GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
Ngày soạn 24/9/2012 Chủ đề 1: NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP TRONG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT,
Tuần: 1, 2, 3, 4 (4 tiết) THỰC HÀNH SỬA LỖI
I. Yêu cầu cần đạt:
1. Kiến thức:Giúp học sinh biết được những lỗi thường mắc phải trong quá trình
sử dụng tiếng Việt
2. Kĩ năng: Nhận diện những lỗi khi sử dụng tiếng Việt.
3. Giáo dục :Ý thức sử dụng đúng tiếng Việt, yêu quí tiếng mẹ đẻ.
II. Phương pháp dạy học:-Phát vấn để tìm ra những lỗi học sinh thường mắc phải
-Gợi tìm .
-Củng cố định hướng.
III. Phương tiện dạy học:Sách tham khảo Làm văn (ĐHSP)
Sửa lỗi ngữ pháp
Tiếng Việt 10 (cũ)
IV. Tiến trình bài học:
1. Giới thiệu chương trình tự chọn lớp 10.
2.Giới thiệu bài mới: Trong hoạt động giao tiếp thường ngày cũng như trong học tập, học
sinh thường mắc những lỗi về việc sử dụng tiếng Việt:lỗi về từ, lỗi về câu, lồi về đoạn
văn Nguyên nhân chủ yếu của sự mắc lỗi này chủ yếu bắt nguồn từ chỗ:
-Nghèo vốn từ tiếng Việt, chưa hiểu đúng nghiã của từ, ít đọc sách.
-Chưa ý thức về một hiện tượng ngữ pháp nào đó.
-Trình độ tư duy còn hạn chế.
-Chưa phân tích rành mạch được những quan hệ phức tạp trong kết cấu câu.
-Chưa ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng đúng tiếng Việt.
Hoạt động thầy và trò Nội dung bài học
GV:Trong quá trình sử dụng từ, chúng ta
thường mắc những lỗi nào nhất?
GV:Em hãy phân biệt sự khác nhau giữa
hai từ sau:
-bàng quan và bàng quang
có:
Ví dụ:
1
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
Những lỗi này rất nhiều vẻ, nhưng giới hạn của bài học chỉ cho phép chúng ta tìm những lỗi
cơ bản thường gặp nhất như lỗi về cách dùng từ, lỗi về đặt câu.
.
GV:Em hãy tìm lỗi dùng từ trong câu sau:
Vì sao cô gái có con lại nói dối chàng
trai là “hãy còn son” ? Có thể đấy là đứa
con do cô chửa hoang hoặc chửa với người
mà cô không yêu và cô không thừa nhận
nó.
Ngày xưa tiếng trống thúc thuế là nỗi kinh
hoàng của người nông dân lao động. Bởi vì
nó là tiếng trống báo hiệu cảnh bán vợ đợ
con, cảnh đánh đập tra khảo. Còn ngày
nay, tiếng trống thúc thuế của chúng ta đã
trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc của
những người chân lấm tay bùn.
Không thể qui một hiện tượng phức tạp này
vào trong một số các thao tác nghèo nàn
cứng nhắc đựơc . Ở đây chúng ta chỉ tìm
dẫn chứng minh hoạ.
GV:Chia HS thành 4 nhóm thảo luận tìm
cách sửa các câu sai trên. Sau đó , rút ra
các bước chung cho thao tác sửa lỗi.
sai. Cuối cùng căn cứ vào ý nghĩa cần biếu
đạt, các sắc thái ý nghĩa khác để tìm ra một
đơn vị thích hợp nhất có thể thay thế cho từ
ngữ dùng sai.
-Đưa từ thay thế vào văn bản , kiểm tra sự
đúng đắn của nó bằng các từ xung quanh,
căn cứ vào nhiệm vụ thông báo , tính
khuynh hướng của toàn bài, ý lớn của cả
đoạn, cả câu .
B. Lỗi về câu:
I Những lỗi về câu thường gặp:
1.Sai cấu trúc nòng cốt:
-Câu mới chỉ có kết cấu giới từ hoặc cụm
danh từ chỉ thời gian, vị trí. Thông thường
2
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
GV:Em hãy tìm ra chỗ sai trong câu sau:
Hình ảnh người dũng sĩ mình mặc giáp
sắt, đầu đội mũ sắt , cỡi ngựa sắt, vung roi
sắt xông vào bọn giặc. Hình ảnh đó tiêu
biểu cho tinh thần chiến đấu dũng mãnh để
bảo vệ quê hương đất nước của dân tộc ta.
GV:Em hãy tìm ra chỗ sai trong câu sau:
Bằng trí tuệ sắc bén thông minh của
người lao động đã đấu tranh không khoan
nhượng chống laị lễ giáo phong kiến lạc
hậu bảo thủ.
Trong ví dụ trên người viết nhầm tưởng
vẫn chưa xác lập được cấu trúc cơ bản.
-Câu chỉ mới có một cụm danh từ.
-Câu thiếu chủ ngữ.
Nguyên nhân chủ yếu của lỗi này là tình
trạng chập cấu trúc. Người viết nhầm tưởng
hoặc cụm danh từ đóng vai trò là một bộ
phận của thành phần nào đấy. Kết cục là câu
văn vẫn chưa có chủ ngữ.
2.Câu thiếu vế:
Trong tiếng Việt, các loại câu ghép có
quan hệ đièu kiện - kết quả, nguyên nhân-
kết quả, nhượng bộ tăng tiến , quan hệ đối
lập thường bao giờ cũng có hai vế hô ứng
liên hoàn nhau. Nếu không có ngữ cảnh
trước nó cho phép thì không thể viết câu chỉ
có một trong hai vế được, phạm khuyết
điểm này sẽ dẫn đến câu què, tức là câu chỉ
có một vế.
3. Câu sai quan hệ:
-Quan hệ chủ vị không hợp lí.
-Quan hệ thành phần phụ tình huống và
kết cấu cơ bản không phù hợp.
-Quan hệ giữa các vế trong câu ghép
không phù hợp
4. Câu có kết cấu rối nát:
Người viết triển khai phán đoán, suy lí
theo các quan hệ phức tạp nhiều tầng bậc,
nhưng không xác định được quan hệ ý nghĩa
và quan hệ ngữ pháp rõ ràng, nên câu bị rối
3
và cách chữa hợp lí.
-Tìm ra được nội dung và mục đích định
viết của chủ thể và cố gắng giữ lại tối đa
nội dung và mục đích của chủ thể ấy .
Luyện tập: Hãy tìm những chỗ sai trong các câu sau:
1. Với đôi tay khéo léo và óc thẩm mĩ tinh tế cho nên người thợ trẻ đã tạo ra những sản
phẩm mành trúc có giá trị.
2. Theo lời kêu gọi của Ban giám hiệu, nên mỗi học sinh góp một quyển sách cho thư viện
trường.
3. Với nền nghệ thuật phong phú của dân tộc Khơ-me đã góp phần không nhỏ vào kho
tàng văn hoá Việt Nam.
4. Trong tình hình kinh tế hiện tại đòi hỏi chúng ta phải xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp.
5. Thế rồi những khó khăn liên miên, nhất là trong thời kì chiến tranh phá hoại của Đế
quốc Mĩ, xí nghiệp không thể phát triển lên được.
6. Năm 1986 là năm vẻ vang nhất trong hàng chục năm qua của nhà máy Bát Tràng đã đạt
sản lượng và chất lượng cao nhất .
7. Người cần cấp cứu là người nào đưa vào phòng này?
8. Bóng rơi xuống chỗ trống trải trứơc Cường đã chực sẵn, liền đá tạt vào lưới.
9. Vấn đề nổi cộm nhất là nguồn vật tư bị thiếu và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đình
trệ sản xuất.
4
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
10. Vào lúc đó, chính quyền đô hộ ở nước ta sau những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta
và của binh sĩ người Việt làm cho nền tảng của sự đô hộ bị lung lay dữ dội.
11. Lúc đó, chính quyền đô hộ trong thời kì suy yếu sau những cuộc nổi dậy của nhân
dân.
12. Như một điểm tựa của tinh thần, sáu tháng đầu năm nay, có Nghị quyết 2 của Trung
ương Đảng chỉ hướng, xí nghiệp đã khơi dậy một tiềm năng, một phong trào thi đua sản
xuất khá.
• Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát (chương trình chuẩn)
• Làm văn 12 (cũ)
• Sửa lỗi ngữ pháp
• Làm văn ĐHSP.
III. Phương pháp:
• Chú ý hoạt động của học sinh
• Thảo luận nhóm.
• Gợi tìm.
5
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
IV. Tiến trình tổ chức:
1. Kiểm tra bài cũ: Làm bài tập phần luyện tập.
2. Bài mới:
Hoạt động thầy và trò Nội dung bài học
GV: Em hãy tìm một đoạn văn
trong tác phẩm tự sự đã học mà
em rất thích cách diễn đạt đó.(cho
học sinh tự do lựa chọn)
GV: Vì sao em thích? Đoạn văn
đó tác giả dân gian biểu hiện điều
gì? Bằng phương tiện gì? Người
tiếp nhận có lĩnh hội được những
điều tác giả muốn thể hiện đó
không? Theo em tác giả dân gian
có thành công trong việc diễn đạt
đoạn văn trên không?
GV: Vậy em hãy rút ra thế nào là
kĩ năng diễn đạt?
GV: Theo em kĩ năng diễn đạt
viết, viết hoa, viết từ nước ngoài
+Dùng dấu câu hay các kí hiệu chữ viết khác
và cả việc trình bày văn bản
- Kĩ năng dùng từ sao cho đúng và hay:
+Đúng về hình thức cấu tạo.
+Đúng về ngữ nghĩa.
+Đúng về ngữ pháp.
+Đúng về sắc thái biểu cảm và phong cách
ngôn ngữ chung của bài viết.
+Sử dụng từ một cách có sáng tạo, có tính nghệ
thật và đạt hiệu quả giao tiếp cao.
- Kĩ năng đặt câu sao cho mỗi câu đều đúng
nguyên tắc ngữ pháp của tiếng Việt, đáp ứng được
nhiệm vụ và mục đích giao tiếp chung của cả bài
văn, đồng thời nội dung ý nghĩa của từng câu thể
hiện chính xác và rõ ràng nội dung định biểu đạt và
phù hợp với những qui tắc chung trong nhận thức
và tư duy của con người.
- Kĩ năng liên kết các câu để tổ chức nên các
đơn vị lớn hơn của bài văn (đoạn, mục, phần) và tổ
chức nên toàn bài văn (văn bản).
- Kĩ năng tách đoạn văn và kiên kết các đoạn,
mục phần trong bài văn, kĩ năng đặt đề mục và tên
đề cho văn bản,
2.Một số yêu cầu cơ bản về diễn đạt trong bài
viết:
6
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
diễn đạt khi viết văn là gì?
tránh tình trạng xa đề, lạc đề, hoặc giữa các câu,
các đoạn có những ý thừa, lặp.
Khi lập luận, cần phải thiết lập và thể hiện
được quan hệ lập luận giữa luận cứ và kết luận,
hoặc giữa các luận cứ với nhau cho chặt chẽ, tránh
mâu thuẩn.
c.Cần diễn đạt ngắn gọn, giản dị, tránh cầu kì, sáo
rỗng. Sự diễn đạt trong bài viết cần hay và hấp dẫn,
nhưng không vì thế mà rơi vào tình trạng cầu kì hay
sáo rỗng. Cần tránh những cách diễn đạt hoa mĩ,
đao to búa lớn nhưng sáo rỗng hoặc không phù hợp
với điều định thể hiện. Tất nhiên, cũng cần tránh lối
diễn đạt đơn điệu, nhàm chán đều đều không thay
đổi.
d. Cần diễn đạt phù hợp với phong cách ngôn ngữ
của bài văn. Đây là yêu cầu về diễn đạt ở mọi cấp
độ, mọi phương tiện ngôn ngữ: cần phù hợp với
phong cách ngôn ngữ của bài viết về chữ viết về
dùng từ, đặt câu;về dùng hình ảnh, kết cấu và tổ
chức bài văn, Đặc biệt là cần tránh viết như nói,
nghĩa là không phân biệt ngôn ngữ viết với ngôn
ngữ nói.
3.Phân tích và chữa một số lỗi về diễn đạt:
a.Diễn đạt tối nghĩa, quan hệ ý nghĩa không rõ
ràng, mạch lạc.
Phân tích ví dụ 1: Diễn đạt mắc nhiều lỗi:
-Quan hệ ý nghĩa giữa phần trạng ngữ (Trong khi
gia đình bị tan nát ) và chủ ngữ (nguyễn Du)
không phù hợp.
-Phần “trên địa vị của đồng tiền có thể đổi trắng
xuống. Sóng biển cài then đêm
sập cửa, vũ trụ đi vào yên tĩnh
-Sai hình thức cấu tạo của cụm từ “tác oai tác
phúc” (phải là tác oai tác quái) , dùng sai từ hãm
hại.
-Phần “thật hết sức vô liêm sỉ” không có quan hệ ý
nghĩa rõ ràng với các phần trên.
Có thể chữa lại như sau:
Gia đình Thuý Kiều bị tan nát. Bọn sai nha
hoành hành hách dịch vơ vét của cải và tra khảo
Vương Ông. nguyễn Du đã nhìn thấy bộ mặt thật
của bọn sai nha và quan lai chỉ vì tiền. Tiền đã
khiến cho bọn chúng có thể “đổi trắng thay đen”.
Tiền tài đã tác oai tác quái trong xã hội, đã gieo
bao tai vạ cho người dân lương thiện, trái lại đã
làm giàu cho lũ sai nha và quan lại. Vì tiền, bọn
quan lại, sai nha trở nên hết sức vô liêm sỉ.
b.Diễn đạt dài dòng, lủng củng, “dây cà ra dây
muống”
Phân tích lỗi:
-Câu dài lủng củng, lằng nhằng giữa các ý.
-Phần đầu không phân định rõ ràng giữa trạng ngữ
và chủ ngữ.
-Trật tự sắp xếp trong phần “với tất cả vì đất nước
vì nhân dân ông nghĩ như vậy mà nguyện cứu
nước cứu dân” không mạch lạc.
-Từ “với” dùng trong hai lần trong câu đều không
đúng, làm cho quan hệ ý nghĩa trong câu không
được phân định rõ ràng.
Có thể chữa bằng cách ngắt thành nhiều câu và
chuẩn bị nhổ neo lên đường.
GV: Em hãy tìm lỗi diễn đạt trong
ví dụ sau:
Ví dụ 4: Quan lại tham nhũng
bóc lột nhân dân. Chính vì thế mà
tên quan xử kiện đã bắt cha và em
Thuý Kiều sau khi vơ vét của cải
nhà Vương Ông.
GV: Em hãy tìm lỗi diễn đạt trong
ví dụ sau:
Ví dụ 5: Tác phẩm “Sống mòn”
của Nam Cao tập trung đi sâu
vào cái bi kịch tâm hồn của con
người trong cái xã hội không cho
con người sống, có ý thức về sự
sống mà không được sống, bị
nhấn chìm trong cái “chết mòn”
không gì cưỡng lại được. Nhà văn
Hộ chết mòn với cái mộng văn
chương tha thiết của mình. Thứ
phải sống lối sống quá ư loài vật,
chẳng còn biết một việc gì ngoài
cái việc kiếm thức ăn đổ vào dạ
buồm, thấy rõ những khuôn mặt rám nắng, những
cánh tay gân guốc, bắp thịt nổi cuồn cuộn, vũ trụ dã
yên tĩnh, vắng lặng không một tiếng động, nhưng
rồi lại miêu tả tiếng phần phật của lá cờ, tiếng vỗ
sóng,
-Sự tưởng tượng của cá nhân người viết không
đúng với bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy
tác phẩm khác.
-Giữa các câu thiếu sự chuyển ý nên thiếu gắn kết
với nhau.
Có thể chữa lại như sau:
Tác phẩm của Nam Cao tập trung vào cái bi
kịch tâm hồn con người trong cái xã hội không cho
con người sống, nơi con người có ý thức về sự sống
mà không được sống và bị nhấn chìm trong cái
“chết mòn” không gì cưỡng lại được. Trong “Sống
mòn” Thứ phải sống “cái lối sống qúa ư loài vật,
9
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
dày. San sống buông xuôi, nước
chảy bèo trôi, không giằng xé,
quằn quại, không mơ ước cao xa.
Lão Hạc mỏi mòn với sự chờ đợi
đứa con lưu lạc nơi chân trời góc
bể. Ở Oanh, tình cảm, tâm hồn
con người bị vắt kiệt để còn
những tính toán ích kỉ, nhỏ nhen,
keo kiệt.
GV: Em hãy tìm lỗi diễn đạt trong
ví dụ sau:
Ví dụ 6:Mọi vật đều như ngưng
đọng trong bài thơ “Câu cá mùa
thu” của Nguyễn Khuyến. Cảnh
vật phảng phất nỗi buồn man
mác. Một chiếc thuyền câu bé tẻo
teo cô quạnh. Một ngõ trúc vắng
ước cao xa. Còn Oanh lại chết dần chết mòn theo
kiểu khác. Ở người đàn bà gày đét này, tình cảm,
tâm hồn con người bị vét kiệt để chỉ còn những tính
toán ích kỉ, nhỏ nhen, keo kiệt. Những nhân vật ở
những tác phẩm khac thì cũng chẳng hơn gì: nhà
văn Hộ chết mòn với cái mộng văn chương tha
thiết của mình; lão Hạc, một nông dân nghèo khổ,
thì mòn mỏi với sự chờ đợi đứa con lưu lạc nơi
chân trời góc bể.
g.Diễn đạt trùng lặp:
Phân tích lỗi diễn đạt trong ví dụ 6: Đoạn văn có
10 câu nhưng ý trùng lặp ở 4 câu: 2,5,6,9.
Có thể chữa lại như sau:
Mọi vật đều như ngưng đọng trong bài thơ
“Câu cá mùa thu ” của Nguyễn Khuyến. Cảnh vật
phảng phất nỗi buồn man mác. Một chiếc thuyền
câu bé tẻo teo cô quạnh , buồn bã. Một ngõ trúc
vắng vẻ, đìu hiu. Và cả chiếc lá vàng rơi cũng
buồn. Nỗi buồn như thấm đậm trong từng cảnh vật.
Mùa thu ở đây buồn hay chính là nỗi buồn trong
tâm tư Nguyễn Khuyến?
h.Diễn đạt sáo rỗng:
Phân tích lỗi dãên đạt trong ví dụ 7: đoạn văn
viết theo “điệu sáo”: đề cập thành công đủ cả hai
mặt nội dung và nghệ thuật. Hơn nữa ở mặt nào,
người viết cũng dùng những tính từ ở cấp tuyệt đối
“quật cường, sâu sắc, tuyệt vời, độc đáo, hấp dẫn,
để lại những ấn tượng không thể phai mờ”, nhưng
nội dung quá chung chung, không có gì cụ thể,
không cho người đọc thấy được thành công cụ thể,
sâu sắc vừa ngọt ngào của ông.
viết là nói dến tác động của tác phẩm Rừng xà nu
-tác phẩm đã thức tỉnh mọi người, gạt bỏ những suy
nghĩ không đúng và động viên khích lệ mọi người.
Nhưng người viết đã vụng về khi dùng những hình
ảnh “tạt vào mặt người đọc những ca nước lạnh”,
“xoa nhẹ vào tim gan mỗi con người”, hay cụm từ
“những suy nghĩ vẩn vơ bậy bạ”.
Nên diễn đạt giản dị mà sáng rõ hơn, chẳng han:
Với truyện “Rừng xà nu”, tác giả Nguyễn
Trung Thành đã làm thức tỉnh mọi người (về ý chí
và tình cảm cách mạng), gạt bỏ những suy nghĩ và
nhận thức không đúng, đồng thời khích lệ và động
viên mọi người (trong cuộc chiến đấu với kẻ thù).
k. Diễn đạt không phù hợp với phong cách ngôn
ngữ viết của bài văn:
Phân tích lỗi diễn đạt trong ví dụ 9: Đoạn văn
diễn đạt theo kiểu bóng bẩy, dùng hình ảnh, nhưng
vụng về và không phù hợp với phong cách ngôn
ngữ viết của bài văn, nhất là các cụm từ: bay bổng
khắp bốn phương trời, rải rác khắp các nẻo
đường, nếm mùi vị văn chương,
Cần diễn đạt giản dị và phù hợp với phong cách
ngôn ngữ viết hơn, chẳng hạn:
Có thể nói, với tác phẩm ấy, tên tuổi của nhà
văn đã trở nên nổi tiếng. Tài nghệ văn chương của
nhà văn đã được mọi người biết đến từ Nam đến
Bắc, từ Đông sang Tây. Không một nơi nào không
thưởng thức và khâm phục vị sâu sắc và ngọt ngào
trong văn chương của ông.
quân thù đã phải khiếp sợ và mãi mãi lưu truyền trong lịch sử đất nước ta.
Ví dụ 3: Đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong cảnh màn trời buông xuống. Sóng biển cài
then đêm sập cửa, vũ trụ đi vào yên tĩnh vắng lặng. Bốn bề không tiếng động. Lá cờ đỏ trên
đỉnh cột buồm bay phần phật trước gió. Những đường chỉ viền óng ánh như sáng rực trong
đêm. Tiếng sóng vỗ vào thân thuyền rì rầm nghe như bản nhạc vô tận của biển cả ngân nga
muôn lời tâm sự. Những khuôn mặt rám nắng, những cánh tay gân guốc, bắp thịt nổi cuồn
cuộn khẩn trương chuẩn bị nhổ neo lên đường.
Ví dụ 4: Quan lại tham nhũng bóc lột nhân dân. Chính vì thế mà tên quan xử kiện đã bắt
cha và em Thuý Kiều sau khi vơ vét của cải nhà Vương Ông.
Ví dụ 5: Tác phẩm “Sống mòn” của Nam Cao tập trung đi sâu vào cái bi kịch tâm hồn của
con người trong cái xã hội không cho con người sống, có ý thức về sự sống mà không được
sống, bị nhấn chìm trong cái “chết mòn” không gì cưỡng lại được. Nhà văn Hộ chết mòn
với cái mộng văn chương tha thiết của mình. Thứ phải sống lối sống quá ư loài vật, chẳng
còn biết một việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào dạ dày. San sống buông xuôi, nước
chảy bèo trôi, không giằng xé, quằn quại, không mơ ước cao xa. Lão Hạc mỏi mòn với sự
chờ đợi đứa con lưu lạc nơi chân trời góc bể. Ở Oanh, tình cảm, tâm hồn con người bị vắt
kiệt để còn những tính toán ích kỉ, nhỏ nhen, keo kiệt.
Ví dụ 6:Mọi vật đều như ngưng đọng trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến.
Cảnh vật phảng phất nỗi buồn man mác. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo cô quạnh. Một
ngõ trúc vắng vẻ đìu hiu. Mọi vật thấm đượm cái buồn cô đơn. Nỗi buồn như tràn vào cảnh
vật. Ở chỗ nào cũng chỉ thấy nỗi buồn ngưng đọng. Chiếc thuyền buồn, ngõ trúc buồn, và
cả chiếc lá vàng rơi cũng buồn. Nỗi buồn ẩn giấu trong mọi sự vật. Mùa thu ở đây buồn
hay chính tâm tư của Nguyễn Khuyến buồn?
Ví dụ 7: Tác giả đã ca ngợi truyền thống yêu nước, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, giúp dỡ
nhau khi gặp hoạn nạn khó khăn “lá lành đùm lá rách”, ca ngợi chí khí quật cường và
lòng căm thù giặc sâu sắc thề “không đội trời chung” với quân xâm lược. Tinh thần yêu
nước và chí căm thù giặc đã được thể hiện bằng một nghệ thuật tuỵêt vời, qua nhiều biện
pháp nghệ thuật dộc đáo, hấp dẫn, để lại những ấn tượngkhông thể phai mờ trong lòng
người đọc từ trước đến nay và muôn đời sau.
12
IV. Tiến trình tổ chức:
1. Ổn định lớp.
2. Giới thiệu Chủ đề 3
Hoạt động thầy và trò.
GV: Em hãy nhắc lại khái niệm sử thi
dân gian.
GV: Em hãy nêu những đặc điểm cơ
bản của sử thi?
-Nội dung?
-Nghệ thuật?
Nội dung cơ bản của chủ đề.
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA MỘT SỐ
THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN ĐÃ HỌC:
1. Sử thi dân gian:
a. Định nghĩa:(SGK)
b. Đặc điểm cơ bản của sử thi anh hùng Tây
Nguyên :
-Nội dung: Qua cuộc đời và những chiến công
của người anh hùng, sử thi thể hiện sức mạnh và
mọi khát vọng của cộng đồng và thời đại.
-Nghệ thuật: Sử dụng ngôn ngữ trang trọng, nhịp
nhàng giàu hình ảnh, sử dụng nhiều phép so sánh
và phóng đại đạt hiệu quả thẩm mĩ cao, đậm đà
13
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
Năm học 2012-2013
GV:Em hãy nhắc lại khái niệm thể loại
truyền thuyết?
GV: Em hãy nhắc lại đặc điểm cơ bản
của truyền thuyết An Dương Vương và
hoá đã thể hiện sức sống mãnh liệt của con người
trước sự vùi dập của kẻ ác . Điều đó chứa đựng
triết lí dân gian về sự tất thắng của cái thiện đối
với cái ác. Mâu thuẩn và xung đột trng truyện là
sự khúc xạ của mâu thuẩn và xung đột trong gia
đình phụ quyền thời cổ.
-Về nghệ thuật, đặc sắc của truyện thể hiện ở khả
năng miêu tả sự chuyển biến của nhân vật Tấm từ
yếu đuối thụ động đến kiên quyết, chủ động đấu
tranh giành lại quyền sống và quyền hạnh phúc
chính đáng của mình.
4. Truyện cười:
a.Định nghĩa:(SGK)
b.Đặc điểm của hai truyện cười đã học:
- Tam đại con gà:
+ Cái xấu bị phê phán trong truyện là sự dốt nát
và thói sĩ diện của thầy đồ (cái dốt càng cố che
đậy càng lộ ra, càng làm trò cười cho thiên hạ).
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua các
tình huống liên tiếp xảy ra, trong quá trình giải
quyết tình huống, cái dốt của thầy đồ dần tự lộ ra.
- Nhưng nó phải bằng hai mày:
+ Cái xấu bị phê phán trong truyện là sự tham
nhũng thể hiện qua tính hai mặt của quan lại địa
phương khi xử kiện.
+ Nghệ thuật gây cười của truyện chính là sự kết
hợp cử chỉ với lời nói, trong đó có sử dụng lối
chơi chữ độc đáo của nhân vật.
14
GIÁO ÁN TỰ CHỌN – BÁM SÁT NGỮ VĂN 10 –GV: Hà Ngọc Tiến - Tổ Ngữ văn
yêu thương, chung thuỷ của họ trong quan hệ bè
bạn, tình yêu và trong mối quan hệ với xóm làng,
quê hương, đất nước.
- Những cảm xúc trên được bộc lộ vừa chân
thành vừa tinh tế, kín đáo qua nghệ thuật diễn đạt
giàu hình ảnh, đậm màu sắc dân tộc và dân dã
của ca dao (so sánh, ẩn dụ, nhiều hình ảnh mang
nghĩa biểu tượng có giá trị biểu cảm cao; Ngoài
ra còn là nghệ thuật sử dụng những từ phiếm chỉ,
từ láy, hoặc sự thay đổi vần, nhịp thơ)
Chùm ca dao hài hước:
- Nội dung là những tiếng cười giải trí, tiếng cười
tự trào hoặ tiếng cười châm biếm, phê phán, qua
đó thể hiện lòng yêu, tâm lí lạc quan, triết lí sống
lành mạnh của những người lao động.
- Những cảm xúc trên được bộc lộ bằng những
lối diễn đạt thông minh, hóm hỉnh (dùng các thủ
pháp đối lập, thậm xưng để chế giễu hoặc vui
đùa).
II NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC
DÂN GIAN:
1.Giá trị nội dung:
- Phản ánh chân thực cuộc sống lao động, chiến
đấu để dựng nước và giữ nước của dân tộc.
- Thể hiện truyền thống dân chủ và tinh thần
nhân văn của nhân dân.
- Bộc lộ đời sống tâm hồn phong phú, tinh tế và
sâu sắc của nhân dân (yêu đời, lạc quan, yêu cái
thiện, cái đẹp trong cuộc sống, căm ghét cái xấu,
sự độc ác, sống tình nghĩa, thuỷ chung, ).
GV: Để hiểu đúng một tác phẩm văn
học dân gian, chúng ta cần phải lưu ý
những điểm nào?
Ví dụ: Hình ảnh “thuyền” trong ca dao
thường mang ý nghĩa ẩn dụ nhưng trong
từng trường hợp cụ thể, đều có sắc thái
riêng. Điều này tuỳ thuộc ở việc đặt câu
ca dao vào hệ thống nào. Trong hệ
thống lời ca sau thì “thuyền” được dùng
để chỉ cho người con trai nay đây mai
gian còn là kho lưu giữ những thành tựu nghệ
thuật mang đậm bản sắc dân tộc mà các thế hệ
đời sau cần học tập và phát huy.
III VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA VĂN HỌC
DÂN GIAN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA XÃ HỘI VÀ TRONG NỀN VĂN HỌC DÂN
TỘC:
1.Vai trò và tác dụng trong đời sống tinh thần
của xã hội:
-Văn học dân gian nêu cao những bài học về
phẩm chất tinh thần, đạo đức, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc: tinh thần nhân đạo, lòng lạc
quan, ý chí đấu tranh bền bỉ để giải phóng con
người khỏi bất công, ý chí độc lập, tự cường,
niềm tin bất diệt vào cái thiện,
-Văn học dân gian góp phần quan trọng bồi
dưỡng cho con người những tình cảm tốt đẹp,
cách nghĩ, lối sống tích cực và lành mạnh.
2. Vai trò, tác dụng trong nền văn học dân tộc:
- Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã trở thành
con trai và “thuyền” chỉ người con gái:
Thuyền tình đã ghé tới nơi
Khách tình sao chả xuống chơi thuyền
tình
Cũng tương tự như vậy, ở câu ca dao
sau, “thuyền” chỉ người con gái trong khi
“bến” lại chỉ người con trai:
Lênh đênh một chiếc thuyền tình,
Mười hai bến nước gởi mình nơi nao.
Ví dụ:-Bài ca dao “Thách cưới” cần đặt
trong quan hệ giao duyên diễn ra trong
khuôn khổ cuộc hát đối đáp nam nữ. Có
thế mới hiểu được rằng đây chỉ là lời
hát đùa, nhưng đùa mà lại thật- cái thật
lòng của những thanh niên nam- nữ lao
động nghèo yêu đời tha thiết và yêu
nhau vừa mãnh liệt vừa hồn nhiên.
-Truyện An Dương Vương Và Mị
Châu Trong Thuỷ cần đặt trong mối
quan hệ với lễ hội diễn ra hàng năm tai
khu di tích Cổ Loa.
3. Trong quá trình hình thành, biến đổi, lưu
truyền, tác phẩm văn học dân gian luôn gắn bó
mật thiết và phục vụ trực tiếp cho các hình thức
sinh hoạt cộng đồng khác nhau (gia đình, xã hội,
tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lao
động, vui chơi, ca hát, lễ hội, ) của nhân dân.
Bởi thế, để đọc hiểu chính xác và sâu sắc ý
nghĩa tác phẩm, cần đặt nó trong mối quan hệ với
các hình thức sinh hoạt cộng đồng.
Soạn bài theo hệ thống câu hỏi do giáo viên cung cấp trước.
III. Phương pháp:
Thảo luận nhóm.
Chú ý hoạt động của học sinh qua phương pháp phát vấn, nêu vấn đề gợi mở.
Chú ý tính tích hợp.
IV. Tiến trình tổ chức:
1.Ổn định lớp.
2.Giới thiệu Chủ đề 4
Hoạt động thầy và trò Nội dung cơ bản của chủ đề
GV: Theo những hình thức giao tiếp
nào sử dụng dạng nói, hình thức nào sử
dụng dạng viết?
Khi chưa có chữ viết, con người giao
tiếp bằng lời nói miệng, trực tiếp. Hình
thức giao tiếp này được gọi là dạng nói.
Sau đó con người sáng tạo ra chữ viết
để ghi lại lời nói miệng và để vận dụng
và giao tiếp trong những hoàn cảnh
không thể sử dụng được lời nói miệng.
Hình thức giao tiếp này được gọi là
dạng viết
GV: Em hãy cho ví dụ trường hợp giao
tiếp dùng ngôn ngữ nói. Từ đó rút ra
khái niệm ngôn ngữ nói.
GV: Trường hợp giao tiếp nào dùng
I. VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ
VIẾT:
1. Các hình thức sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp: dạng nói và dạng viết
3. Thực hành kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói và
ngôn ngữ viết:
Bài tập1:
a. Đọc những văn bản sau và phân tích những đặc điểm của ngôn ngữ viết được thể hiện
trong văn bản sau:
VÌ SAO CON TÀU VŨ TRỤ GẶP TAI NẠN CHẲNG AI ĐI TÌM “HỘP ĐEN”?
Ngày 28 tháng 1 năm 1986, sau khi con tàu vũ trụ Challenger bị nổ trên không làm
cả thế giới kinh hoàng thì hải quân, không quân, bộ đội canh gác bờ biển và Cục Vũ trụ
của Mĩ đã lập tức máy bay, tàu bè phong toả nghiêm ngặt khu vực xác con tàu rơi xuống.
Trong một khoảng rộng mấy ngàn kilômet vuông trên vùng biển Đại Tây Dương, trải qua
ba tháng mò tìm, đã vớt được thi thể bảy phi công vũ trụ, 38 mãnh vụn có giá trị, thậm chí
tìm được cả mãnh vụn chủ yếu của máy đảy phụ trợ thể rắn phía phải, nơi phát nổ đầu tiên.
Những tình hình này đều đã đăng báo chỉ “có hộp” đen là cái duy nhất không thấy đưa tin
tìm được. Điều đó đã làm cho rất nhiều người nghi ngờ.
Bởi vì theo thường lệ, sau khi máy bay gặ nạn, việc đầu tiên là phải tìm được “hộp
đen”. Vì sao lại không có tin tức gì về cái “hộp đen” của con tàu Challenger? Nguyên
nhân rất đơn giản, con tàu vũ trụ không cần “hộp đen” .
Hệ thống đồng hồ trên con tàu vũ trụ so với máy bay phổ thông thì phức tạp và tiên
tiến hơn nhiều. Ở những phần chủ chốt bên trong con tàu lắp đặt hơn 2000 máy truyền cảm
giám sát, cứ một phần ngàn giây một lần, chúng đưa tình hình áp suất, nhiên liệu, thậm chí
cả nhịp tim, huyết áp của phi công vũ trụ đến 5 máy tính, rồi lại thông qua vệ tinh kịp thời
đưa những tin tức đó truyền về trung tâm điều khiển trên mặt đất. Mặt đất mỗi giây mỗi
phút đều nắm vững tình hình con tàu vũ trụ trên không gian như lòng bàn tay, một khi có
bộ phận nào xuất hiện khác thường, mặ đất sẽ lập tức biết ngay. Vì thế, sau khi con tàu vũ
trụ gặp nạn, rõ ràng không cần tìm “hộp đêm” làm gì.
(Bộ sách bổ trợ kiến thức: Chìa khoá vàng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)
b. Viết tóm tắt lại văn bản trên đây (sử dụng các phương tiện đặc thù của ngôn ngữ viết)
trong khoảng 3 câu.
BÀI TẬP 2: Đoạn hội thoại sau đây được ghi từ lời nói hằng ngày:
Lan: Hạnh ơi! Nhanh lên, muộn học rồi đấy!
ngữ có những đặc trưng riêng .
GV: Dạng lời nói, phong cách ngôn
ngữ sinh hoạt có chức năng và đặc
điểm ngôn ngữ như thế nào?
GV: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
chủ yếu tồn tại ở dạng nào?
GV: Khi nào người ta sử dụng dạng
viết?
II. PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT :
1. Các phạm vi hoạt động giao tiếp, giao tiếp hàng
ngày, ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt:
a. Các phạm vi hoạt động
giao tiếp và giao tiếp hàng ngày:
Có thể khái quát phạm vi giao tiếp của con người
thành một số phạm vi chủ yếu sau đây:
- Phạm vi đời sống sinh hoạt hằng ngày.
- Phạm vi đời sống chính trị- xã hội.
- Phạm vi hoạt động hành chính- công vụ.
- Phạm vi hoạt động khoa học.
- Phạm vi thông tấn- báo chí.
b. Ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt :
Ngôn ngữ sinh hoạt là ngôn ngữ sử dụng trong
phạm vi giao tiếp hàng ngày nhằm mục đích trao đổi
thông tin, biểu thị cảm xúc, tạo lập và củng cố các
quan hệ trong đời sống.
2. Dạng lời nói, chức năng và đặc điểm của ngôn
ngữ trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
a. Dạng lời nói: Ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại ở cả
quan hệ giữa những ngưòi tham gia giao tiếp, tạo
lập, phát triển, củng cố quan hệ giữa người với
người.
- Chức năng cảm xúc: bộc lộ trực tiếp cảm xúc với
người nghe và đối tượng được nói tới.
* Để thực hiện những chức năng cơ bản nói trên,
ngôn ngữ được dùng trong phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt phải có những đặc điểm tiêu biểu sau:
-Đặc điểm ngữ âm: có thể xuất hiện tất cả các biến
thể ngữ âm và các từ địa phương.
-Đặc điểm từ ngữ: được dùng rất cụ thể, giàu hình
tượng, mang màu sắc cảm xúc rõ rệt.
-Đặc điểm cú pháp: Sử dụng rộng rãi cả 4 kiểu câu
chia theo mục đích nói trực tiếp, đồng thời sử dụng
phổ biến những câu có mục đích nói gián tiếp.
Thường dùng câu tỉnh lược, câu đặc biệt, câu có kết
cấu ngắn gọn, đơn giản.
3. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
a.Tính cụ thể biểu hiện ở những phương diện cụ thể
sau:
-Người tham gia giao tiếp cụ thể với những tư cách ,
quan hệ xác định.
-Thời gian, không gian cụ thể.
-Mục đích giao tiếp cụ thể.
-Các yếu tố ngôn từ mang tính cụ thể, sinh động.
b. Tính cảm xúc: biểu hiện qua giọng điệu, dùng từ
ngữ, kiếu câu sinh động, biểu cảm.
c. Tính cá thể: thể hiện trong dấu ấn cá nhân của
người nói trong ngôn từ: cách nói, cách lựa chọn
chủ yếu là chức năng thẩm mĩ: xây dựng hình tượng
nghệ thuật, từ đó tác động tới cảm xúc và nhận thức
thẩm mĩ của người đọc.
b. Ngôn ngữ nghệ thuật khác với các loại ngôn ngữ
khác chủ yếu ở chức năng cơ bản của nó.
c. Trong tác phẩm văn chương, nhà văn nhà thơ sử
dụng lại những yếu tố của hệ thống kí hiệu chung
nhăm mục đích thẩm mĩ nhất định, theo dụng ý nghệ
thuật của người viết.
2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật:
a. Tính hình tượng: là thuộc tính quan trọng nhất của
ngôn ngữ nghệ thuật: các yếu tố của ngôn ngữ nghệ
thuật luôn luôn hàm chứa nội dung thông tin thẩm
mĩ. Tính hình tượng của các từ ngữ trong tác phẩm
văn chương chính là: từ trong tác phẩm thường chứa
đựng hai bình diện nghĩa: nghĩa cơ sở và nghĩa hình
tượng- thẩm mĩ, chỉ tồn tại trong tác phẩm cụ thể,
trong ngữ cảnh nhất định .
Ở cấp độ ngôn ngữ lớn hơn từ, tính hình tượng
của ngôn ngữ văn chương là sự thống nhất giữa mặt
tạo hình và mặt nộI dung hàm nghĩa được biểu đạt
thông qua toàn bộ các chi tiết tạo hình cụ thể.
b. Tính truyền cảm: Qua hình tượng nghệ thuật,
ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương tác động tới
tình cảm người đọc và qua dó nâng cao năng lực
nhận thức thẩm mĩ , giúp cho con người thấu hiểu
bản chất của tâm hồn con người, , của đời sống, vũ
trụ. Quá trình đó cũng là cơ sở quan trọng để nâng
cao giá trị tinh thần tốt đẹp trong mỗi cá nhân, khiến
con người có thể tự nhận thức và tự hoàn thiện.
sử dụng nhất?
GV: Em hãy nhắc lại khái niệm
phép đối.
Cho ví dụ.
Có mấy cách đối?
thời trong lời nói nhằm đạt được những hiệu quả
nhất định trong diễn đạt. Nó có thể dùng trong lời
nói hàng ngày, trong văn bản chính luận, văn bản
báo chí và đặc biệt là trong văn bản nghệ thuật với
hiệu quả rất phong phú.
- Cần phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng.
b. Hoán dụ tu từ:
- Khái niệm hoán dụ tu từ:
- Cần phân biệt giữa hoán dụ tu từ và hoán dụ từ
vựng.
c. Một số điểm cần lưu ý về ẩn dụ và hoán dụ tu từ:
- Đều là kiểu chuyển nghĩa lâm thời.
- Ẩn dụ và hoán dụ khác nhau ở điểm cơ bản:
+ Ẩn dụ là kiểu chuyển nghĩa dựa trên iên tưởng
tương đồng của hai đối tượng .
+ Hoán dụ lại dựa trên liên tưởng tương cận.
2. Phép điệp và phép đối:
a. Phép điệp:
- Khái niệm:
- Đặc điểm : Phép điệp có thể sử dụng trong lời nói
hằng ngày, văn bản chính luận,… Trong phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật, phép điệp thường có giá trị
thẩm mĩ rõ rệt: biểu hiện hình tượng nghệ thuật và
cảm xúc. Phép điệp có thể được dùng phối hợp với
luận.
Thấy được sự cần thiết phải vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt trên để
tăng thêm chất lượng văn bản và hiệu quả giao tiếp.
Viết được tương đối thành thạo những văn bản thuộc năm phương thức biểu đạt
vừa kể và những văn bản có sự vận dụng tổng hợp năm phương thức đó.
II. Phương tiện dạy học:
GV: Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chương trình chuẩn.
Sách Ngữ văn 10 (chương trình chuẩn)
HS: Nắm vững năm phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh,
nghị luận.
Soạn bài theo hệ thống câu hỏi của giáo viên đã định hướng trước.
III. Phương pháp:
Thảo luận nhóm.
Chú ý hoạt động của học sinh qua phương pháp phát vấn, nêu vấn đề gợi mở.
Chú ý tính tích hợp.
IV. Tiến trình tổ chức:
1.Ổn định lớp.
2.Giới thiệu chủ đề 5:
Hoạt động thầy và trò Nội dung cơ bản của chủ đề
GV: Theo em, thế nào là phương
thức biểu đạt?
GV: Em hãy kể tên một số
phương thức biểu đạt đã học.
Theo em, người ta căn cứ
vào đâu để phân loại các phương
thức biểu đạt?
I. KHÁI QUÁT VỀ BIỂU ĐẠT VÀ PHƯƠNG
THỨC BIỂU ĐẠT:
1. Khái niệm phương thức biểu đạt:
Để có thể nói đúng, nói hết tư tưởng, tình cảm của
có thể hấp dẫn lôi cuốn người
đọc và có sức sống lâu bền?
Ví dụ: Nhân vật Đôn Ki-hô-tê có
II. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT:
1. Tự sự:
- Lúc đầu, công việc tự sự sinh ra từ nhu cầu của con
người muốn thuật lại cho người khác nghe diễn biến của
một sự việc nào đó. Về sau, hoạt động tự sự còn quan
tâm nhiều hơn đến việc khắc hoạ tính cách của nhân vật
và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất
của con người và cuộc sống.
- Khi chọn phương thức tự sự, ai cũng mong nó có thể
mình thuật lại câu chuyện một cách hấp dẫn,gây sự
thích thú đối với người nghe:
+ Muốn vậy, thì người kể chuyện, trước hết phải xây
dựng câu chuyện có một cốt truyện chân thực, hợp lí,
hấp dẫn; các câu chuyện tổ chức sao cho thu hút sự chú
ý của người đọc. Muốn vậy, cốt truyện có thể bao gồm
các thành phần:
• Trình bày(mở đầu): Giới thiệu hoàn cảnh của câu
chuyện.
• Khai đoạn(thắt nút): Nêu sự kiện mở ra mâu
thuẩn, xung dột hay những đột biến khác.
• Phát triển: Các mâu thuẩn, xung đột,… được
triển khai theo thời gian và trên bề rộng để ngày
càng trở nên căng thẳng, có sức cuốn hút với
người đọc, người nghe .
• Đỉnh điểm(cao trào): Các mâu thuẩn, xung đột
được đẩy lên tới mức cao nhất, chuẩn bị cho kết
thúc.