MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, phụ nữ (PN) đã có vai
trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (XH), từ phạm vi gia
đình đến cả cộng đồng. Vì vậy, phụ nữ là một lực lượng XH to lớn.
Phải khẳng định, sức sống mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh
(TTHCM) chính là chủ nghĩa nhân đạo cao cả, tất cả vì con người, lấy con
người làm điểm xuất phát, là mục tiêu của mọi tư tưởng (TT), hành động cách
mạng (CM). Tư tưởng này được thể hiện sinh động nhất trong cách nhìn của
Người đối với vấn đề PN. Ngay trong thời kỳ tìm đường cứu nước, Hồ Chí
Minh đã đánh giá đúng đắn vị trí và tầm quan trọng của PN đối với sự phát
triển của XH nói chung và dân téc (DT) Việt Nam (VN) nói riêng. Không chỉ
dừng lại ở đó, là nhà TT, lý luận CM lớn của DT, Hồ Chí Minh còn thấy rõ
tầm quan trọng của sự nghiệp giải phóng PN, coi đó là thước đo của trình độ
văn minh: "Nếu không giải phóng phụ nữ (GPPN) thì không GP một nửa loài
người". Có thể nói, đây chính là lý do quan trọng nhất để TTHCM không bị
lỗi thời bởi sự vận động nghiệt ngã nhưng rất công bằng của lịch sử (LS).
Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, TTHCM là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động CM của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, PNVN ở thời đại Hồ Chí Minh đã được
GP về cơ bản và có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp GPDT, GP giai
cấp (GC) và GPXH.
Ngày nay, Đảng CSVN đang kế thừa, vận dụng và phát triển TTHCM
về vấn đề GPPN lên tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Vì vậy,
chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn nữa TTHCM về
vấn đề đó trong các giai đoạn phát triển của DT, đặc biệt là ở thời kỳ đổi mới.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN được nhiều nghiên cứu đề
cập tới với những hình thức và mức độ khác nhau. Ngay từ những ngày đầu
của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành sự quan tâm thích đáng trong
- Chứng minh tính tất yếu của vấn đề GPPN trong LS phát triển nhân
loại, theo đó cũng chính là yêu cầu của LSVN.
- Làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN và
sự vận dụng trong công cuộc đổi mới. Theo đó bước đầu đề xuất một số
những giải pháp với Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện di huấn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN trong thời kỳ hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu và tài liệu
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác- Lênin, đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật LS; LS - lôgic; phân tích- tổng
hợp; lý luận - thực tiễn từ các nguồn tài liệu: Các tác phẩm của Hồ Chí Minh;
các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các tài liệu nghiên cứu LS phát triển của
phong trào PNVN. Đề tài còn kế thừa có chọn lọc những công trình khoa học
nghiên cứu TTHCM của các nhà khoa học trong nước và quốc tế
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
gồm 3 chương 7 tiết.
3
Chương 1
GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ - YÊU CẦU TẤT YẾU
CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM
1.1. YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI
Phụ nữ là một nửa của nhân loại, điều đó được xác định từ khi có loài
người. Tuy vậy, trong quá trình phát triển của LS, vai trò của PN không phải
lúc nào cũng được đánh giá và nhận thức giống nhau.
Dưới chế độ công xã thị téc, vai trò của PN rất lớn. LS đã ghi nhận
từng tồn tại một chế độ mà quan hệ XH là mẫu hệ hay mẫu quyền. Bản chất
của chế độ này không phải là vai trò thống trị của PN đối với đàn ông, mà là
vai trò của họ đối với cuộc sống của cả cộng đồng. Lúc này, do chiếm vị thế
chung quan niệm: phụ nữ là loại người khó giáo dục; nam ngoại nữ nội; đạo
tam tòng; trai 5 thê 7 thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng; một con trai
coi là có, 10 con gái coi là không…Đó thực chất là nhà tù vô hình giam cầm
bao thân phận PN, biến họ thành nô lệ của đàn ông và nô lệ của cả XH. Thực
tế đó đặt ra cho nhân loại một nhiệm vụ tất yếu: giải phóng phụ nữ.
Thời trung cổ, một số người mang trong mình chủ nghĩa (CN) nhân
văn đã có vài động thái hướng tới quyền làm người ở giai đoạn văn hóa phục
hưng. Sự tiến bộ đó đã le lói chút ánh sáng cho TTGPPN. Nhưng trên tư cách
công dân và cá nhân người, TT đó chỉ được bắt đầu hình thành tương đối đầy
đủ trong quá trình phát triển của XH tư sản. TT tù do, bình đẳng xuất hiện từ
thời phục hưng được GC tư sản nắm lấy và coi là vũ khí sắc bén để tấn công
vào chế độ phong kiến, xác lập vị trí của GC tư sản trong lịch sử. Người Mỹ
nói: " Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong các quyền Êy, có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phóc" [16, tr. 1], còn người
Pháp lại quan niệm " Người ta sinh ra tù do và bình đẳng về quyền lợi và luôn
luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi" [16, tr. 1] Theo đó, nhân loại vượt
qua bóng đêm u ám của thời Trung cổ để vươn tới ánh sáng của văn minh,
5
đồng thời làm cho 2 bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp trở nên bất hủ. Tuy vậy,
do hạn chế về bản chất GC, tính nhân văn của các TT đó đã bị vi phạm thô
bạo. GC tư sản đã quay lưng lại những người từng là bạn đường của mình
trong cuộc đấu tranh chống CN phong kiến và biến họ thành kẻ bị thống trị.
Ách áp bức GC không chỉ vẫn tồn tại mà còn rất tàn bạo thể hiện ở mức độ
tinh vi hơn nhiều. Trong số những người thuộc giai cấp bị trị, PN lại là những
nạn nhân bi thảm nhất. Họ bị tước đoạt mọi thứ, kể cả những quyền sơ đẳng
trong đời sống XH. Thực tế đó làm nảy sinh hàng loạt vấn đề mới, mà tự do
bình đẳng của GC vô sản trong đó có PN là một đòi hỏi khách quan. Nhận
thức được yêu cầu của lịch sử, CNXH không tưởng đã xuất hiện ở đầu thế kỷ
XIX với các nhà tư tưởng lớn: Xanh-xi-mông, Phu ri-ê (Pháp), Ô-oen (Anh).
người là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, trong đó
công lao lớn và cũng là nhân văn nhất chính là ở chỗ các ông đã ghi nhận, đánh
giá đầy đủ vai trò và vị trí của PN: Trong lịch sử nhân loại, không có một phong
trào to lớn nào của những người bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao động
tham gia. Phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những
người bị áp bức, nên không bao giê họ đứng ngoài và không thể đứng ngoài
các cuộc đấu tranh giải phóng, kể từ phong trào nô lệ đến các phong trào của
XH đương thời. Đặc biệt trong phong trào Công xã Pari (1870), PN đã tham
gia đông đảo và có vai trò lớn, họ đã sát cánh chiến đấu cùng đàn ông để đánh
đổ GCTS. Từ thực tế đó, C.Mác đã khái quát: " Ai đã biết LS thì biết rằng
muốn sửa sang XH mà không có PN giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi"
[11, tr. 217]. Hơn nữa, các ông còn lấy chính mức độ GPPN làm một trong
những tiêu chuẩn để đánh giá trình độ văn minh của nhân loại: " Xem TT và
việc làm của đàn bà con gái thì biết XH tiến bộ như thế nào" [11, tr. 217].
Cách mạng vô sản có nhiệm vụ xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây
dựng một XH mới văn minh và nhân đạo hơn. Đối tượng được giải phóng và
cũng chính là một trong những động lực của CM là PN. Theo đó, đây là cuộc
CM triệt để nhất trong LS, là hòn đá tảng phân biệt bản chất của các cuộc
CMXH. V.I.Lênin cho rằng: "Chõng nào mà PN không những chưa được tự
do đời sống chính trị nói chung và cũng chưa được quyền gánh vác một công
7
việc thường xuyên và chung cho cả mọi người, thì chõng Êy chưa có thể nói
đến CNXH được, mà cũng chưa thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ toàn
vẹn và bền vững được" [10, tr. 158]. Theo ông, Đảng Cộng sản phải có nhiệm
vụ tổ chức và lãnh đạo họ tham gia CM.
Khi nêu lên các giải pháp GPPN, các nhà kinh điển của CNXH khoa
học đã xuất phát từ một quan điểm rất khoa học và thực tế. Đó là việc PN bị
loại khỏi các hoạt động kinh tế, dẫn tới bị tước đoạt quyền bình đẳng với đàn
ông về mọi mặt. Ph.Ăngghen đã có cách nhìn rất biện chứng: "Sù GPPN,
quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có được và mãi mãi không
phóng giai cấp, phụ nữ mới được giải phóng, giai cấp vô sản sẽ không được
tự do hoàn toàn nếu PN không được tự do.
Như vậy, kế thừa, phát triển những TT của nhân loại về GPPN, chủ
nghĩa Mác- Lênin thể hiện tính vượt trội ở chỗ, đã chỉ rõ nguyên nhân sự bất
bình đẳng giữa nam và nữ để từ đó nêu lên nguyên lý và những giải pháp có
tính khả thi cho sự nghiệp GPPN. Đó là phải gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ
với cuộc cách mạng XHCN, đặt vấn đề giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cuộc cách mạng vô sản. Song để nó trở thành hiện thực
trong cuộc sống, yêu cầu các lãnh tụ cách mạng phải biết vận dụng sáng tạo
vào hoàn cảnh LS cụ thể của nước mình, bởi không có một công thức cũng
như một biện pháp tuyệt đối nào cho từng trường hợp riêng biệt cụ thể.
1.2. VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ TRONG LỊCH SỬ DÂN TÉC VIỆT NAM
Trong quá trình phát triển của LSDT, PNVN cũng đã có một thời kỳ
được nhận thức đúng và đánh giá rất cao bởi vai trò của mình trong xã hội
mẫu quyền. Chả thế mà, ở Việt Nam, người ta có khái niệm "cái" để gọi một
số thứ mang tính chất và ý nghĩa "quan trọng", "đứng đầu", "to lớn" như:
đường cái, sông cái, cổng cái, cửa cái, đũa cái,…Thế nhưng khi tư hữu và
GC xuất hiện, nhất là chế độ phong kiến ra đời lại lấy Nho giáo, thuyết
Khổng- Mạnh làm mực thước và công cụ củng cố trật tự xã hội thì thân phận
của PN bị đảo lộn ghê gớm. Điều này thể hiện trong sách Việt Nam văn hóa
sử cương: Trong chế độ phụ quyền, đàn ông là gia trưởng có uy quyền tuyệt
9
đối trong nhà. Ví dô:
+ Có quyền sở hữu và quản lý tài sản của gia đình, vợ con phải làm
lụng cho gia trưởng.
+ Có quyền sở hữu đối với vợ con và có thể bắt đi làm thuê hay đem
bán đi được. Gia trưởng là một vị chủ nhân chuyên chế, cũng như một vị quân
chủ chuyên chế.
Luật nhà Lý quy định: Vợ con người bị tội lưu đày đều bị sung công.
Lệ nhà Trần cho phép người chồng có vợ ngoại tình được coi vợ là nô tỳ và tự
Mẹ ơi con muốn lấy chồng;
Con ơi mẹ cũng một lòng nh con
Khẳng định hạnh phóc lứa đôi là một thực tế thì ca dao cất lên nhưng
câu thuyết phục:
Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thì để thờ cha
Chữ hiếu thờ mẹ, đôi ta chữ tình
Ca ngợi phẩm chất anh hùng của PN thì có những vần thơ đầy khí
phách:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
11
Hoặc:
Nước sông trộn lẫn nước ngòi
Con gái Bình Định cầm roi đi quyền
Quan trọng hơn, chính phụ nữ đã khẳng định vai trò của mình trong lịch
sử giữ nước và dựng nước để dân téc tồn tại và phát triển. Những người đầu
tiên đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc là phụ nữ " Từ đầu thế kỷ thứ nhất,
Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước cứu dân" [22, tr.148].
Tục ngữ có câu: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" là truyền thống đặc biệt
của phụ nữ Việt Nam từ thời đại Hùng vương- Trưng vương đến thời đại Hồ
Chí Minh chống Mỹ cứu nước. Lịch sử đã khắc sâu một chân lý: Phụ nữ Việt
Nam không chỉ lo việc nhà mà còn lo việc nước: Hai Bà Trưng cùng các nữ
tướng của mình; bà Triệu và các thế hệ phụ nữ kế thừa ở những giai đoạn lịch
sử tiếp theo là một bằng chứng tường minh.
vượt lên sự bủa vây của những ước lệ đạo đức phong kiến hà khắc.
Trong lĩnh vực luật pháp, một số bậc minh quân cũng có quan điểm
tương đối tiến bộ về vấn đề PN. Ví dụ:
Năm 1429, khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã ban hành phép công điền,
lấy ruộng công chia cho tất cả mọi người, tùy theo phẩm tước và không phân
biệt nam –nữ.
Cuối thế kỷ XV, người PN có cơ giảm thiểu thân phận tôi đòi bởi một
số điều tiến bộ trong Luật Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tôn (1483).
+ Điều 307: quy định trách nhiệm của người chồng phải chăm sóc vợ,
nếu chồng bỏ rơi vợ 5 tháng(vợ chồng son), một năm (vợ chồng đã có con) thì
có quyền làm giấy trình quan đi lấy chồng
+ Điều 372, 374: người PN có quyền sở hữu về tài sản, gặp trường
hợp phải phân chia tà sản giữa vợ và chồng thì luật pháp công nhận cho người
PN có quyền sở hữu tài sản riêng của mình do cha mẹ cho khi đi lấy chồng và
quyền hưởng thụ bình đẳng (chia đôi) đối với tài sản do hai vợ chồng chung
sống gây dựng nên.
13
+ Điều 387: Con gái được quyền chia tài sản bình đẳng như con trai.
+ Điều 390: Nhà nào không có con trai, con gái được hưởng quyền
thừa kế hương hỏa.
Tất cả những điều đó không chỉ thể hiện trên giấy mà đã được hiện
thực hóa trong đời sống XH. Nh vậy Bé luật Hồng Đức ở một mức độ nào đó
đã công nhận và hợp pháp hóa mét sè phong tục, phản ánh truyền thống đoàn
kết thương yêu và tinh thần dân chủ của ND lao động. Tuy còn nhiều khoản
gò bó, áp bức, coi khinh PN, Luật Hồng Đức được coi là bộ luật có tính tiến
bộ ở phương Đông, thậm chí còn hơn cả một số bộ luật phương Tây lúc đó.
Tuy vậy, kể cả văn học dân gian; văn chương bác học và pháp chế phong kiến
mới chỉ manh nha ý tưởng giải phóng PN, vì vậy chưa thể cho ra đời một hệ
TT cao hơn, không thể chỉ ra con đường giải phóng con người nói chung và
GPPN nói riêng
rằng: PN phải có tinh thần tự lập, phải biết đấu tranh giành lấy nữ quyền; phải
lo và gánh vác một phần việc nước: "Ta hết lòng gánh vác việc XH tức là biết
nghĩa vụ làm người thì quyền người mới khôi phục được. Quyền người đã
khôi phục thì quyền gái chẳng cần nói nữa" [3, tr. 91]. Cụ khẳng định, PN
phải tự cởi trãi cho mình, không thể trông chờ vào ai khác….
Nh vậy, bằng sự kế thừa truyền thống văn hóa DT, kết hợp luân lý
Đông-Tây trong vấn đề PN, cô Phan đã đánh giá cao vai trò của PN, phê phán
các quan điểm khinh thường PN, đề ra quan điểm về nghĩa vụ và quyền lợi
của PN một cách đúng đắn. Đó chính là công lao lớn nhất của Phan Bội Châu.
Tuy vậy, vào thời điểm LS này, cũng như bao người khác, tâm huyết có thừa,
lòng dũng cảm không thiếu, song Cô Phan chưa chuyển hóa được những chủ
trương đúng đắn của mình thành hiện thực sinh động của đời sống XH.
PNVN biết ơn Cụ Phan lắm, nhưng để được "làm người" đúng nghĩa và có
khả năng tự GP, PNVN còn phải chờ đợi.
Chế độ phong kiến mục nát, giai cấp tư sản yếu đuối, không thể đáp
15
ứng nổi yêu cầu chung của lịch sử dân téc và bức bách riêng của phụ nữ về
nhân quyền, tự do và giải phóng. Tất cả vẫn chờ ở một lực lượng cách mạng
đang phôi thai, đó là giai cấp công nhân; là sự lãnh đạo kiên định và đầy trí
tuệ của một tổ chức chính trị tiên phong và một con người mang trong mình
không chỉ khát vọng của dân téc mà cả tư duy tiến bộ của nhân loại: lãnh tụ
Hồ Chí Minh.
16
Chương 2
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
1.1. CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI
PHÓNG PHỤ NỮ
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sinh ra trong mét gia đình khoa
bảng, giàu lòng yêu nước, yêu lao động, lại ở một quê hương có truyền thống
nhanh chóng nhận ra chủ nghĩa Mác- Lênin là học thuyết cách mạng tiên tiến,
thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn mới, mà khẩu hiệu hành động của nó là: sự
phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi
người. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Khổng tử, Giê-Su, Mác, Tôn
Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phóc
cho loài người, mưu lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này,
nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ chung sống với nhau rất hoàn mỹ nh
những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị Êy"
[24, tr. 158].
Như vậy, trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống nhân ái của dân
téc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là cơ sở lý luận, phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư duy kiệt xuất của mình, Hồ Chí Minh
luôn nhấn quán một quan điểm lịch sử, đánh giá đúng đắn, khẳng định đúng
mức, với một thái độ trân trọng những giá trị văn hóa mà người xưa đạt được;
đồng thời cũng triệt để phê phán, bác bỏ các quan điểm không đúng. Vì vậy,
Người đã thu hái được những giá trị văn hóa quý báu nhất của thời đại trước
hình thành tư tưởng nhân văn ngời sáng. Có thể khẳng định chủ nghĩa nhân
văn Hồ Chí Minh thật độc đáo, khác người xưa khi có quan niệm rất khoa học
về con người, đó là không có con người chung chung, trừu tượng, phiến diện.
Hồ Chí Minh đã vượt lên ngang tầm văn minh của loài người, quan tâm đến
số phận của con người cụ thể, đồng thời còn vạch ra những biện pháp hữu
hiệu nhằm thực hiện triệt để việc giải phóng con người, trong đó tư tưởng
GPPN là một trong những điểm sáng nhất, thể hiện tầm nhìn sâu xa và triết
18
luận CM của Người.
2.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
Đảm bảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng
sáng tạo những vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp
ứng yêu cầu GPPN bằng những quan điểm rất đúng đắn, vừa mang tính quy
luật, vừa mang tính đặc thù, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, tạo
cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga" [13, tr. 435]. Thãi dâm bạo của bọn thực
dân không có giới hạn, thãi ăn cướp bóc lột của chúng cũng không kể xiết. Thuế
má nặng nề, nhiều phụ nữ khèn khổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đường
chỉ vì tội không nép nổi thuế. Họ và trẻ em còn bị đầu độc bởi thuốc phiện, rượu
và chế độ ngu dân. Người khái quát: "Người ta thường nói " chế độ thực dân là
ăn cướp". Chóng tôi xin thêm là hiếp dâm và giết người" [13, tr. 436].
Hồ Chí Minh đã tố cáo các tội ác tày trời của thực dân Pháp. Chẳng
hạn khi chúng đến một làng thì: "Tất cả dân chúng đều chạy trèn, chỉ còn lại
hai cô già, một thiếu nữ và một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú, tay
nắm một em gái lên tám…Ông già bị 2 tên trong bọn lính đem thiêu trong
một đống củi hàng mấy giê liền để làm trò vui với nhau. Trong khi đó thì một
tên khác giở trò đồi bại với 2 phụ nữ và bé gái. Xong chúng vật ngửa cô thiếu
nữ ra, trãi lại, nhét giẻ vào miệng rồi một tên đâm lưỡi lê vào bông cô, chặt
ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng" [23, tr. 10,11].
Vô luân hơn khi chóng coi phụ nữ nh mét con chã, bắt phải hiến thân
cho chã, nếu không chịu chúng giết ngay bằng lưỡi lê. Tất cả những tội ác nh
vậy thật không kể xiết: "Thãi dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không có
giới hạn nào cả. Cái tinh vi của một nền văn minh khát máu cho phép chúng
tưởng tượng được đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác lạnh ling của
chúng tới đó" [7, tr. 443].
Không những bị xâm phạm nhân phẩm, phụ nữ còn bị bóc lột sức lao
động hết sức nặng nề. Họ phải làm những công việc nặng nhọc, không có điều
20
kiện tối thiểu đảm bảo cho cuộc sống của một con người bình thường, khiến
nhiều người chết vì bệnh tật và tai nạn lao động. ở đó không có luật hay sự
hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột, người thợ bản xứ bị coi nh sóc vật.
Đã vậy, chúng còn đặt nhiều luật lệ cấm đoán, duy trì những tập tục lạc hậu
để ngăn cấm chị em phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị – xã hội. Bằng
chính sách ngu dân triệt để. Thực dân Pháp đã làm cho 98% phụ nữ Việt Nam
trong tình trạng tối tăm ngu dốt. Có thể nói, các thuộc địa là nơi hội tụ tất cả
- Ở Phết Mơ-đa-la (Angiêri), mỗi tên lính thực dân đã vồ lấy và hãm
hiếp một người trong sè 12 em gái ở độ tuổi 12, những phụ nữ có thai, những
bà cụ 70 tuổi, và những bà mẹ đang cho con bú suốt hơn một tháng trời…
- Năm 1929, Đảng Ku- Khec luc-Khamlan đã hành hình 12 phụ nữ ở
Mitxixipi, 7 phụ nữ ở Alabima, 6 phụ nữ ở Tếchdat, 5 phụ nữ ở ác - căng- da-
xơ, 5 phụ nữ ở Giooc-gi-a…
- "Công nhân phụ nữ ở Đông Dương chiếm một phần lớn trong giai
cấp vô sản. Bọn tư bổn và bọn đế quốc ngày càng mở rộng cách hợp lý hóa:
dùng công đàn bà cho rẻ, bởi vậy, số công nhân phụ nữ lại ngày càng thêm
đông. Trong đám quần chúng lao khổ ở thành phố và nhà quê, phụ nữ cũng
chiếm một phần lớn. Tình hình sinh hoạt của 2 hạng phụ nữ Êy rất cực khổ.
Ngoài những cảnh bóc lét nh: nhiều giê làm, Ýt tiền lương, họ lại bị phong
tục bó buộc, bị coi là hạng người tôi mọi rất đê tiện trong xã hội, không có
một chút tự do nào hết" [14, tr. 153].
Không chỉ đau nỗi đau của họ, mà khát vọng giải phóng phụ nữ Việt
Nam của Người được mở rộng thành khát vọng giải phóng phụ nữ ở tất cá các
dân téc thuộc địa
Phân biệt rạch ròi giai cấp thống trị và nhân dân lao động ở các nước
tư bản chính quốc, Hồ Chí Minh đã thật lòng xót thương các bà mẹ, những
người vợ, người chị, người em bị bọn thực dân cướp mất người thân ném vào
các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa bằng những lời lẽ chứa chan chủ
nghĩa nhân văn và chủ nghĩa quốc tế. Trong việc làm, Người và Đảng ta đã
22
cùng những người cộng sản và nhân loại tiến bộ tổ chức sự đoàn kết giữa phụ
nữ Việt Nam với phụ nữ tất cả các nước, trong đó có phụ nữ Pháp và phụ nữ
Mỹ đấu tranh chống chiến tranh xâm lược và bảo vệ hòa bình thế giới.
Từ những dẫn chứng cụ thể, Hồ Chí Minh đã biến sự phản ánh những
đau thương, tủi nhục của phụ nữ thuộc địa thành vũ khí sắc bén phê phán chủ
nghĩa thực dân. Theo Người, chủ nghĩa thực dân- con đẻ của chủ nghĩa đế
quốc và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc là chế độ dã man nhất, là thủ phạm
Minh đã đi đến kết luận có tính nguyên tắc: "Dân chúng công nông là gốc của
cách mệnh, đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều" [14, tr.
193].
Với Hồ Chí Minh, phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách
mạng. Không chỉ nhận thức sức mạnh của phụ nữ, Hồ Chí Minh còn biết đánh
thức những khả năng đó và đưa họ vào trận tuyến đấu tranh chung của dân téc.
Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Người luôn kêu gọi và có
biện pháp tổ chức để phụ nữ tham gia. Trong tài liệu huấn luyện "Đường
Kách mệnh", Người viết: "Cách mạng Nga mau thành công nh thế, đứng vững
nh thế, cũng nhờ đàn bà con gái giúp vào. An Nam cách mệnh cũng phải có
nữ giới tham gia mới thành công". Hưởng ứng lời kêu gọi đó, từ 1927 đến
1930, phụ nữ ở cả 3 miền đất nước đã tham gia tổ chức " Việt Nam cách
mạng thanh niên" như các chị Hoàng Thị ái, Nguyễn Thị Minh Lãng, Thái
Thị Bôi, Nguyễn Thị Nhỏ…Một số chị: Nguyễn Thị Minh Khai,Tôn Thị Quế,
Nguyễn Thị Xân đã tham gia hoạt động trong Tân Việt cách mạng Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2-1930) đã mở ra một thời kỳ mới có tính
bước ngoặt đối với vấn đề GPPN. Các chị lần lượt trở thành đảng viên của
Đảng khi mới 19-20 tuổi. Bằng chính mồ hôi, công sức, thậm chí cả máu
xương của mình, các chị đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp GPDT. Trước
tòa đại hình của kẻ thù, chị Nguyễn Thị Nhâm đã đanh thép trả lời: " tôi làm
cách mạng để lấy lại nước tôi, tôi không có tội gì cả, nếu các người muốn
buộc tội tôi thì hãy buộc tội bà Gian Đa, anh hùng cứu nước của nước Pháp đi
đã". Lòng yêu nước, tên tuổi và tấm gương hy sinh của các chị đã sáng lên
24
trên Diễn đàn Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII (7-1935) bởi báo cáo của
đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương Nguyễn Thị Minh Khai.
Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, phù hợp với sự chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược của Đảng, phụ nữ đã tích cực tham gia vào việc chuẩn bị
mọi mặt cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và
khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) đã thu hót đông đảo phụ nữ tham gia, có nhiều chị