LUẬN VĂN: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ trên địa bàn xã ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vận
động phụ nữ trên địa bàn xó ở tỉnh Hải
Dương trong giai đoạn hiện nay Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác vận động quần chúng có vai trò hết sức quan trọng trong suốt tiến trình
lịch sử của cách mạng Việt Nam: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân
liệu cũng xong”. “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” đó là sự tổng kết của
cha ông ta. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh đều khẳng định: “Cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng”, “quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử”.
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh sớm nhận thức rõ vai trò của công tác dân vận nói chung,
vận động phụ nữ nói riêng, Người đã thấy rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ
ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng. Người coi công tác vận động phụ nữ là khâu
quan trọng của phong trào cách mạng quần chúng. Trình độ chính trị, văn hoá, điều kiện
sống của phụ nữ phản ánh trình độ văn minh của xã hội.
Thực tế cho thấy, phụ nữ có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử dựng nước

phận nữ sinh con thứ 3…
Là giảng viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Dân vận ở Trường chính trị tỉnh,
tôi thấy cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, công tác vận động
phụ nữ, đặc biệt phụ nữ trên địa bàn xã, góp phần khẳng định và tìm ra những giải pháp
chủ yếu nhằm phát huy vai trò phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là
nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa thời sự cấp bách.
Chính thực tế trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về vận động phụ nữ trên địa bàn xó ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay” làm
luận văn tốt nghiệp, với mong muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào sự nỗ lực
chung của xã hội, của địa phương đối với sự tiến bộ của phụ nữ cả về phương diện lý luận
và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Các sách:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Nxb Thông tấn, HN, 2005.
- Nhiều tác giả, Bác Hồ trong trái tim phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, HN, 2007.
- Nhiều tác giả, Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ, Nxb Phụ nữ, HN, 2008. - Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1970.
- Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1990.
- Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1977.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hai mươi năm, một chặng đường phát triển của phụ
nữ Việt Nam (1975-1995), Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996.
- Lê Thị Nhâm: Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1987.
- Nguyễn Thị Thập, Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, tập 2, Nxb Phụ nữ, HN,
1981
- Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân, Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị
trường, Học Viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996.
Những công trình trên đã nghiên cứu và làm rõ vị trí vai trò của phụ nữ Việt Nam
trong nhiều lĩnh vực.

phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trên địa bàn xã.

Với phụ nữ Hải Dương đã có một số công trình nghiên cứu:
- Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương, Bác Hồ với Hải Dương, Nxb Thông tấn,
năm 2008.
- Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương: “Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ
Hải Dương giai đoạn 1930-1975”, năm 2000.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương: “Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải
Dương giai đoạn 1976-2000”, năm 2003.
- Hội Văn học - sử học Hải Dương, “Bà Chúa Sao Sa”, năm 2006.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương - Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tứ Kỳ: “Lịch
sử truyền thống cách mạng phụ nữ Tứ Kỳ 1945 - 2005”, năm 2006.
- Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương - Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Kinh Môn :
“Lịch sử phong trào phụ nữ huyện Kinh Môn (1946 - 2006)”, năm 2007.
Những công trình trên đã bước đầu đặt cơ sở cho việc nghiên cứu phụ nữ nói
chung và công tác vận động phụ nữ nói riêng, nêu lên những kiến nghị nhằm thay đổi bổ
sung chính sách đối với phụ nữ để họ có điều kiện phát triển, phát huy hết vai trò của
mình trong sự nghiệp đổi mới.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu các quan
điểm của Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã để vận dụng vào công
cuộc vì sự tiến bộ của phụ nữ hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ,
tác giả vận dụng, xem xét công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã ở tỉnh Hải Dương
trong giai đoạn 1997 - 2009.
Đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm vận động phụ nữ trên địa bàn xã ở Hải
Dương, đáp ứng yêu cầu của xã hội, của địa phương trong thời gian từ 2010 - 2015.

7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học
tập và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ ở Trường chính trị,
Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh.
- Cung cấp những luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định
chính sách cụ thể về công tác vận động phụ nữ nói chung, vận động phụ nữ trên địa bàn
xã ở tỉnh Hải Dương nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
kết cấu thành 2 chương, 6 tiết.

Chương 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ
1.1. Một số khái niệm
- Dân: là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong các chế độ xã hội, nhưng
nội hàm của nó có sự khác nhau. Trên cơ sở kế thừa, phát triển những yếu tố tích cực
trong quan niệm về dân ở các chế độ xã hội trước, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về dân, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm về dân đơn giản, dễ hiểu,
nhưng lại rất sâu sắc. Theo Hồ Chí Minh, dân là những người sống trong cùng một cộng đồng
quốc gia dân tộc, có chung một nguồn gốc, một cội nguồn. Dân gồm đủ các dân tộc
tôn giáo: Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán … Lương giáo, là tất cả các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội sĩ, nông, công, thương, binh, là tất cả mọi người, không phân biệt
già - trẻ, trai - gái, giàu - nghèo, sang - hèn, có lòng yêu nước, một lòng một dạ đi
theo Đảng Cộng sản Việt

noi theo.
Hồ Chí Minh hiểu dân vận theo cả chiều rộng và chiều sâu. Theo chiều rộng, “dân
vận” là vận động tất cả mọi người dân, không để sót một người nào nhằm tập hợp, đoàn
kết lực lượng toàn dân, thực hiện những công việc chung, những công việc nên làm. Hiểu
theo chiều sâu, “dân vận” là phải hiểu rõ năng lực, tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh cụ thể
của từng đối tượng để có hình thức vận động cho phù hợp.
Theo Người: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng
thành công” [43, tr.700]. Do đó, cần phải nhận thức rõ công tác vận động, giác ngộ nhân
dân nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng.
- Vận động phụ nữ
Khái niệm vận động có nhiều cách hiểu với những phạm vi rộng, hẹp ở nhiều khía
cạnh khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt, vận động được hiểu là sự tuyên truyền, giải thích, thuyết
phục người khác tự nguyện làm việc gì đó.
Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, “vận động phụ nữ” được coi
là việc tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, làm để nữ giới hiểu, thấy đúng, tin và làm
theo cho có hiệu quả.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan
tâm tới phụ nữ và công tác vận động phụ nữ. Ngay từ rất sớm, Người đã có những quan
niệm rất khúc chiết, đúng đắn về phụ nữ và vận động phụ nữ. Qua những bài viết, bài nói
của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy thực chất của vấn đề vận động phụ nữ là một nội dung
quan trọng của dân vận. Hồ Chí Minh đã bàn nhiều tới dân vận và đưa ra khái niệm bất
hủ về dân vận nhưng với khái niệm “vận động phụ nữ” Người chưa đi sâu luận giải.
Trong từng trường hợp, Người coi “vận động phụ nữ” là “tuyên truyền”, là “giải
thích”, “huấn luyện”; “động viên”, “bồi dưỡng” để nữ giới hiểu và từ đó thoát khỏi “sự
khốn cùng” thực tại của họ. Trong bài “Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông” Người khẳng định “Tuyên
truyền chính trị lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa

phân thành nhiều ngõ.
“Xã” là đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước và là một tổ chức, còn là một tế bào
kinh tế, quân sự, văn hoá khá hoàn chỉnh.
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “xã” là một đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn, bao
gồm một số thôn.
Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, “Địa bàn xã” là khu vực nhà
nước cấp cơ sở thấp nhất trong hệ thống 4 cấp ở nông thôn, do một số thôn hợp thành.
Từ các khái niệm, định nghĩa về “xã”, “làng, xã” trên đây có thể nói: “xã” là đơn
vị hành chính Nhà nước cấp cơ sở thấp nhất do chính quyền trung ương đặt ra và quản lý.
“Phụ nữ trên địa bàn xã” là khái niệm dùng để chỉ giới nữ đang sinh sống, hoạt
động trên phạm vi xã ở nông thôn.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ và vận động phụ nữ
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước
1.2.1.1. Vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tiếp nhận một cách đầy đủ, sáng
tạo những nguyên lý mà chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra, trong đó có tư tưởng về vị trí, vai
trò của phụ nữ, vận động phụ nữ.
Người luôn quán triệt những câu nói của C.Mác, của V.I.Lênin về vai trò của phụ
nữ, “những lời ấy không phải câu nói lông bông” [40, tr.288] mà đó là sự ghi nhận vai trò to
lớn của phụ nữ đối với cách mệnh “xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có
đàn bà, con gái tham gia” [40, tr.288- 289]. Từ thực tiễn và lý luận đã soi rọi, với phụ nữ
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “An Nam Cách mạng cũng phải có nữ giới tham
gia mới thành công”, bởi lẽ “nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội”. Qua đó Hồ Chí Minh đã
nhìn nhận đánh giá đúng vai trò của phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ chiếm số đông trong lực
lượng nhân dân, phụ nữ là một lực lượng to lớn, đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Bất cứ lĩnh vực nào cũng đều có bàn tay, khối óc của phụ nữ. Trưng” đã hiện hữu, đó là Đô đốc Bùi Thị Xuân, bà Đốc Khuy (tên thật là Trần Thị
Khuy, người Hải Hưng cũ), con gái của ông Lãi Khuy, một lãnh tụ nghĩa quân Bãi Sậy.
Khi cha mình bị tử trận, bà đứng lên thay cha chỉ huy nghĩa quân và được phong tới chức
đốc binh và rất nhiều phụ nữ vô danh khác đã góp phần xương máu của mình làm rạng
danh cho “non sông gấm vóc Việt Nam”.
Không chỉ có “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, không chỉ góp công sức, xương
máu đánh giặc giữ nước mà người phụ nữ còn đảm nhiệm và tham gia tích cực vào mọi
công việc của xã hội, trong lao động sản xuất. “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam đã có
nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính” [48, tr. 87-88]. Những phẩm
chất đáng kính ấy được thể hiện qua hình ảnh của Nguyên phi ỷ Lan, một phụ nữ đại diện
cho việc giữ chính quyền. “Bà đã thay vua Lê Thánh Tông trông coi việc triều đình khi
nhà vua đem quân đi đánh Chiêm - Thành, lại gợi ý cho vua Nhân Tông trong việc bảo vệ
trâu bò để đảm bảo việc cày bừa của dân gian” [30, tr.130]. Đó là Thái hậu Dương Văn
Nga, bà là đại diện cho những hành động thức thời trong đời sống hoạt động chính trị của
những người phụ nữ, thay chồng lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thử thách.
Trên đất nước ta còn vô số những người phụ nữ khác thay chồng và con trai quản lý xóm
làng những lúc giặc tràn tới xâm lược. Ngoài ra, trên các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật,
nhiều phụ nữ đã để lại những áng văn thơ nổi tiếng có tác động đến thắng lợi của cách
mạng và được lưu truyền cho tới tận hôm nay. Đó là những thi sĩ nổi tiếng như: Nhân
Khanh, Đoàn Thị Điểm, Nguyệt Đình, Lê Ngọc Hân, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân
Hương v.v. Họ đều có chung một suy nghĩ: phụ nữ Việt Nam đã kiên trì dũng cảm đảm
nhiệm mọi công việc trong phong trào đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến của
toàn dân ta. “Phụ nữ Việt Nam ta đã có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần
cù” [48, tr.85]. Yêu nước thiết tha và sẵn sàng hy sinh vì nước, tinh thần ấy ở các thế hệ
phụ nữ đã trở thành truyền thống như Hồ Chí Minh đã tổng kết, và họ đã bền bỉ đem tinh
thần ấy phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Hơn ai hết, phụ nữ rất hiểu: Mục
đích và ước mơ ấy của họ chỉ trở thành sự thực, khi có Đảng của giai cấp công nhân,
Đảng của dân tộc ta ra đời. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã là ngọn đuốc sáng chỉ lối đưa

chiến tranh. Phụ nữ là những người đã quyết “đảm nhận công tác hậu phương thay thế
nam giới ra tiền tuyến và một mặt quan trọng nhất là đảm bảo sản xuất, đảm bảo có đồ ăn
thức mặc để kháng chiến lâu dài”. ý thức được điều đó, vượt qua muôn ngàn gian khổ,
phụ nữ là người đã nỗ lực vượt bực, “phụ nữ tham gia sản xuất, khuyến khích chồng con ra trận, giúp đỡ binh lính may vá và giặt giũ quần áo, ưu đãi các gia đình kháng chiến,
quyên góp (tiết kiệm), trừ gian, đi du kích” [41, tr.438]. Những việc làm đó đã góp phần
cung cấp đủ cho bộ đội từ quân trang, lương thực, vải mặc, là ba khâu phấn đấu thực hiện
theo phương châm “tự lực cánh sinh” của nền kinh tế kháng chiến mà Đảng đã nêu ra. Vì
thế mà “nhân dân thì thi đua mua công phiếu kháng chiến, thi đua góp đảm phụ kháng
chiến, dù được Chính phủ miễn góp” [43, tr.657] để vừa sản xuất, vừa chiến đấu sẵn sàng
tiêu diệt địch trong mọi lúc, mọi nơi. Trong Thư gửi đồng bào Cao - Bắc - Lạng nhân dịp
chiến thắng trên chiến trường Biên giới ngày 14 - 10 -1950, Hồ Chí Minh đã vui lòng
thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào ở vùng Cao - Bắc - Lạng và những
công lao đặc biệt của phụ nữ ở đây: “Hàng vạn chị em Kinh, Thổ, Trại, Mán đã không
quản xa xôi, trèo đèo, lội suối, ăn đói nằm sương, đã thi đua làm việc sửa đường vận tải
giúp đỡ bộ đội để góp một phần vào thắng lợi” [44, tr.104]. Phong trào “hậu phương thi
đua với tiền phương” được thể hiện trên mọi phương diện đối với chị em phụ nữ, dù là
sửa đường, sản xuất, may vá, dù phải xông pha “mưa bom gió đạn” để giúp đỡ bộ đội
thì phụ nữ ta vẫn hăng hái thực hiện “Đồng bào đi dân công, đặc biệt là phụ nữ và thanh
niên, đã hăng hái tạm gác công ăn việc làm, xông pha mưa bom gió đạn, để giúp đỡ bộ
đội trong mọi việc” [44, tr.280]. Với tinh thần góp phần nhỏ bé của mình vào thắng lợi
của kháng chiến, dù đã có tuổi. “Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã
xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu” [44, tr.431].
Với tầm nhìn vừa khái quát vừa cụ thể, Hồ Chí Minh đã khơi sâu thêm lòng yêu nước của
phụ nữ, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các lực lượng “phụ nữ ở xí
nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan hăng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém
đàn ông” nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, biết bao nhiêu tấm gương phụ nữ

“đội quân đầu tóc” hay “đội quân tóc dài”. Đấy là những đội quân có đủ các bộ phận
tham mưu, chính trị, hậu cần mà từ cán bộ chỉ huy cho đến các chiến sĩ đều là những phụ
nữ bình thường nhưng cũng rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ. “Miền
Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ
rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi là đội quân tóc dài” [50,
tr.149]. Đó là nhận xét và sự động viên của Hồ Chí Minh với phụ nữ miền Nam tại lễ kỷ
niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Với lực lượng quần chúng tay không, dựa vào lòng yêu nước và ý chí đánh thắng địch, biết sử dụng ưu thế
chính trị của mình và nhược điểm phi nghĩa của địch, với những lời lẽ đanh thép và nhiều
hình thức phong phú, phong trào đấu tranh trực diện của phụ nữ trở thành một vũ khí sắc
bén, tấn công liên tục làm cho chúng phải hoảng sợ chùn bước. Khẳng định cho điều đó,
Hồ Chí Minh đã nêu ra những gương sáng: “Trong phong trào thanh niên xung phong
chống Mỹ cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và
chiến đấu như thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi”, “Những
cuộc đấu tranh ấy đã có tác dụng nêu cao chính nghĩa cách mạng, phát động căm thù,
nung nấu ý chí đấu tranh của quần chúng. Qua những cuộc đấu tranh đó, đội ngũ cách
mạng càng tăng cường đoàn kết, quyền lợi nhân dân được bảo vệ. Trong khi đó, bộ mặt
phi nghĩa của kẻ địch bị vạch trần, hành động phản động của chúng bị đẩy lùi, uy thế
không ngừng bị sa sút, hàng ngũ địch bị phân hoá sâu sắc”.
Phong trào đấu tranh của phụ nữ miền Nam một lần nữa cho thấy sự tiếp nối
truyền thống yêu nước, đánh giặc, bất chấp những phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại
của địch, phụ nữ giáng cho chúng những đòn trừng trị đích đáng trong những cuộc tấn
công “không hiểu được, không quen và không tài nào chống đỡ được” như sự thú nhận
cay đắng của chúng. Đại diện cho những “chiến tích này” đã được Hồ Chủ tịch biểu
dương: “Trong phong trào chống Mỹ cứu nước, ở miền Nam có nhiều chị em rất anh
hùng, như các cô út Tịch, Tạ Thị Kiều, Trần Thị Vân và nhiều cô khác” [50, tr.149].
Chính các chị là những người đã phát động và dấy lên ở khắp nơi phong trào “tìm Mỹ mà
diệt, tìm Nguỵ mà đánh”.

viên khuyến khích con em mình đi kháng chiến: “Các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con
cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu nước. Ngoài ra còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ và bảo
vệ cán bộ chiến sĩ khác như con cháu của mình” [50, tr.148]. Người dẫn ra những gương
phụ nữ Việt Nam điển hình, đó là: “Bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn
không sợ sóng to gió lớn, suốt đêm chèo thuyền đưa bộ đội qua sông để chiến đấu” [50,
tr.148]. Theo Người, đó là “trực tiếp tham gia kháng chiến”. Đó là “Bà mẹ Cán, người Thái ở
Sơn La có sáu con thì hai con đi bộ đội, bốn vào du kích, bản thân bà mẹ cũng hăng hái Bạch
đầu quân” [50, tr.149]. Đó chẳng phải là những điển hình vì dân vì nước hay sao? Bác khen
ngợi và nêu gương: “Mẹ Đích còn rất tự hào là cả nhà gồm có bốn con trai, hai con gái, một
con rể đều vẻ vang được tham gia Đảng Lao động Việt Nam” [50, tr.149]. Đúng như Bác đã
khẳng định “Đảng của nhân dân lao động” và “Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lớp “cha trước”, lớp “con sau”, đó là truyền thống tiếp nối nhau cùng đánh giặc
của dân tộc Việt Nam nói chung, của phụ nữ Việt Nam nói riêng. Hồ Chí Minh đã ghi
nhận, nêu gương thành tích của các cháu gái còn ở độ tuổi thiếu niên, nhi đồng. Hưởng
ứng phong trào thiếu niên “làm nghìn việc tốt”, các cháu nhi đồng đã hăng hái thi đua
giúp đỡ nhau trong học tập để người lớn rảnh rang lo chiến đấu và sản xuất “Cháu Tứ, 13
tuổi, ở Thái Bình, đã cõng một bạn gái bị què chân đi học suốt ba năm liền”, “Cháu
Hoàng Thị Phiến và Lê Thị Thỉu ở Vĩnh Linh đều 10 tuổi đã thay nhau cõng cháu Việt 8
tuổi (con một chiến sĩ miền Nam tập kết) đi học vì chân cháu có tật, nhà trường lại cách
xa hai cây số, phải qua hai ngọn đồi” [50, tr.150]. “Cháu Nguyễn Thị Sành, 12 tuổi ở Hà
Bắc, đã nhảy xuống nước cứu hai bạn nhỏ khỏi chết đuối”. Đó là nhận xét của Bác Hồ về
sự dũng cảm của thiếu niên, thế hệ kế tiếp của phụ nữ Việt Nam [50, tr.150]. “Và đặc biệt hơn
nữa khi mới có 9 tuổi, khi máy bay giặc Mỹ đang điên cuồng bắn phá dữ dội nhưng cháu gái
vẫn cứu được đàn trâu của hợp tác thoát khỏi bom đạn, đó là cháu Dương Thị Đống”, quê ở
Vĩnh Linh.
Với tất cả những gì phụ nữ Việt Nam đã cống hiến, Hồ Chí Minh kết luận: “Từ
đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày
nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng

mới 13 tuổi còn đi học, cũng đã làm được 1000 cân phân” [48, tr.88]. Theo Hồ Chí Minh
có được những thành tích trên là do bản thân phụ nữ đã cố gắng, cần cù, chịu khó. Nói
chuyện với nhân dân Thanh Hoá, Người nhận xét: “Chị em phụ nữ Thanh Hoá có tinh
thần cần cù lao động rất tốt. Như thế là vừa làm lợi nhà, vừa làm ích nước” [46, tr.401].
Điều đó đã chứng tỏ rằng “Bất kỳ việc gì nặng nhọc mấy, họ cũng làm được. Có thể nói
rằng ở Đông - Nam á, phụ nữ Bắc Việt Nam là người lao động cừ nhất” [49, tr.538].
Theo Hồ Chí Minh, phụ nữ có những đóng góp to lớn trong các hoạt động chính trị,
văn hoá, xã hội. Chị em không ngừng học tập nâng cao trình độ hiểu biết của mình, để phục
vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thông qua các phong trào “Bình dân học vụ,
bổ túc văn hoá”, Người nhận xét: “Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ
chiếm một phần lớn trong số người dạy cũng như người học” [44, tr.432]. Chính từ những cố
gắng trong học tập, nâng cao trình độ văn hoá đã giúp phụ nữ có khả năng tham gia tổ chức
quản lý xã hội, nhiều người đã trở thành Chủ tịch Uỷ ban hành chính, Bí thư chi bộ, “hàng
vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ lãnh đạo”, làm Giám đốc và Phó giám đốc các xí nghiệp:
“Phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều” [48, tr.184] và “phụ nữ đã có người gánh vác những trách nhiệm nặng như làm thẩm phán, chánh án, giám đốc” [48,
tr.184], góp phần gìn giữ kỷ cương xã hội. Không chỉ thế, chị em còn vận động nhau tham
gia công tác xã hội như: xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo, xây dựng công viên, tham gia Tết trồng
cây.
Chứng kiến những nỗ lực của phụ nữ cũng như những thành tựu chị em đạt được
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng: Dưới chủ nghĩa xã hội, người phụ
nữ dũng cảm có thể hoàn thành nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm
vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực.
Có thể nói với tầm nhìn khoa học và cụ thể, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao và chính
xác vai trò, vị trí, khả năng của phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử đấu tranh cách
mạng, từ thuở đầu dựng nước, giữ nước, từ trước khi Đảng ra đời cho tới thời kỳ xây
dựng chủ nghĩa. Người rút ra kết luận: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ, trẻ cũng
như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [44, tr.432]. Đây là một tổng kết mang

ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những
hành động tàn nhẫn của bọn quan lại cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà toa, nhà
ga” [40, tr.105]. Thậm chí ngay trên đất Bến Thành tại Sài Gòn mà “người Âu” vẫn cho
mình một cái quyền mắng phụ nữ là “con đĩ, con bú dù”, thẳng tay “dùng roi gân bò, dùi
cui đánh phụ nữ bản xứ” chỉ vì bắt họ tránh khỏi làm nghẽn lối
Theo Người, chỉ từng ấy thôi cũng đủ để minh chứng và kết tội chủ nghĩa tư bản.
Từ khi có chủ nghĩa tư bản, toàn bộ cơ thể xã hội đều bị ảnh hưởng tai
hại của nó. Các vật phẩm do tất cả mọi người sản xuất ra, đáng lẽ phải thuộc về
tất cả mọi người thì lại thuộc về đặc quyền của một vài người. ách áp bức kinh
tế đã nô dịch con người, cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành những đồ vật
tuỳ thuộc quyền sử dụng của nam giới [39, tr.267-268].
Từ đó, Người cho rằng phải kêu gọi phụ nữ, “ở đây còn phải làm nhiều việc vận
động phụ nữ và thiếu nhi” [40, tr.3], phải vận động phụ nữ ở thời kỳ này vì ngoài tình
cảnh khốn cùng của chị em, sự dã man vô nhân đạo đến tột cùng của của chủ nghĩa thực
dân thì trên thế giới phụ nữ đã đấu tranh để tự giải phóng cho mình và họ đã làm được;
Người nêu ra những gương phụ nữ thế giới đấu tranh để từ đó vận động phụ nữ Việt
Nam: Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ
nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh.
Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc Cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và
đang đấu tranh vì độc lập Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải từ bỏ
đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v [39, tr.267].
Người nhắc lại quan điểm của C.Mác về vai trò của phụ nữ trong đấu tranh, đồng
thời muốn gửi một thông điệp tới phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng rằng:
phải đấu tranh mới có sự tiến bộ cho phụ nữ, mới có bình đẳng nam nữ, đó cũng là cách
vận động phụ nữ: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ
nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì
biết xã hội tiến bộ ra thế nào?” [40, tr.288]. Nguyễn ái Quốc kết luận: “Vậy nên muốn thế

nô lệ thì họ và con gái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi” [40, tr.443].
Với quan điểm nhất quán đó, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho công cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, Người đã hết sức coi trọng việc tập hợp, đoàn kết rộng rãi
các tầng lớp phụ nữ: công nhân, nông dân, trí thức, tiểu thương mọi phụ nữ có tinh thần
yêu nước, thương nòi thành một lực lượng thống nhất đấu tranh cho mục tiêu chung là
độc lập, tự do của dân tộc và sự tiến bộ của phụ nữ. Trong bài Bà Trưng Trắc, Người viết:
“Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái biết cách mệnh. Huống chi bây giờ,
hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng
nào ngồi yên được! Chị em mau mau đoàn kết lại!” [40, tr.457]. Cùng với lời kêu gọi,
Người chỉ đạo thành lập hẳn một tổ chức phụ nữ ngang hàng với các tổ chức khác để chị
em hoạt động.
Với công tác vận động phụ nữ, ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã đánh giá cao phụ nữ
và nhìn nhận thấy phụ nữ là lực lượng quần chúng bị áp bức, bóc lột nhất nên khả năng
cách mạng rất to lớn. Tuỳ vào từng giai đoạn, từng thời điểm mà Hồ Chí Minh đưa ra
phương châm công tác, phương pháp lãnh đạo cách mạng, sử dụng những hình thức tổ
chức, phù hợp với từng đối tượng quần chúng và luôn luôn có những khẩu hiệu đòi quyền
lợi chính đáng cho phụ nữ.
Hồ Chí Minh cho rằng, để vận động phụ nữ có hiệu quả nhất thì ngoài vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước thì vai trò, chức năng của Hội phụ nữ trong việc tập
hợp giáo dục phụ nữ làm cách mạng, đồng thời chăm lo quyền lợi cho phụ nữ. Để tập hợp vận động phụ nữ tham gia cách mạng, Hồ Chí Minh đề ra nhiều tổ chức
phụ nữ có nội dung hoạt động phù hợp với trình độ, hoàn cảnh của phụ nữ và đáp ứng yêu
cầu của cách mạng. Trong bài Kính cáo đồng bào, Nguyễn ái Quốc kêu gọi “Phụ nữ cùng
toàn dân đoàn kết đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi
lửa bỏng” [41, tr.198], trong bài Thế giới đại chiến và phận sự dân ta, Người kêu gọi phụ
nữ vào “Phụ nữ cứu quốc hội”. Tháng 3, năm 1944, trong Báo cáo về tình hình các Đảng
phái đọc tại Đại hội các đoàn thể Cách mạng Việt Nam ở nước ngoài (Quảng Tây -
Trung Quốc), Hồ Chí Minh cho biết “Hội phụ nữ giải phóng đã được thành lập” [41,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status