trường.
- Đối với xã hội:
Vai trò của BHNT đối với mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức và toàn bộ nền kinh
tế là không thể phủ nhận. Do đó, vai trò của đại lý BHNT – người trực tiếp tư vấn,
mang các sản phẩm BHNT đến với từng cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng vô cùng
quan trọng. Đại lý BHNT là người cung cấp cho xã hội sự đảm bảo và dịich vụ bảo
vệ an toàn. Do đó, xét trên khía cạnh nào đó, đại lý BHNT còn góp phần đảm bảo
an toàn xã hội.
1.2.3 Nhiệm vụ và trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ
1.2.3.1 Nhiệm vụ:
Theo điều 85, mục 1, chương IV, Luật kinh doanh bảo hiển Việt Nam số
24/2000/QH10 quy định nhiệm vụ của đại lý bảo hiểm nhân thọ như sau:

hướng dẫn của công ty
Đại lý có thể có quyền được phép cấp hợp đồng bảo hiểm, có thể lập hóa đơn,
và thu phí bảo hiểm của khách hàng. Đại lý gửi số phí bảo hiểm cho công ty bảo
hiểm, sau khi đã giữ lại các khoản hoa hồng phíi của mình.
Trong trường hợp công ty bảo hiểm cấp HĐBH, khách hàng sẽ thường thanh
toán trực tiếp phí cho công ty, mà không cần thông qua đại lý. Đối với hình thức
thanh toán này, công ty bảo hiểm gửi ttrực tiếp hóa đơn thu phí đến khách hàng, sau
đó, thu phí, và gửi trả hoa hồng cho đại lý sau.
17
Nhằm bảo vệ rủi ro tín dụng cho đại lý, hợp đồng đại lý có thể có thêm nội
dung:: sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm có hiệu lực từ 30, đến 40 ngày, các khoản phí
mới đến hạn cần thanh toán cho công ty bảo hiểm. Trong khoảng thời gian đó, đại
lý có thể sử dụng các khoản phí đã thu được để đầu ttư; lãi đầu tư, là một phần thù
lao tương đối hấp dẫn với đại lý.
d. Chăm sóc khách hàng
Đại lý cần thường xuyên đi lại, giữ quan hệ với khách hàng, tư vấn cho khách
hàng kịp thời, khi họ muốn thay đổi, hoặc bổ sung điều khoản hợp đồng bảo hiểm,
nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi, và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân của khách
hàng. Đồng thời, các ý kiến của khách hang, cũng cần đại lý phản hồi lại cho doanh
nghiệp bảo hiểm.
Nếu được công ty bảo hiểm ủy quyền, đại lý còn có nhiệm vụ quản lý hợp
đồng, và chi trả tiền bảo hiển. Riêng nhiệm vụ trả tiền bảo hiểm, mọi đại lý đều
tham gia vào công tác giải quyết các khiếu nại phát sinh từ những đơn bảo hiểm do
họ tư vấn, trong một giới hạn nhất địinh. Do đại lý trực tiếp tiếp xúc với khách
hàng, nên khi xảy ra rủi ro, người khách hàng sẽ tìm đến là đại lý đầu tiên.
e. Thuyết phục khách hàng tái tục hợp đồng bảo hiểm
Đại lý cần thường xuyên giữ mối quân hệ thân thiết với khách hàng, nhằm
thuyết phục khách hàng ttái tục hợp đồng bảo hiểm; đồng thời cung cấp kịp thời các
thông tin về sản phẩm mới của công ty bảo hiểm đến khách hàng.
f. Các nhiệm vụ khác

hoàn cho doanh nghiệp bảo hiể các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi
thường cho người được bảo hiểm”.
Các công ty bảo hiểm thường nghiêm cấm đại lý có các hành vii như sau:
- Quảng cáo, thông tin sai sự thật về phạm vi hoạt động, nội dung của công ty
bảo hiểm; về các điều kiện, và điều khoản bảo hiểm, có thể làm tổn hại đến quyền,
và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm.
- Ngăn cản khách hàng cung cấp những thông tin cần thiế,t liên quan đến hợp
đồng bảo hiểm, xúi giục khách hàng kê khai không trung thực, hoặc không kê khai
những chi tiết cần thiết, liên quan đến hợp đồng bảo hiển.
- Tiết lộ, cung cấp nguồn thông tin làm có hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người tham gia bảo hiểm.
- Tranh giành khách hàng dưới các hình thức như: ngăn cản, lôi kéo, mua
chuộc, đe dọa… nhân viên hoặc khách hang của các đối thu khác.
19
- Tổ chức khuyến mãi cho khách hàng dưới các hình thức bất hợp pháp như:
hoàn phí bảo hiển, hứa giảm phí bảo hiểm, hoặc các quyền lợi khác mà công ty bảo
hiểm không biết, không cung cấp cho khách hàng;
- Xúi giục khác hàng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm còn giá trị để than gia hợp
đồng bảo hiểm mới.
Trong thời gian hoạt động, nếu như đại lý vi phạm những quy định của công
ty bảo hiểm về những vấn đề có liên quan đến: giấy yêu cầu bảo hiểm, thu và nộp
phí bảo hiểm, HĐBH, quản lý và sử dụng hóa đơn, hay những vấn đề như: kỉ luật, ý
thức tổ chức… thìi công ty sẽ tiến hành xử lý theo các mức độ khác nhau: phê bình
kiểm điểm, hạ bậc đại lý, tạn dừng hoạt động có thời hạn, miễm nhiệm (với cán bộ
quản lý đại lý), phạt tiền, bồi thường thiệt hại, chấm dứt hợp đồng đại lý, và truy
cứu trách nhiệm dân sự.
Thêm nữa, hoạt động đại lý BHNT cũng có thể bị chấm dứt bằng văn bản thỏa
thuận giữa: đại lý và công ty bảo hiểm. Những trường hợp sẽ chấm dứt hợp đồng
đại lý gồm có: hai bên thỏa thuận chấm dứt trước khi thời hạn hiệu lực của hợp
đồng đại lý hết; thời hạn hiệu lục của hợp đồng đại lý đã hết và các bên không thỏa

động phân phối và chào bán các sản phẩm bảo hiểm. Công tác tuyển dụng là cách
thức ban đầu để hình thành nên đội ngũ đại lý bảo hiển. Nếu công ty tuyển dụng
được các đại lý bảo hiểm chất lượng (đảm bảo đạo đức nghề nghiệp, khả năng khai
thác các sản phẩm bảo hiểm tốt và có tỉ lệ duy trì HĐBH cao…) thì có hiệu quả
kinh doanh cao; do bởi đại lý là nguồn lao động trực tiếp tạo ra doanh thu, xây dựng
nên danh tiếng và uy tín cho công ty bảo hiểm.
Công tác tuyển dụng đại lý BHNT có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt
động của các công ty BHNT hiện nay.
Thứ nhất, công tác tuyển dụng đại lý có tốt, thì hoạt động khai thác BHNT
mới tốt. Thực tế Việt Nam hiện nay có hơn 90% doanh thu từ hoạt động khai thác
hợp hồng BHNT đến từ các đại lý. Do đó, công ty nào có số lượng đại lý càng lớn,
thì khả năng khai thác thị trường các tốt. Thực tế đã chứng minh, những “ông lớn”
của thị trường BHNT Việt Nam như : Prudential năm 2012 chiếm 35,85% thị phần,
thì hơn 50% số đại lý hoạt động trên thị trường (122.694 người) là đại lý của
Prudential, hay Bảo Việt Nhân thọ là công ty lớn thứ 2, chiếm 25,52% thị phần thì
cũng có số lượng đại lý BHNT lớn thứ 2 thị trường với 27.762 đại lý – chiếm
12,29% (Nguồn: Số liệu thống kê thị trường bảo hiểm nhân thọ năm 2012 –
thuvienbaohiem.com).
21
Thứ hai, công tác tuyển dụng của công ty bảo hiểm càng tốt, thì danh tiếng của
công ty càng lớn. Người đại lý BHNT có thể được coi là “phát ngôn viên” của công
ty, là người liên lạc, là tiếng nói của công ty bảo hiểm đến khách hàng. Số lượng đại
lý BHNT càng lớn thì thông tin về công ty, về các sản phẩm BHNT của công ty sẽ
được quảng bá và giới thiệu đến càng nhiều khách hàng. Do đó, thương hiệu của
công ty ngày càng nổi tiếng và được nhiều người biết tới.
Cuối cùng, vai trò quan trọng nhất của người đại lý BHNT chính là thúc đẩy
hoạt động khai thác, nâng cao khả năng cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cho công ty
bảo hiểm. Thông qua người đại lý, nhận thức và kiến thức của người dân về mức độ
cần thiết của BHNT trong cuộc sống càng được nâng cao, càng nhiều người tham
gia BHNT.

nghiệm tâm lý, trắc nghiệm công việc…
- Nguồn tuyển dụng : qua quảng cáo, qua giới thiệu, qua các trung tâm môi
giới việc làm, qua các hội chợ việc làm, từ các trường đại học, cao đẳng, trung
cấp…
Bước 3: Xác định địa điểm và thời gian tuyển dụng
Tùy theo nhu cầu và đặc điểm của từng công ty mà công ty đưa ra địa điểm và
thời gian phù hợp với công tác tuyển dụng.
Bước 4: Tìm kiếm lựa chọn ứng viên
Công ty tiến hàng tìm kiếm và lựa chọn ứng viên phù hợp với công việc dựa
vào hồ sơ của các ứng viên và các phương pháp tuyển dụng được lựa chọn áp dụng.
Bước 5: Trình bày cơ hội, thuyết phục-đào tạo
Tổ chức hội thảo,giới thiệu cơ hội nghề nghiệp tại BVNT cho các ứng viên,
hoàn thiện hồ sơ, phỏng vấn ứng viên. Đào tạo, ứng viên xác nhận ký HĐĐL, tổ
chức thi BVLN. Cấp chứng chỉ, thông báo MSĐL. Xác nhận và bàn giao HĐĐL.
Bước 6: Hướng dẫn nhân viên mới hòa nhập
Nhân viên được tuyển dụng sẽ được làm quen với môi trường công ty bằng
các hình thức như : tham gia khóa đào tạo sau BVLN, nghiên cứu tài liệu, được các
nhân viên lâu năm, giàu kinh nghiệm hướng dẫn công việc…
1.3.2 Công tác đào tạo
Công tác đào tạo đại lý BHNT: là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng,
và đạo đức về nghề nghiệp cho các đại lý BHNT. Hoạt động đòa tạo đại lý cần
những điều kiện như: cán bộ đào tọa, chương trình đào tạo, và cơ sở vật chất cần
thiết phục vụ cho việc đào tạo. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm có nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát công tác đào tạo địa lý bảo hiểm; nếu như không đáp ứng được
các yêu cầu trên sẽ bị dừng hoạt động. Các đơn vị đào tạo có trách nhiệm phải báo
cáo cơ quan quản lý về số lượng đại lý đã đào tạo, số lượng khóa đào tạo đã tổ
chức, và số chứng chỉ đã cưng cấp hàng năm.
23
Công tác đào tạo đại lý BHNT có vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác
quản lý đại lý của các công ty BHNT vì ni quyết định đến chất lượng nguồn lao

(quy định trong hợp đồng học việc) thì sẽ được công ty bảo hiểm ký kết hợp đồng
đại lý chức thức, và được hưởn mọi quyền lợi đầy đủ như mọi nhân viên trong công
24
ty. Công ty cũng thường xuyên đào tạo lại đại lý bảo hiểm nhằm: cập nhật những
kiến thức mới về nghiệp vuj, các kỹ năng giao tiếp, bán hàng và nâng cao trình
độ… cho đại lý trong suốt quá trình haotj động. Các đại lý có khả năng tốt sẽ được
tiếp tục đào tạo nâng cao.
Để tiện cho việc theo dõi, đại lý được chia thành các cấp như sau:
Sơ đồ 1.2: Các cấp đại lý BHNT
(Nguồn: sưu tầm)
Dựa vào phân loại trên, chương trình đào tạo đại lý BHNT các cấp cụ thể
gồm:
- Đào tạo đại lý cấp 1: Đại lý phải được đào tạo ban đầu trước khi ký hợp đồng
đại lý. Chương trình đào tạo cấp 1 này tập trung chủ yếu vào giới thiệu nghề
nghiệp, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về bảo hiể nói chung và bảo hiểm
nhân thọ nói riêng, những sản phẩm bảo hiểm công ty đang triển khai và các kỹ
năng nghề nghiệp như: khia thác, đánh giá rủi ro ban đầu. Chứng chỉ đào tạo cấp 1
là điều kiện bắt buộc, kiên quyết đối với những cá nhân muốn hành nghề đại lý bảo
hiểm nói chung, đại lý bảo hiểm nhân thọ nói riêng trong tương lai.
- Đào tạo đại lý cấp 2: Đại lý sẽ được đào tạo nhằm mục đích nâng cao kiến
thức về bảo hiểm, các kỹ năng khai thác, và khả năng quản lý trong chương trình.
- Đào tạo đại lý cấp 3: Đại lý được đào tạo nhằm nâng cao các kiến thức về
bảo hiểm, đặc biệt là những kỹ năng quản lý và điều hành công việc trong chương
trình này.
25
Đại lý cấp 1: Đại lý
mới được tuyển
dụng, cần được đào
tạo cơ bản để lấy
chứng chỉ hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status