DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN
( Nhóm 7 KTB_K10 )
1. Hoàng Xuân Phương ( nhóm trưởng )
2. Phí Thanh Vân
3. Phạm Lan Hương
4. Võ Thu Giang
5. Hàn Thị Loan
6. Nghiêm Thị Hân
7. Lê Thị Thanh Xuân
8. Đoàn Thùy Linh
Phần I: CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TÁC
ĐỘNG LÊN DOANH NGHIÊP
I. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
1. Yếu tố kinh tế :
Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà
nước đã mang lại cho VN nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói
nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Chính sách đổi mới cũng đã đưa
nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong bối
cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực
hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ
chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng
mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng
qua các kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp… Tất cả những nhân tố trên đã
tạo điều kiện cho kinh tế VN phát triển.
Và thực tế đã cho thấy, Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần
đây đạt mức tăng trưởng cao. Gần 20 năm phát triển (1990-2008) tốc độ
tăng trưởng kinh tế của VN liên tục giữ ở mức cao, tốc độ tăng GDP bình
quân giai đoạn 1990-2008 là 7,56%/năm. Tốc độ tăng kinh tế cao, trong
khi tốc độ tăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình
quân trên đầu người mỗi năm một tăng. Nếu năm 1990, GDP trên đầu
người của VN chỉ khoảng trên 100 USD, thì đến năm 2007, GDP/người đã
Việt Nam là một đất nước có thể chế chính trị và pháp luật ổn định,
các chính sách của nhà nước đưa ra có ảnh hưởng rất lớn tới doanh nghiệp,
như các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển
kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng
Nó đã tạo ra điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam ra nhập WTO là cơ hội lớn cho các
doanh nghiệp nước ngoài cùng nghành thâm nhập và mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình tại Việt Nam. Đặc biệt, các công ty này
thường có vốn lớn và được sự hỗ trợ của nước sở tại của họ thông qua các
chính sách hỗ trợ xuất khẩu…Bên cạnh đó,việc giảm thuế nhập khẩu(0%)
đối với các sản phẩm sữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm sữa
ngoại nhập. Điều đó cũng tạo ra nhiều thách thức cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của Vinamilk đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội để doanh
nghiệp có thể thực hiện liên doanh để khai thác những mặt mạnh về kỹ
thuật, tiếp thị của các doanh nghiệp nước ngoài.
3. Yếu tố văn hóa – xã hội
Việt Nam là một đất nước có dân số trẻ và có quá trình đô thị hóa
phát triển. Hiện nay trên 50% dân số đang ở độ tuổi từ 29 trở xuống.
Trên thực tế, sữa nước được người tiêu dùng sử dụng ở hầu hết các
lứa tuổi, đặc biệt lứa tuổi từ 7-29 tuổi. Điều này tạo ra cơ hội rất tốt cho các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sữa nói chung và mặt hàng sữa nước nói
riêng với một thị trường tiêu thụ lớn và đang ngày càng phát triển.
4. Yếu tố công nghệ
Cho đến nay, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) vẫn đang
là doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa của Việt
Nam. Ban lãnh đạo Vinamilk luôn coi trọng yếu tố khoa học và công nghệ,
tuỳ thuộc vào nguồn vốn, nhu cầu của thị trường, cơ cấu sản phẩm để đầu
tư chuyển đổi công nghệ kịp thời
Vinamilk đã triển khai 3 đợt đánh giá trình độ công nghệ của sản
hiện đại, đồng bộ, đạt các chỉ tiêu môi trường của Việt Nam về BOD,
COD, TSS
II. MÔI TRƯỜNG VI MÔ
1. Khách hàng
Tai sao khách hàng lai có nhu cầu sử dụng sữa?
Có thể vì mục đích bản thân: mua sữa cho mình uống, cho gia đình,
người thân: uống sữa nhằm đỡ đói, bồi bổ sức khoe, giải độc với các lao
động làm việc ở các khu vực, lĩnh vực độc hại.
Có thể vì người khác: mua cho bạn bè, người quen, thăm nom người
ốm
=>từ đó mà họ lựa chọn các loại hình sữa thích hợp cho mình: sữa
đặc có đường, sữa tươi, sữa bột……
Trong hoàn cảnh nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì người tiêu
dùng thường nghĩ tới khái niệm tiết kiệm tới mức tối đa nhằm giảm tối đa
mức chi phí hàng ngày hàng tháng.
Một số đối tượng điều kiện sống của họ đã quá dư thừa, có thể nghĩ
tới các mặt hàng cao cấp hơn hoặc ko đủ điều kiện để sử dụng các sản
phẩm sữa của vinamilk.
Người mua hàng là người sẽ cho ra quyết định cuối cùng là sẽ mua
hay ko, nếu mua thì sẽ mua sản phẩm loại gi. Bạn bè, người thân: là những
người sẽ có những ý kiến đóng góp , tư vấn cho khách hàng khi mua hàng,
nên mua những gì, và họ rất có ảnh hưởng tới quyết định của người mua
hàng.
Các chuyên gia trong lĩnh vực chế biến sản xuất sữa, chuyên gia
nghiên cứu về phẩm chất của sữa đưa ra kết luận, tư vấn.
Các đặc tính và thông tin của sp ( tốt, độ đạm cao, lương chất béo,
đường, lượng năng lượng mà sp sữa mang lại).
Năm 2008, trong khi nhiều nhà sản xuất sữa lao đao vì “cơn bão
Melamine”, Vinamilk vẫn vững vàng và khẳng định vị thế cũng như chất
lượng. Vinamilk đã chủ động gửi tất cả các mẫu nguyên liệu đầu vào và
phối rộng khắp, do đó ngành hàng sữa tươi - tiệt trùng được dự báo vẫn sẽ
được người tiêu dùng tin tưởng trong thời gian tới. Tuy vậy, Vinamilk
cũng sẽ chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của Dutch Lady, Netslé, Mộc Châu và
HanoiMilk.
Số liệu khảo sát cho thấy, số người tiêu dùng cho biết sẽ tiếp tục
chọn mua sữa tươi - tiệt trùng của Vinamilk cao nhất, chẳng hạn sữa tươi
100% nguyên chất có đường của Vinamilk là 26,5%. Đối với Dutch Lady,
có 15,3% số người tiêu dùng trả lời sẽ sử dụng sữa tiệt trùng 100% nguyên
chất có đường trong thời gian tới; 10,9% chọn sử dụng sữa có đường.
Sữa chua uống Dutch Lady và Vinamilk có tỷ lệ người tiêu dùng dự
định lựa chọn trong thời gian tới khá cao. Có 12,4% người tiêu dùng cho
biết sẽ sử dụng sản phẩm sữa chua uống Yomost của Dutch Lady. Trong
khi đó, sản phẩm sữa chua uống của Vinamilk cũng có tỷ lệ khá cao với
8,5% người tiêu dùng cho biết sử dụng sản phẩm sữa chua uống vị trái cây
tổng hợp. Điều này cho thấy, Dutch Lady đang duy trì được sự cạnh tranh
cần thiết với Vinamilk trong phân khúc thị trường sữa chua.
Thông thường, các doanh nghiệp không đủ tiềm lực tài chính để dẫn
đầu trong toàn bộ các lĩnh vực, vì vậy họ cần phải tập trung nguồn lực của
mình vào một số lĩnh vực để dẫn đầu trong lĩnh vực đó. Có 3 cách lựa chọn
định vị thương hiệu rộng mà người ta phải chú ý, bao gồm:
Một là, trở thành nhà sản xuất sản phẩm độc đáo phân biệt với các
sản phẩm khác. Điển hình của phương pháp lựa chọn này là Dutch Lady.
Năm 2006, nhãn hàng Friso Gold của công ty sữa Dutch Lady tăng cường
miễn dịch cho trẻ em, tạo đột biến về sản phẩm sữa, làm cho những nhãn
hàng theo sau như Dumex Gold và sữa mới Arla của Đan Mạch không thể
địch nổi.
Cũng lựa chọn phương pháp định vị này, LachiFood đã sản xuất ra
những sản phẩm sữa bột cũng dành cho trẻ em, nhưng có sự phân biệt sữa
của bé trai và sữa của bé gái, với nhãn hiệu LachiEQ của mình. Công ty
Vinamilk thì chọn sữa đậu nành Soya độc đáo.
hiểu xu hướng và thị hiếu tiêu dùng, điều này giúp Vinamilk tập trung
những nỗ lực phát triển để xác định đặc tính sản phẩm do người tiêu dùng
đánh giá. Chẳng hạn, sự am hiểu sâu sắc và nỗ lực của mình đã giúp dòng
sản phẩm Vinamilk Kid trở thành một trong những sản phẩm sữa bán chạy
nhất dành cho khúc thị trường trẻ em từ 6 đến 12 tuổi tại Việt Nam trong
năm 2007.
b. Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh
Vinamilk cung cấp các sản phẩm sữa đa dạng phục vụ nhiều đối
tượng người tiêu dùng. Có các dòng sản phẩm nhắm đến một số khách
hàng mục tiêu chuyên biệt như trẻ nhỏ, người lớn và người già cùng với
các sản phẩm dành cho hộ gia đình và các cở sở kinh doanh như quán café.
Bên cạnh đó, thông qua việc cung cấp các sản phẩm đa dạng đến người
tiêu dùng với các kích cỡ bao bì khác nhau, Vinamilk mang đến cho khách
hàng tại thị trường Việt Nam các sản phẩm sữa tiện dụng có thể mang theo
dễ dàng.
c. Mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp
Mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp của là yếu tố thiết yếu
dẫn đến thành công trong hoạt động, cho phép Vinamilk chiếm được số
lượng lớn khách hàng và đảm bảo việc đưa ra các sản phẩm mới và các
chiến lượng tiếp thị hiệu quả trên cả nước. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2007, Vinamilk đã bán sản phẩm thông qua 201 nhà phân phối cùng với
hơn 141.000 đểm bán hàng tại toàn bộ 64 tỉnh thành của cả nước. Đội ngũ
bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp đất
nước đã hỗ trợ cho các nhà phân phối phục vụ tốt hơn các cửa hàng bán lẻ
và người tiêu dùng, đồng thời quảng bá sản phẩm của chúng tôi. Đội ngũ
bán hàng còn kiêm nhiệm phục vụ và hỗ trợ các hoạt động phân phối đồng
thời phát triển các quan hệ với các nhà phân phối và bán lẻ mới. Ngoài ra
còn tổ chức nhiều hoạt động quảng bá, tiếp thị với các nhà phân phối địa
phương nhằm quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu trên khắp đất
nước.
giúp chúng tôi đưa ra thành công chiến lược tiếp thị mang tên Vinamilk
Milk Kid vào tháng 5 năm 2007. Kết quả của chiến lược tiếp thị này là
Vinamilk Milk Kid trở thành mặt hàng sữa bán chạy nhất trong khúc thị
trường trẻ em từ 6 đến 12 tuổi vào tháng 12 năm 2007.
Ngoài ra, Vinamilk còn có khả năng nghiên cứu và phát triển sản
phẩm trên quan điểm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng dòng sản
phẩm cho người tiêu dùng. Có đội ngũ nghiên cứu và phát triển gồm 10 kỹ
sư và một nhân viên kỹ thuật. Các nhân sự làm công tác nghiên cứu phối
hợp chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, bộ phận này liên tục cộng tác với các tổ
chức nghiên cứu thị trường để xác định xu hướng và thị hiếu tiêu dùng.
Vinamilk tin tưởng rằng khả năng phát triển sản phẩm mới dựa trên thị
hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng là yếu tố then chốt mang lại thành
công, đồng thời sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo cho sự tăng trưởng và phát
triển trong tương lai. Với nỗ lực nhằm đảm bảo rằng sản phẩm của
Vinamilk sánh vai với với xu hướng tiêu thụ mới nhất, chủ động thực hiện
nghiên cứu và hợp tác với các công ty nghiên cứu thị trường để tìm hiểu
các xu hướng và hoạt động bán hàng, phản hồi của người tiêu dùng cũng
như các phương tiện truyền thông có liên quan đến vấn đề thực phẩm và
thức uống.
Kinh nghiệm quản lý tốt được chứng minh bởi kết quả hoạt động
kinh doanh bền vững
Vinamilk được quản lý bởi một đội ngũ nhiệt tình và giàu kinh
nghiệm trong ngành. Chủ tịch Mai Kiều Liên có 30 năm kinh nghiệm trong
ngành sữa tại công ty và giữ một vai trò chủ chốt trong quá trình tăng
trưởng và phát triển của công ty cho đến hôm nay. Đội ngũ tiếp thị được
lãnh đạo bởi ông Trần Bảo Minh, người có 10 năm kinh nghiệm về tiếp thị
và xây dựng thương hiệu trong ngành thức uống và đã có công khôi phục
lại hình ảnh của thương hiệu và một cuộc cách mạng sản phẩm. Các thành
viên quản lý cấp cao khác có trung bình 25 năm kinh nghiệm trong lĩnh
vực sản xuất, phân phối và bán sản phẩm sữa. Chúng tôi cũng có một đội
Trong đó, các nhãn hàng hiện đang dẫn đầu trên thị trường bao gồm: Sữa
tươi Vinamilk, Sữa đặc, Sữa bột Dielac, Nước ép trái cây V-Fresh,
Vinamilk Café
2. Hệ thống trang trại bò sữa có quy mô lớn giúp Vinamilk chủ động
tạo lập được nguồn nguyên liệu sữa tươi ổn định, bền vững.
Hiện nay công ty sữa Vinamilk có 4 trang trại bò sữa lớn đặt tại các tỉnh
Nghệ An, Tuyên Quang, Lâm Đồng và Thanh Hóa. Đây đều là những địa
bàn có nhiều thuận lợi cho việc phát triển trang trại chăn nuôi bò sữa quy
mô lớn do còn quỹ đất, đất đai màu mỡ và thời tiết tương đối thuận lợi.
Đặc biệt, trang trại bò sữa Nghệ An - khánh thành ngày 25/09/2009 vừa
qua là một trang trại chăn nuôi bò sữa hiện đại bậc nhất Việt Nam và Đông
Sản phẩm
Vinamilk
Vinamilk DIELAC V - fresh Vinamilk café Sữa đặc
Nam Á với vốn đầu tư hơn 100 tỷ đồng. Trang trại này có quy mô chăn
nuôi là 3.000 con với 1.500 vắt sữa, cung cấp mỗi ngày 30 tấn sữa cho nhà
máy chế biến sữa của Vinamilk tại Nghệ An.
3. Áp dụng công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất
3.1.Bò được vắt sữa trong hệ thống vắt sữa hiện đại và tự động.
Mỗi con bò sẽ được đeo con chíp điện
tử để kiểm tra sản lượng sữa chính xác
từng cá thể. Cũng thông qua các chíp
điện tử, đàn bò sẽ được quản lý bằng hệ
thống Alpro hiện đại do công ty Delaval
cung cấp. Đàn bò được cho ăn theo
phương pháp TMR (Khẩu phần trộn tổng hợp Total Mixed Ration) và được
phân phối bằng các thiết bị chuyên dùng. Bên cạch đó, trang trại cũng
được đầu tư hệ thống sử lý chất thải hiện đại nhằm bảo vệ môi trường.
Toàn bộ chất thải rắn từ trang trại sẽ được thu hồi sản xuất phân bón cho
các đồng cỏ. Nước thải sẽ được xử lý sinh học thông qua hồ lắng và sử
Với mục tiêu mở rộng thị trường ra nước ngoài, từ năm 1998 đến nay,
Vinamilk đã xuất khẩu các sản phẩm của mình sang các nước Mỹ, Úc, Ấn
Độ, Trung Đông, Châu Phi, Ba Lan, Đức, Trung Quốc và các nước
ASEAN với tổng kim ngạch đạt 649,1 triệu USD.
6. Ban lãnh đạo có tài, chủ động, sáng tạo trong kinh doanh
Vinamilk không chỉ nổi tiếng về chất lượng sản phẩm mà còn rất nổi
tiếng vì có vị lãnh đạo tài ba: Bà Mai Kiều Liên- chủ tịch HĐQT kiêm
Tổng giám đốc công ty.
Bà là người đặt nền móng đầu tiên cho việc sản xuất công nghiệp sữa
chua, sữa tươi tiệt trùng, sữa bột dinh dưỡng cho trẻ em tại Việt Nam; Là
tác giả và
Đồng tác giả của 90% sản phẩm sữa đang lưu hành trên thị trường. Thị
phần nội địa chiếm 50- 90% tùy từng chủng loại; Vốn sở hữu chủ tăng 10
lần; Giá trị thương hiệu Vinamilk đạt gần 1 tỷ USD; thu nhập bình quân
của người lao động tăng 28% (5,5 triệu đồng/ tháng). Nguồn vốn luôn được
bảo toàn và phát triển không ngừng. Năm 2005, bà được Tổ chức Sở hữu
trí tuệ Thế giới trao tặng Giải Nhất Sáng Tạo năm 2004 và vinh dự được
Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động thời kỳ đổi mới (năm
2005), Huân chương Lao động Hạng I (năm 2006).
7. Vinamilk có đội ngũ kỹ sư chuyên ngành sữa giỏi và có chính sách
đầu tư tạo nguồn nhân lực tri thức cao.
Với chiến lược phát triển của ngành sữa hiện nay, Công ty Sữa
Vinamilk đã xác định yếu tố “con người” sẽ quyết định đến sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp. Xây dựng lực lượng lao động kế thừa gắn
bó với công ty trong tương lai, năm 1993, Vinamilk đã ký hợp đồng dài
hạn với Trường Đại học Công nghệ sinh học ứng dụng Moscow thuộc
Liên bang Nga để gửi con em cán bộ, công nhân viên sang học ở các
ngành: công nghệ sữa và các sản phẩm từ sữa; tự động hóa quy trình công
nghệ và sản xuất; máy móc thiết bị sản xuất thực phẩm; quản lý trong
ngành sữa.
về các sản phẩm của Vinamilk với người tiêu dùng một cách thường
xuyên, liên tục.
9. Hệ thống kênh phân phối rộng nhất tại Việt Nam
Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty đã xây dựng hệ
thống phân phối rộng nhất tại Việt Nam và đã làm đòn bẩy để giới thiệu
các sản phẩm mới như nước ép, sữa đậu nành, nước uống đóng chai và
café cho thị trường. Hiện nay, công ty đã sở hữu một hệ thống phân phối sỉ
gồm 220 nhà phân phối, có mặt tại 64 tỉnh thành.
10. Vinamilk đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, khi đó vốn của Tổng Công ty Đầu
tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 50.01% vốn điều lệ
của Công ty. Việc Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán tạo điều
kiện cho việc công ty huy động vốn từ công chúng trở nên thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, ngày 12/11/2008 Vinamilk cũng đã niêm yết trên thị
trường chứng khoán Singapore SGX-ST. Công ty được phép phát hành và
niêm yết 8763784 cổ phiếu phổ thông mới trên sàn giao dịch chính của
SGX – ST. Ngoài mục tiêu quốc tế hoá thương hiệu Vinamilk, việc niêm
yết này còn tạo điều kiện cho việc huy động vốn từ thị trường tài chính
quốc tế và chiến lược mở rộng và phát triển của công ty
11. Vinamilk đã xây dựng được cho mình một thương hiệu nổi tiếng
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương
hiệu “Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu
Nổi tiếng” và là một trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công
Thương bình chọn năm 2006. Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm
“Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm 2007.
II. Điểm yếu (weakness)
1. Hình thức khuyến mại đưa ra hấp dẫn nhưng khâu thực hiện phát
sinh nhiều vấn đề gây tranh cãi :
Vinamilk khuyến mãi thiếu trung thực :Từ ngày 15.11.2008 đến
có cách giải thích thỏa đáng và viết giấy hẹn quá nhiều lần đã làm khách
hàng nổi giận.
Trao đổi với VnExpress, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần sữa
Vinamilk, ông Trần Bảo Minh giải thích, do khách hàng nhỏ tuổi quá yêu
thích hộp bút nên loại quà này hết sạch. Công ty đã đặt mua thêm 20.000
hộp từ nước ngoài. Song, do ảnh hưởng của lũ miền Trung, lô hàng đã về
chậm so với dự tính.
Qua đợt khuyến mãi này, Vinamilk đã gây nhiều thất vọng cho đối
tượng chính tiêu thụ sản phẩm của mình. Mong rằng, công ty sẽ rút được
kinh nghiệm về tâm lý, sở thích của trẻ ở những đợt sau.
2. Giá thành sản xuất cao do phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài
Vì nhu cầu sử dụng lớn, Vinamilk phải tìm kiếm những nhà cung
cấp uy tín có khả năng cung cấp ổn định cả về chất lượng và số lượng. Đó
chính là New Zealand, Châu Âu và Mỹ - những quốc gia tiên tiến chuyên
xuất khẩu sữa nguyên liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài việc giá mua
nguyên liệu sữa của nước ngoài cao, Vinamilk còn phải chịu thêm một
khoản thuế nhập khẩu và chi phí vận chuyển, kho hàng bến bãi cho nên giá
thành sản phẩm tăng dẫn đến giá bán tăng khiến sản phẩm của Vinamilk
giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường
3. Vinamilk chưa canh tranh tốt được ở thị trường trong nước
Trong vài năm trở lại đây, sữa là một trong những mặt hàng có tốc
độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm đóng gói ở Việt Nam.
Mức tăng trưởng hàng năm trong các năm 2005, 2006 và 2007 lần lượt là
43,2%, 26,4% và 25,6%. Sữa nước (bao gồm sữa tươi và sữa tiệt trùng),
cùng với sữa chua ăn và sữa chua uống là các ngành hàng chiếm tỷ trọng
lớn, đều có tốc độ tăng trưởng mạnh và khá ổn định.
Tuy nhiên trong tình trạng giá sũa ngoại tăng cao, vinamilk có lợi
thế về giá so với sữa nhập khẩu nhưng trên thực tế giá của các sản phẩm do
vinamilk sản xuất đều cao hơn các sản phẩm khác cùng loại được sản xuất
trong nước như sữa tươi mộc châu v v Lý do chính để người tiêu dùng
trùng ít béo
900 g 15.500
đ/chai
Sữa tiệt trùng
milkplus-
vinamilk
(hương dâu,
không đường, có
đường,
chocolate)
180 g 3.986 đ
11.000
đ với
vfresh
Sữa tươi tiệt
trùng (không
đường, có đường,
hương chocolate,
dâu, dừa, mật
ong, cam)
180 g 3.000 đ
Sữa đặc có
đường (ông thọ,
300 g 11.000-
16.000
Sữa đặc có đường
Nguyên chất
300 g Khoảng
10.000
ngôi sao phương
sữa nhỏ khác”.
5. Khâu quản lí chưa tốt dẫn đến nhiều tai nạn, gây lãng phí, ảnh
hưởng lớn đến uy tín;
- Về sự cố hạt chống ẩm nghi ngờ có thể bị lẫn trong thành phẩm: Số
lượng sản phẩm cô lập là 6.928 hộp và 30 tấn bán thành phẩm chưa vô hộp.
Nguyên nhân là do có một gói chống ẩm 30 gram dùng cho 01 bao 5kg
DHA (dùng cho 900kg thành phẩm) bị rách. Tuy nhiên để an toàn tuyệt
đối, theo quy trình ISO nhà máy vẫn giữ lại toàn bộ lô hàng 30 tấn bán
thành phẩm chưa vô hộp để kiểm tra , đồng thời niêm phong giữ lại 6.928
hộp tại nhà máy
- Về sự cố vết xước nắp máy gây đến có mạt sắt: số lượng sản phẩm
cô lập là 10.872 hộp nghi ngờ có sự không phù hợp
-Trong thời gian gần đây, Báo điện tử Dân trí nhận được rất nhiều
phản ánh của người tiêu trong cả nước về sữa Vinamilk có những dấu hiệu
không bình thường như: sữa bị mốc, vón cục, sữa tươi bị chua, không ăn
được, hộp sữa bị biến dạng
Đơn cử như trường hợp: Chị Lê Thuý Nga (phường Bách Khoa,
quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) phản ánh ngày 23/1 chị mua 1 thùng sữa tươi
Vinamilk không đường tại 1 cửa hàng quen nhưng khi lấy sữa trong thùng
ra sử dụng, chị Nga phát hiện 1 hộp có những dấu hiệu “lạ” như: vỏ hộp bị
biến dạng, khi cắm ống hút vào hộp thì có tiếng nổ nhẹ phát ra còn sữa tươi
thì có vị chua như nước dừa để lâu ngày bị hỏng…
Trước đó, ông Nguyễn Công Phúc, ngụ tại ấp Cửu Hòa, xã Thân
Cửu Nghĩa (Châu Thành, Tiền Giang), mua một thùng sữa tươi Fino (50
túi) của Vinamilk tại siêu thị Co.op Mart Mỹ Tho. Khi dùng hết nửa thùng
thì các bịch sữa còn lại bị căng phồng lên, mở ra xem thì sữa có mùi hôi
(hạn sử dụng vẫn c Gần đây nhất là trường hợp của chị Trần Thị Hải Oanh
ở Hà Nội. Chị Oanh mua 8 hộp sữa chua tại siêu thi BigC, nhưng khi mở
sữa ra dùng thì sữa đã bị mốc.
Sau tất cả những lần bị khách hàng “phàn nàn”, cách giải quyết của
mạnh với các DN trong cộng đồng WTO, bởi chỉ có cạnh tranh mới đem
lại sự phát triển”.
Vinamilk là thương hiệu hiện được xếp trong Top 10 thương hiệu
mạnh Việt Nam. Nắm bắt lấy cơ hội này, Vinamilk đã không ngừng đổi
mới công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm để chuẩn bị
cho một hành trình mới.
Bên cạnh đó, Hội nhập còn tạo điều kiện để Vinamilk đến với nhiều
thị trường khó tính trên thế giới như: Mỹ, Thái Lan, Campuchia, Lào,
Trung Quốc, Khu vực Trung Đông…Và đây cũng chính là mục tiêu mà
Vinamilk sẽ vươn tới trong thời gian tới. Với cam kết Chất lượng quốc tế,
chất lượng Vinamilk đã khẳng định mục tiêu chinh phục mọi người không
phân biệt biên giới quốc gia của thương hiệu Vinamilk. Chủ động hội
nhập, Vinamilk đã chuẩn bị sẵn sàng từ nhân lực đến cơ sở vật chất, khả
năng kinh doanh để bước vào thị trường các nước WTO một cách vững
vàng với một dấu ấn mang Thương hiệu Việt Nam.
2. Bộ Công nghiệp phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến 2020.
Quy hoạch đề ra mục tiêu từng bước xây dựng và phát triển ngành
sữa đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến sản phẩm cuối cùng, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước đạt mức bình quân 10 kg/người/năm vào
năm 2010 và 20 kg/người/năm vào năm 2020.
Ngành sữa phấn đấu tăng sản lượng sữa toàn ngành trung bình 5-
6%/năm giai đoạn 2006-2010, đồng thời xuất khẩu sữa ra thị trường nước
ngoài. Tổng vốn đầu tư cho phát triển ngành sữa đến năm 2010 là gần
2.200 tỷ đồng.
Số tiền này sẽ được đầu tư cho các hạng mục như phát triển nguyên
liệu làm thức ăn chăn nuôi bò, phát triển đàn bò, các trạm thu mua sữa và
xây dựng các nhà máy sữa. Ngành sẽ xây dựng các nhà máy chế biến sữa
gắn liền với các vùng tập trung chăn nuôi bò sữa để có thể tự túc được 40%
nhu cầu sữa vắt từ đàn bò trong nước vào năm 2010.
để trao đổi khá chi tiết và bổ ích về mọi vấn đề liên quan đến bò sữa và sữa
từ kỹ thuật đến chiến lược, chính sách quản lý cùng nhiều cơ hội tham
quan, học tập và hợp tác khác.
Về bản chất đây là một cơ hội rất tốt để tiếp cận, trao đổi, học hỏi
kinh nghiệm để phát triển ngành bò sữa Việt Nam nhưng cũng chứa đựng
những tiềm tàng về một thách thức đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của ngành
bò sữa và sữa Việt Nam trong hội nhập.
Song chúng ta tin rằng, thách thức cạnh tranh sẽ là động lực tốt để
Việt Nam phát triển. Hy vọng sau Hội thảo này, ngành bò sữa Việt Nam có
thêm nhiều kinh nghiệm và cơ hội để nhanh chóng khắc phục những khó
khăn vừa qua góp phần thúc đẩy ngành sữa Việt Nam tiếp tục phát triển để
hội nhập nhanh chóng với khu vực.
4. Mức bình quân tiêu thụ sữa ở Việt Nam hiện nay là rất cao.