KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP - Pdf 24

BAN NGUỒN VÀ PHÁT TRIỂN THÔNG TIN
TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ-XÃ HỘI QUỐC GIA
KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN –
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là một
phương thức chủ yếu và là xu thế phát triển không thể đảo ngược của nền kinh
tế thế giới hiện nay. Trong xu thế này, sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế trên thế giới nói chung và các thành phần trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia nói riêng đang ngày một gia tăng, được thể hiện ở xu hướng tăng
cường các hoạt động hợp tác song phương, đa phương và các cấp độ liên kết khu
vực. Bởi vậy xu thế này đang chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia và quan hệ quốc tế bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản
xuất và sự phân công lao động quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ở các biện pháp mở cửa thị trường, tự
do hoá nền kinh tế của một quốc gia hoặc việc tham gia của quốc gia này vào
các cam kết thoả thuận hợp tác kinh tế thương mại song phương (giữa hai nước
với nhau), khu vực (tham gia vào một tổ chức hợp tác giữa các nước trong cùng
một khu vực địa lý như khu vực Đông Nam á – ASEAN…), đa phương ở phạm
vi toàn cầu như tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới - WTO. Mục tiêu bao
trùm, lớn nhất và nhất quán của việc hội nhập kinh tế quốc tế, dù ở cấp độ đơn
phương của một quốc gia hay tham gia các định chế khu vực và toàn cầu đều
hướng tới việc tự do hoá thương mại, đầu tư ở tầm quốc gia, khu vực và thế giới.
Nắm bắt được xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế trên thế giới, Việt Nam đã tiến hành các chính sách đổi mới kinh
tế, mở cửa và cải cách nền kinh tế. Đối với nước ta, Đảng đã khẳng định: "Việt
Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển". Điều này chứng tỏ rằng, hội nhập
kinh tế quốc tế là một trong những quan điểm chiến lược, là con đường tất yếu

tương lai rất gần.Việc gia nhập WTO thể hiện sự nỗ lực tổng hợp của nước ta,
đồng thời cũng thể hiện nước ta đã hoàn tất bước đi cuối cùng của quá trình
chuẩn bị để tham gia vào toàn bộ các thể chế hiện hành của kinh tế quốc tế.
Có thể nói rằng vấn đề chung nhất, tổng quát nhất, quan trọng nhất trong
hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay là làm thế nào để hội nhập có hiệu
quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh
tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực
hiện thắng lợi mục tiêu chung là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
I. Những vấn đề chung của hội nhập kinh tế quốc tế
Tiến trình hội nhập của nước ta vào kinh tế khu vực và thế giới đang đi
vào chiều sâu với việc thực hiện trên diện rộng các cam kết quốc tế mà nước ta
phải thực hiện. Xét trên bình diện kinh tế quốc tế, hội nhập là thước đo hiệu quả
của mọi nền kinh tế, nó đặt ra những chuẩn mực thương mại ngày càng cao hơn
và tác động mạnh mẽ tới diện mạo thương mại thế giới nói chung và bức tranh
kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Những diện mạo đó biểu hiện ở cả trạng thái
“động” lẫn trạng thái “tĩnh” và điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh của
mỗi nền kinh tế và cách tham gia của các chủ thể. Có thể thấy rằng việc đổi mới
chủ trương, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước là một
trong nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công trong phát triển kinh tế - xã
3
hội ở nước ta, nhưng đồng thời thực tiễn những năm vừa qua cũng đã bộc lộ
nhiều vấn đề cần phân tích lý giải. Dưới đây là một số vấn đề cơ bản của hội
nhập kinh tế đang đặt ra cho nước ta đòi hỏi sự đồng lòng, quyết tâm cao của
Nhà nước nói chung, của doanh nghiệp nói riêng,…để giải quyết tốt những vấn
đề đang đặt ra và có thể nảy sinh nhằm góp phần thành công vào tiến trình hội
nhập kinh tế:
1. Vấn đề hoàn thiện thế chế thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải chấp nhận "luật chơi" và "cách
chơi" của các sân chơi khác nhau như: WTO, ASEAN, APEC..., song cho tới

4
2. Vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh
Ngày nay, cạnh tranh là một quy luật tất yếu và là động lực phát triển nền
kinh tế thị trường. Trong thương mại quốc tế, cạnh tranh là sức mạnh mà hầu
hết các nền kinh tế thị trường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp
thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Khi có cạnh
tranh, không một chính phủ nào cần phải quy định các doanh nghiệp sản xuất
mặt hàng gì với số lượng, chất lượng và giá cả thế nào. Cạnh tranh trực tiếp quy
định những vấn đề đó với các doanh nghiệp. Theo nhà kinh tế học Alan V.
Deardorff, khái niệm “năng lực cạnh tranh” thường dùng để nói đến các đặc
tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ
có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánh quốc tế.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước, tính đến
thời điểm hiện tại, nền sản xuất hàng hoá của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu,
trình độ phát triển chung còn thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của các
doanh nghiệp còn yếu, sản phẩm của các doanh nghiệp làm ra mẫu mã nghèo
nàn, bao bì, nhãn mác xấu, thiếu các kênh phân phối, tiếp thị chưa bài bản, chi
phí đầu vào cao, nguyên liệu cho sản xuất có đến 80% phải nhập khẩu vừa làm
giảm lợi nhuận vừa dễ xảy ra rủi ro do giao hàng chậm vì không chủ động
nguyên liệu, trong khi đó hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi tính cạnh tranh ngày
càng cao, ngày càng hốc liệt. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế nói chung, của doanh nghiệp nói riêng trong tiến trình hội nhập là yêu
cầu sống còn đối với nước ta nếu không muốn bị thua ngay trên "sân nhà" nói
riêng, trên thương trường quốc tế nói chung. Do đó, đây vừa là một vấn đề, vừa
là một nội dung quan trọng trong bối cảnh mở cửa toàn diện nền kinh tế và hội
nhập kinh tế quốc tế hiệu quả.
2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (gồm năng lực cạnh tranh
quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của hàng
hoá, dịch vụ) là nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản để phát triển nền kinh tế thị

kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị
kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế.
Thứ ba, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
cao dẫn đến khả năng cạnh tranh yếu của của hàng hoá, dịch vụ và các doanh
nghiệp nước ta. Vấn đề này đã được nhiều nhà chuyên môn phân tích khi so
sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan,
Malaysia, Philipines.
Thứ tư, nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế làm ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh. Một số khá lớn doanh nghiệp nước ta còn chưa chấp
hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về thuế,
quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp.
Tình trạng các doanh nghiệp bị các cơ quan chức năng phàn nàn, thậm chí “thổi
còi” vì vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn khá phổ biến. Một trong những
nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc
nhận thức, hiểu biết của doanh nghiệp về luật pháp còn nhiều hạn chế.
Để vượt qua những hạn chế nêu trên, con đường phát triển duy nhất là nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hoá và dịch vụ của nước ta. Vì
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hoá và dịch vụ chính là
6
nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, hạ giá thành. Tuy nhiên vấn đề này
cũng còn phụ thuộc vào cả chính sách quốc gia.
3. Vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu trong bối cảnh hội nhập
Trong thời đại mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, rõ ràng không
ai là không biết đến các giá trị của thương hiệu. Cụm từ "thương hiệu" được nói
đến đầu tiên khi lý giải về sự thành công của một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
hoặc một doanh nghiệp nào đó. Thậm chí, một ca sĩ tên tuổi được mời biểu diễn
liên tục nhiều nơi, một diễn viên được mời đóng nhiều phim người ta cũng cho
là do...."có thương hiệu".
Ngày nay, một quốc gia mạnh về kinh tế là quốc gia sở hữu những doanh
nghiệp mạnh và năng động. Một doanh nghiệp mạnh là doanh nghiệp sở hữu

rất lớn (trong đa số trường hợp còn lớn hơn tài sản hữu hình) và không thể
thiếu của các doanh nghiệp vì giá trị của tài sản phụ thuộc vào uy tín và quy
mô thương hiệu được sử dụng, nó sẽ là một công cụ đắc lực cho kinh doanh,
và sẽ là nguồn vốn rất có giá trị khi doanh nghiệp thực hiện việc chuyển
nhượng, bán li-xăng hoặc liên doanh. Vì thế, thương hiệu hàng hoá khi đã
được xây dựng, các doanh nghiệp cần phải đăng ký trong tiến trình hội nhập
vào thị trường thế giới.
3.3. Bảo hộ thương hiệu bằng luật pháp
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và quyền lợi chính đáng của
nhà sản xuất, Nhà nước cần phải ban hành Luật nhãn hiệu hàng hoá phù hợp
với các chuẩn mực thương mại quốc tế. Đồng thời, Luật nhãn hiệu hàng hoá
phải có hiệu lực và hiệu quả trong việc ngăn chặn không cho phép bên thứ 3
sử dụng hàng hoá trùng sản phẩm cùng loại với nhãn hiệu đã được đăng ký,
mà còn ngăn chặn cả việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá tương tự cho các sản
phẩm tương tự, nếu việc sử dụng này gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về
nguồn gốc hàng hoá.
II. Một số vấn đề cơ bản của hội nhập khu vực và gia nhập WTO
1. Khu vực ASEAN
Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn thuần
giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh
vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị
trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối
với trao đổi thương mại. Các tranh chấp thương mại quốc tế dưới nhiều hình
thức sẽ ngày càng phổ biến. Đối với ASEAN,việc thực hiện trên diện rộng các
cam kết cắt giảm thuế trong khuôn khổ ASEAN (AFTA) vào năm nay(2006),
Việt Nam sẽ đưa 96% số dòng của biểu thuế với khoảng trên 10.000 mặt hàng
về mức 0-5% đồng thời bắt đầu lộ trình cắt giảm thuế đối với các mặt hàng
thuộc diện “nhạy cảm”. Các sản phẩm của Việt Nam, đặc biệt là hàng tiêu
dùng, sẽ đứng trước sức ép cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập khẩu từ các
nước ASEAN.

- Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
2.1.2. Những nguyên tắc, luật lệ, quy định cơ bản của WTO
WTO hoạt động dựa trên một số nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống
thương mại thế giới là:
- Thương mại không phân biệt đối xử (thông qua nguyên tắc tối huệ quốc và
nguyên tắc đối xử quốc gia);
- Thương mại ngày càng tự do hơn (bằng con đường đàm phán);
- Dễ dự đoán (tức có thể dự đoán trước được) nhờ cam kết, ràng buộc, ổn
định và minh bạch;
9
- Tạo ra (nhằm thúc đẩy) môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn;
- Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế (bằng cách dành ưu đãi hơn
cho các nước kém phát triển nhất).
(1). Thương mại không phân biệt đối xử
Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử
quốc gia.
Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN):
"Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên
nhất".
Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các
quốc gia không được phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO
phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những
đối tác "ưu tiên nhất". Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của
mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như
vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành
viên đều được "ưu tiên nhất". Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với
bất kỳ đối tác thương mại nào.
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT):

có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước
nền sản xuất trong nước. Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với
quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua
lộ trình tự do hoá từng bước. Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các
hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các
cam kết để thực hiện.
(3). Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch
Đây là nguyên tắc quan trọng của WTO. Mục tiêu của nguyên tắc này là các
nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được
về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được
lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước
chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh,
đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế
hoạch kinh doanh của họ. Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc
rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay
đổi một cách tuỳ tiện. Đây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu
cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh
bạch và dễ dự đoán.
Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:
- Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:
Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân
nhượng thuế quan cho nhau. Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm
phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi
cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được
11
ghi vào một bản danh mục thuế quan. Đây gọi là các mức thuế suất ràng buộc.
Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức
tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi
cho các doanh nghiệp nước ngoài. Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế

song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau. Trong khi đó, hiện số thành
viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO. Do đó,
12
WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh
tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho
những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự
tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên.
Để thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các
nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong
việc thực hiện các hiệp định của WTO. Chẳng hạn, WTO cho phép các nước
này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa
vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện
các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các
nước này điều chỉnh chính sách của mình. Ngoài ra, WTO cũng quyết định các
nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn.
2.2. Gia nhập WTO, những vấn đề cần quan tâm
Gia nhập WTO trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình mà
trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, tham gia phân công hợp tác quốc tế tạo
điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước và nước ngoài, mở rộng
không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trong quan
hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm
nhập thị trường thế giới, từ đó có điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế
hợp lý, phát triển kinh tế trong nước. Bởi vậy, gia nhập WTO là một tất yếu,
mang lại vận hội mới cho Việt Nam nói chung, nhưng đồng thời cũng là thử
thách cam go đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp hoạt động
trong các lĩnh vực, các ngành từ trước được hỗ trợ từ chính phủ hoặc chưa chuẩn
bị kỹ càng cho việc này.
Qua nỗ lực vận động gia nhập vào WTO để nuôi dưỡng đà phát triển kinh
tế. Gắn liền với ý nghĩa hội nhập toàn cầu là ý niệm một cộng đồng toàn cầu

các giải pháp an sinh xã hội để khôi phục những khó khăn ngắn hạn.
(3) Thách thức của việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành chính
quốc gia.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan
đến kinh tế - thương mại, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm khi gia nhập
WTO. Trước hết, phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để đảm
bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập. Sau đó,
phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy tính năng động và
khả năng thích ứng nhanh, yếu tố quyết định sự thành bại của chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và bố trí lại nguồn lực. Cuối cùng, những cam kết mở cửa thị
trường của ta là cam kết theo lộ trình nên tiến trình hoàn thiện khuôn khổ pháp
lý sẽ còn tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài.
Một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hoá. Đây
là thách thức to lớn đối với mọi nền hành chính quốc gia. Khi gia nhập WTO,
nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công
khai hơn và hiệu quả hơn. Đó phải là một nền hành chính vì quyền lợi chính
đáng của doanh nghiệp và doanh nhân, coi trọng doanh nghiệp và doanh nhân
hơn nữa, khắc phục "sức ỳ" của tư duy và khắc phục mọi biểu hiện trì trệ, vô
trách nhiệm. Nếu không tạo ra được một nền hành chính như vậy, sẽ không thể
tận dụng được các cơ hội do việc gia nhập WTO đem lại.
14
Hội nhập là tất yếu của mọi nền kinh tế. Chúng ta có khó khăn khi hội
nhập trong điều kiện kinh tế đang phát triển và đang trong quá trình chuyển
đổi. Tuy nhiên, các nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam cũng đều phải trải qua
một quá trình cải cách thể chế, xây dựng pháp luật, điều chỉnh cơ cấu... để
thực thi các cam kết của WTO tương tự như chúng ta đang làm. Bởi vậy, việc
đổi mới phương thức quản lý, tăng cường hiệu quả của bộ máy hành chính và
nâng cao năng lực của các doanh nghiệp sẽ là những yêu cầu tất yếu để chúng
ta có thể tận dụng các thời cơ mà hội nhập quốc tế đem lại.
(4) Thách thức về nguồn nhân lực

doanh nghiệp. Những cơ hội, những điều kiện có thể đem lại thuận lợi cho các
doanh nghiệp Việt Nam thì ngược lại cũng có thể đem lại những cơ hội, điều
kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó tạo ra những khó khăn, thách thức
đối với các doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường. Cụ thể là:
Thứ nhất, khi Việt Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội để
thúc đẩy bán hàng, tăng doanh số xuất khẩu vào thị trường các nước thành viên
WTO: nhờ tư cách thành viên của WTO, thị trường xuất khẩu được mở rộng,
không gian thương mại cũng được mở rộng. Ngược lại, khi Việt Nam gia nhập
WTO, đương nhiên các thành viên WTO cũng có thêm một thị trường mới và
các thành viên này cũng có cơ hội thúc đẩy bán hàng, xuất khẩu hàng hoá của họ
vào Việt Nam.
Thứ hai, khi gia nhập WTO, việc đầu tiên Việt Nam (cũng như bất kỳ quốc gia
hay vùng lãnh thổ nào muốn gia nhập WTO) phải làm chính là đàm phán với
các thành viên của WTO về cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế
quan nhằm tạo điều kiện cho hàng hoá của các thành viên WTO thâm nhập vào.
Để thực hiện các cam kết khi đàm phán gia nhập WTO, hàng rào thuế quan phải
hạ thấp xuống, đồng thời các biện pháp phi thuế như cấm nhập, hạn chế số
lượng nhập khẩu, quy định phải có giấy phép...cũng không được áp dụng nữa.
Lúc này, thị trường được "mở cửa", doanh nghiệp nước ngoài được tự do tham
gia buôn bán, cung cấp hàng hoá như doanh nghiệp trong nước mà không bị
phân biệt đối xử. Hàng hoá từ các nước khác sẽ vào Việt Nam dễ dàng. Trong
bối cảnh này, các doanh nghiệp trong nước sẽ lâm vào tình trạng bị cạnh tranh
bởi thị trường sẽ có thêm nhiều người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Song điều đáng nói ở đây chính là những nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ
nước ngoài, họ thường có tiềm lực tài chính mạnh hơn, có hàng hoá chất lượng
tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợp thị hiếu hơn, có công nghệ phân phối, tiếp thị
tốt hơn. Do đó, trong cuộc cạnh tranh để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người
tiêu dùng, doanh nghiệp nước ngoài có sức mạnh hơn sẽ dễ "thắng" được các
doanh nghiệp trong nước. Từ đó, nguy cơ bị mất thị phần, mất thị trường trong
nước, "thua" ngay trên "sân nhà" là nguy cơ có thật. Tình trạng này xảy ra sớm

Nguy cơ này cũng rất rõ ràng bởi vì các doanh nghiệp trong nước thường
yếu kém hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài
như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp thuê chuyên gia nước ngoài quản
lý...về năng lực quản trị, trình độ tiếp thị. Nguy cơ này cũng xuất phát từ chỗ
bản thân hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước kém chất lượng hơn so
với các doanh nghiệp nước ngoài về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, về tên tuổi,
thương hiệu...
3.3. Nguy cơ bị các doanh nghiệp nước ngoài thôn tính, mua lại, chèn ép, "lấy"
mất nhân viên, mua chuộc lãnh đạo cao cấp qua trả lương cao, hứa hẹn thăng
tiến
- Trở thành thành viên của WTO cũng có nghĩa là Việt Nam được hưởng
mọi quy chế ưu đãi và quy tắc buôn bán, đầu tư ngang với các thành viên khác
của WTO, thị trường Việt Nam trở thành một bộ phận của thị trường toàn cầu.
Với những lợi thế như chi phí lao động rẻ, có nguyên vật liệu cho sản xuất hàng
hoá, thị trường đông dân (là thị trường tiêu thụ tiềm năng), Việt Nam trở thành
17
nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào để sản xuất hàng hoá, dịch vụ để xuất khẩu,để bán cho thị trường nội địa.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường do người nước ngoài
đến làm ăn, buôn bán ở Việt Nam, do vậy đa số họ phải thuê đất để đặt trụ sở,
nhà máy, phải thuê người địa phương làm công cho họ. Vì các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh hơn, nắm giữ các bí quyết
công nghệ tiên tiến hơn, có trình độ quản lý giỏi hơn nên họ có nhiều cơ hội để
thành công hơn trong việc sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ so với các
doanh nghiệp trong nước. Dần dần khi họ đã chiếm được thị phần, để tiếp tục
mở rộng thị phần, họ sẽ tìm cách "mua" lại, thôn tính các doanh nghiệp trong
nước đang làm ăn thua lỗ, khó khăn (về thị trường, về đầu ra, thiếu vốn để đổi
mới công nghệ, để thuê quản lý giỏi), vừa đạt mục tiêu loại bớt đối thủ trên thị
trường, vừa tận dụng được mặt bằng, tận dụng nhà xưởng, tận dụng công nhân
đã có tay nghề của các doanh nghiệp Việt Nam.

hình sản xuất mới với năng suất và hiệu quả cao hơn, thúc đẩy sức sản xuất xã
hội phát triển nhanh chóng. Dựa trên những thành tựu đó, cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ đã bùng nổ trên phạm vi ngày càng rộng hơn và tác động ngày
càng sâu sắc hơn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Kết quả là kinh tế
thế giới chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp sang một loại hình kinh tế mới
dựa trên chất xám và kỹ thuật, công nghệ cao - kinh tế tri thức. Trong thế kỷ 20,
sản xuất công nghiệp thế giới tăng 35 lần trong khi thế kỷ 19 chỉ tăng 3 lần.
Những thành tựu khoa học - công nghệ đã và sẽ trực tiếp đi vào lực lượng sản
xuất trong khoảng thời gian rất ngắn, trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và
trực tiếp của xã hội, tạo nên động lực chính của sự phát triển của kinh tế thế giới
trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.
Dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế thế giới có
những bước chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ, trong đó tỷ trọng giá trị nông nghiệp
không ngừng suy giảm; tỷ trọng công nghiệp có xu hướng thu hẹp ở các nước
công nghiệp phát triển nhưng vẫn tăng lên ở các nước đang phát triển; đồng thời
tỷ trọng ngành dịch vụ không ngừng mở rộng. Năm 1900, nông nghiệp chiếm
1/3 GDP thế giới, đến nay chỉ còn khoảng 3%, trong khi công nghiệp chiếm
35% và dịch vụ chiếm 60%. Thậm chí, ở nhiều nước công nghiệp phát triển,
dịch vụ đã chiếm tới hơn 75% lực lượng lao động, đóng góp gần 70% vào GDP.
19
1.2. Gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mới, nền kinh tế tri thức
sẽ là một đặc trưng nổi bật của kinh tế thế giới trong những thập kỷ đầu thế kỷ
21
Giá trị của các yếu tố đầu vào truyền thống như nguyên nhiên liệu, đất
đai, lao động phổ thông hoặc ít đào tạo ngày càng giảm. Trong khi chất xám, tri
thức và thông tin có vai trò ngày càng tăng và mang tính quyết định đối với các
quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ và đóng góp tỷ lệ ngày càng lớn vào tăng
trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Trong thời gian tới, tất cả các nước sẽ điều
chỉnh lại cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao vai trò chủ đạo và dẫn đầu của các
ngành kinh tế dựa trên các công nghệ mới và có hàm lượng chất xám cao để làm

(2) Xu hướng tự do hoá và khu vực hoá
Các khu thương mại tự do song phương (FTAs) và thoả thuận thương mại
tự do khu vực (RTAs) gia tăng nhanh chóng. Các FTAs và RTAs có mức độ ưu
đãi và tự do thương mại cao hơn quy chế tối huệ quốc (MFN) kéo theo những
thay đổi lớn trong cục diện thương mại giữa các nước trong khu vực và trên thế
giới. Có một số khu vực thương mại tự do lớn được hình thành là Liên minh
Châu Âu (EU), khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thị trường chung
Nam Mỹ (MERCOSUR)...
Tính đến giữa năm 2003 có khoảng 250 hiệp định thương mại tự do song
phương và khu vực (trong đó có 33 RTAs). Dự tính đến cuối năm 2005 các FTA
đang được dự tính hoặc đã đi vào đàm phán được ký kết và có hiệu lực sẽ lên tới
300. Khu vực Đông á có Khu vực thương mại tự do ASEAN/AFTA, ASEAN +
3 (ASEAN + Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản); ASEAN + ấn Độ, ASEAN
+ CER (Ô-xtrâylia, Niu Di-lân) đang hình thành từ nay đến năm 2010 với tổng
số dân trên 2 tỷ người. Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ và Mỹ La-tinh
(gồm 33 nước với số dân 911 triệu người, GDP của khu vực này trên 11 nghìn tỷ
USD) thực hiện năm 2005 biến khu vực này thành FTA lớn nhất thế giới. ấn Độ,
Pa-ki-xtan, Nê-pan, Xri-lan-ka. Maldives, Băng-la-đét và Bu-tan đã ký thoả
thuận thành lập Khu vực thương mại tự do Nam á (khu vực chiếm 1/4 dân số thế
giới, với cam kết giảm thuế từ 25 - 30% xuống 5% trong vòng 7 - 10 năm). Việc
EU mở rộng sang phía Đông cũng là một sự kiện quan trọng: từ tháng 4/2004,
EU có 25 nước thành viên với số dân 455 triệu người, GDP khoảng 9 nghìn tỷ
USD và sẽ là khối liên minh kinh tế lớn nhất thế giới.
Trong bối cảnh đó, các nước trên thế giới đều tiến hành hội nhập kinh tế
quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của mình cũng như tranh thủ vốn, công nghệ,
thị trường và tri thức quản lý - kinh doanh tiên tiến phục vụ cho phát triển kinh
tế. Không nước nào có thể đứng ngoài quá trình hội nhập nếu không muốn tự
tách mình khỏi trào lưu phát triển chung và bị tụt hậu.
(3) Thương mại dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong thương mại thế giới
Tự do hoá thương mại tiếp tục được đẩy mạnh và thương mại quốc tế tiếp

các TNC. Trong những thập niên tới, các tập đoàn kinh tế khổng lồ có doanh số
lớn hơn cả GDP của các nước loại trung bình sẽ là chủ thể chính đẩy nhanh tốc
độ toàn cầu hoá luồng vốn đầu tư, thương mại quốc tế cũng như hoạt động
chuyển giao công nghệ.
(4) Sự tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại
Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ
mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất
nhập khẩu cao. Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do
chính đáng như để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành
động thương mại không lành mạnh, bảo vệ sức khoẻ con người, kiểm soát chất
lượng, môi trường, quy định về an toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm
soát dịch bệnh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hoá...
1.4. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các nước ngày càng có xu hướng lựa chọn
chiến lược kinh tế phát triển bền vững
22
Trong những thập kỷ tới, quá trình toàn cầu hoá kinh tế phát triển mạnh
mẽ mang lại cho các quốc gia những cơ hội phát triển lớn lao nhưng đồng thời
cũng đi kèm với những thách thức không kém phần gay gắt, nhất là các thách
thức về môi trường - xã hội. Việc ký kết hàng loạt thoả thuận quốc tế về môi
trường, ví dụ như Nghị định thư Kyoto cụ thể hoá Công ước khung của Liên hợp
quốc về Biến đổi khí hậu, cùng với việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu
về Phát triển bền vững (Nam Phi, ngày 26/8-4/9/2002) cho thấy vấn đề phát
triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế. Do
vậy, trong những thập kỷ tới mô thức phát triển kinh tế bền vững sẽ dần trở
thành lựa chọn phổ biến của các quốc gia, nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế
với bảo vệ môi trường tự nhiên và giải quyết các vấn đề xã hội
1.5. Kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt trong
hai thập niên tới, trước hết là nguy cơ của khủng hoảng kinh tế - tài chính và
chủ nghĩa khủng bố quốc tế
Nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính: Quá trình toàn cầu hoá kinh tế

còn tiếp tục tăng cao, sự gia tăng chính sách bảo hộ của các nước công nghiệp,
cúm gia cầm, sự mất cân đối của cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng tới khả
năng điều chỉnh tỷ giá hối đoái và lãi suất.
Khối lượng buôn bán hàng hoá năm 2005 tăng 6,2% phản ánh sự dịch
chuyển về địa lý trong thương mại: xuất khẩu của các nước công nghiệp chiếm
tỷ lệ thấp, trong khi thị phần của Trung Quốc trong thương mại toàn cầu tiếp tục
tăng ổn định, ước chiếm khoảng 7% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu năm 2005
(so với 4,3% năm 2001). Cùng với kỳ vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2006, cầu hàng điện tử hồi phục, thương mại toàn cầu được kỳ vọng sẽ tăng
khoảng 7% năm 2006 - 07.
2.1. Kinh tế Mỹ
Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2005 của Mỹ là 3,5%, giảm so với 4,2%
năm 2004. Chỉ số giá tiêu dùng ở mức 3,4% trong lúc giá thực phẩm và năng
lượng tăng 2,2%. Thất nghiệp giảm từ 5,5% năm 2004 xuống còn 5,1%. Thu
nhập thực tế giảm 0,4%.
Thâm hụt tài khoá và tiền tệ vẫn tiếp tục. Theo kế hoạch, mức tăng trưởng
GDP năm 2006 là 3,3% và 3,1% (2007), phản ánh mức cầu giảm từ từ do giá
dầu tăng dựa trên giả thiết chi tiêu chính phủ tăng chậm và lãi suất sẽ tăng ở nửa
đầu năm 2006. Vẫn tồn tại các rủi ro nếu giá bất động sản giảm đột ngột, giá dầu
tăng cao hơn hay nhu cầu của các nhà đầu tư về đô la Mỹ tăng nếu thâm hụt cán
cân thanh toán quốc tế tiếp tục gia tăng.
Hộp: Chính sách thương mại năm 2006 của Mỹ
“Chương trình nghị sự thương mại năm 2006” của chính quyền Mỹ tập trung
vào bốn vấn đề chính:
Thúc đẩy đàm phán thương mại toàn cầu, trong đó dành ưu tiên cho
kết thúc tiến trình đàm phán của Chương trình nghị sự Doha.
Mỹ dự kiến tập trung vào lĩnh vực: thuế quan, dịch vụ và nông nghiệp. Theo
đó, đề xuất hai giai đoạn, mỗi giai đoạn 5 năm:
Giai đoạn 1: Triển khai - Đề nghị cắt giảm thuế với các
nước phát triển từ 55-90%, cắt giảm từ từ với các nước đang

Hộp: Chính sách thương mại của Nhật Bản
Nhật Bản đang cố gắng duy trì và phát triển chế độ mậu dịch tự do. Từ đầu
những năm 80, Nhật Bản đã tiến hành các biện pháp kinh tế đối ngoại trong
một số thời kỳ, đặc biệt kể từ khi phê chuẩn chương trình hành động. Nhật
Bản đã xúc tiến mở cửa thị trường bằng việc cắt giảm và bãi bỏ thuế nhập
khẩu , chấm dứt và nới lỏng các biện pháp hạn chế số, cải thiện hệ thống cấp
25

Trích đoạn Tình hình thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế của Việt Nam ước thực hiện Khả năng thích ứng về vốn Khả năng thích ứng của nguồn nhân lực Khả năng thích ứng về công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status