Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn
các thầy cô giáo trong trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu và bổ ích trong những năm học vừa qua.
Lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Trần Văn Quyên, giảng viên trường Đại
Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực tập.
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Thú y, đặc
biệt là bộ môn Ký sinh trùng đã truyền đạt những kiến thức về chuyên môn cho tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác trong Ban lãnh đạo xã Lam Điền. Và các
cô chú cán bộ thú y đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong bốn tháng thực tập vừa
qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …tháng … năm 201
Sinh viên
(ký tên)
Đặng Văn Tùng
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Mục lục
Lời cảm ơn 1
Phần I. MỞ ĐẦU ………………………………… 4
1.1.Đặt vấn đề………………………………… ………………………………… 5
1.2.Mục đích của đề tài………………………………………… ………………….6
Phần II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………………………………….7
2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi…… …………………………….7
2.2.Đặc điểm của bệnh…………………… ………………………………………9
2.3.Nguyên nhân gây bệnh………………………………………………………….9
2.4.Đặc điểm dịch tễ học………………………………………………………… 10
4.5.2.Tình hình tiêm phòng…………… ……………………………………… 26
4.5.3.Mạng lưới thú y………………………….………………………………… 28
4.6.Kết quả đạt được trong thời gian thực tập tại xã……….…………………… 28
4.6.1.Bệnh dịch tả lợn…………………………………………………………… 29
4.6.1.1.Nguyên nhân…………………… ……………………………………… 29
4.6.1.2.Triệu chứng……………………………………………………………… 29
4.6.1.3.Điều trị…………………………………………………………………… 30
4.6.2.Bệnh tụ huyết trùng…….……………………………………………………30
4.6.2.1.Nguyên nhân…………… ……………………………………………….30
4.6.2.2.Triệu chứng……………………………………………………………… 30
4.6.2.3.Điều trị……………………………… ……………………………………31
4.6.3.Bệnh phó thương hàn……………………………………………………… 32
4.6.3.1.Nguyên nhân………………………………………………………………32
4.6.3.2.Triệu chứng……………………………………………………………… 32
4.6.3.3.Điều trị…………………………………………………………………… 32
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
3
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
4.6.4.Bệnh đóng dấu lợn………………………………………………………… 33
4.6.4.1.Nguyên nhân………………………………………………………………33
4.6.4.2.Triệu chứng……………………………………………………………… 33
4.6.4.3.Điều trị…… ………………………………………………………………33
Phần V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………… …… ………35
5.1.Kết luận ………………………………………………………………………35
5.2.Kiến nghị………………………………………………………………………36
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….38
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
4
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Phần I:
chăn nuôi và dịch bệnh trên đàn lợn ở xã Lam Điền- Chương Mỹ- Hà Nội.”
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1) Hệ thống các cơ sở khoa học liên quan đến vấn đề dịch bệnh
2) Đánh giá tình hình chăn nuôi và điều tra bệnh dịch tả trên đàn lợn ở xã Lam
Điền- Chương Mỹ- Hà Nội.’’ .
3) Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả, góp phần hạn chế dịch
bệnh.
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
6
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong chăn nuôi thường xảy ra các bệnh: Truyền nhiễm, không truyền
nhiễm, bệnh ký sinh trùng. Nhưng trong đó bệnh gây ra thiệt hại lớn nhất đối với
ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là những bệnh truyền nhiễm.
Để dịch bệnh được phòng chống tốt thì công tác quản lý và chăm sóc thú y
phải được đặt lên hàng đầu. Nó là yếu tố có vai trò quyết định năng suất của vật
nuôi. Chăm sóc, quản lý tốt sẽ nâng cao sức đề kháng của lợn. Chuồng nuôi luôn
mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông sẽ tránh được các bệnh truyền nhiễm, ký
sinh trùng, nội khoa…
Chăn nuôi lấy phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh là hợp với nền chăn
nuôi hiện đại. Nhưng trong chăn nuôi, do các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách
quan, bệnh tật vẫn luôn phát triển mà theo xu hướng nuôi nhiều thì bệnh tật lại phát
sinh nhiều.
Thực tế cho thấy việc phát sinh dịch bệnh ở lợn thường do nhiều nguyên
nhân: mầm bệnh (vi khuẩn, virút, ký sinh trùng) cùng với các yếu tố khác như:
stress, dinh dưỡng, các yếu tố tự nhiên (điều kiện thời tiết, khí hậu, đất, nguồn
nước…) và công tác quản lý, sẽ làm sức đề kháng của con vật giảm… gây nên dịch
bệnh.
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi
lượng vi sinh vật gây bệnh nhất định (từ vài chục đến vài trăm vi sinh vật / m
3
không
khí) chủng loại cũng rất phong phú (khoảng ½ giống vi sinh vật ở trong thức ăn, đất,
nước). Ngoài ra, còn có nấm mốc Penicillinum, Mucor… Những nấm này vào phổi
gây nên nấm ở phổi. Ở những khu vực gần bệnh viện, lò mổ còn tìm thấy cả trực
khuẩn, tụ cầu khuẩn, vi khuẩn lao, uốn ván…
Người ta căn cứ vào sự thay đổi về khối lượng và sự xuất hiện các chủng loại
vi sinh vật có trong không khí để đánh giá sự ô nhiễm không khí và nguyên nhân
của sự ô nhiễm. Khi khối lượng vi sinh vật trong một m
3
không khí đột ngột tăng
thì có khả năng khí bị ô nhiễm. Ví dụ: khi tìm thấy vi khuẩn Clostridium trong
không khí biết nguyên nhân gây ô nhiễm là đất.
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
8
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
2.2.Đặc điểm của bệnh
Là bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất do virút ở lợn với những đặc tính đặc
trưng: lây lan mạnh, sốt cao, tỷ lệ lợn ốm và chết trong vùng dịch cao, lợn cảm nhiễm
ở mọi lứa tuổi với những tổn thương xuất huyết điển hình. Bệnh gây thiệt hại kinh tế
trầm trọng trong chăn nuôi lợn nhiều năm qua ở Việt Nam.
- Bệnh dịch tả lợn là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh của loài lợn,
gây thiệt hại lớn về kinh tế.
- Do một số loài virus gây lên.
- Đặc trưng của bệnh: virus tác động gây biến đổi bệnh lý ở nhiều cơ
quan bộ phận, đặc biệt là bộ phận tiêu hóa làm con vật ỉa chảy trầm
trọng và loét ruột.
2.3. Nguyên nhân gây bệnh.
Bệnh dịch tả lợn là bệnh do virus thuộc họ Flaviridae, giống Pestisvirus gây
mẹ hoặc lợn con mới cai sữa. Điều này khác với tính chất lây lan ở mọi lứa tuổi và
chết có tính chất hủy diệt toàn đàn trong các ổ dịch mới nhiều năm trước đây, gây
nhầm lẫn trong công tác chẩn đoán phòng trị bệnh. Ở khu vực chăn nuôi hộ gia
đình, lợn lái ít được tiêm phòng hoặc đã hết miễn dịch, lợn thường bị dịch toàn ổ cả
mẹ con trong thời gian con ở tuổi mới sơ sinh. Điều đó chứng tỏ có rất ít kháng thể
truyền qua sữa đầu hoặc lợn mẹ đã mang sẵn mầm bệnh truyền trực tiếp cho con.
Thân Văn Thủy (2003) cho biết tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi mắc bệnh dịch
tả lợn cao nhất từ 2-4 tháng tuổi: 61,44% và thấp nhất ở lợn nái: 2,07%.
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
10
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
* Mùa bệnh:
Theo Lê Độ (1980) ở các tỉnh miền Bắc có tới 80% số ổ dịch diễn ra trong
thời gian từ tháng 11 dến tháng 2 năm sau, các tháng còn lại chỉ chiếm 20%.
Đào Trọng Đạt (1989) cho thấy số ổ dịch xảy ra từ tháng 11, 12 năm trước
tới tháng 1, 2, 3 năm sau chiếm 80% số ổ dịch trong năm; tháng 4 chỉ có 10% số ổ
dịch và suốt tháng 5 tới tháng 10 chỉ 10%. Vào vụ đông xuân sau bão lụt, thức ăn
thiếu trong tự nhiên, hiện tượng bán chạy lợn ốm, thu mua ồ ạt phục vụ tết…kết
quả là dịch xảy ra nhiều.
2.5. Triệu chứng lâm sàng.
Thời gian ủ bệnh từ 4-8 ngày. Bệnh có thể thấy 3 thể:
+ Thể quá cấp: Lợn chết trong vòng 3-7 ngày, thể này thường thấy ở lợn con.
Nhiều trường hợp, lợn con chết mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Bệnh phát
nhanh, sốt cao 41
o
- 43
o
C; da bẹn dưới bụng có những chỗ mọng đỏ sau trở thành tím.
Bệnh tiến triển 1-2 ngày lợn có thể hộc máu mà chết.
+ Thể cấp tính: Trong vòng 9-19 ngày. Lợn bị ốm trở nên chậm chạp, nằm
Do bệnh tiến triển rất nhanh, con vật chết rất nhanh khi chưa kịp biểu hiện
triệu chứng nên khi mổ khám không thấy bệnh tích đặc trưng của bệnh.
* Thể cấp tính:
Khi mổ khám lợn bị bệnh dịch tả lợn thấy các bệnh tích đại thể điển hình sau:
do con vật đi ỉa nhiều nên xác chết thường gầy, phân bết xung quanh hậu môn.
Trên da hoặc vùng da mỏng có những điểm xuất huyết. Niêm mạc miệng lợi viêm,
xuất huyết có khi có những mụn loét nông hay sâu, phủ bựa màu trắng xám hoặc
màu vàng nhạt. Phổi xuất huyết với những điểm to nhỏ không đều nhau. Viêm dạ
dày ruột nhất là vùng than vị và hạ vị có những đám, mảng xuất huyết hoặc loét.
Xuất huyết và loét niêm mạc ruột nhất là ở các mảng payer, đặc trưng nhất là nốt
loét hình cúc áo trên niêm mạc van hồi manh tràng, đôi khi có nốt loét ở niêm mạc
ruột già. Một trong những bệnh tích rất đặc trưng đó là biểu hiện ở hạch lâm ba.
Hạch lâm ba sưng, xuất huyết có thể quan sát thấy ở ba trạng thái: xuất huyết toàn
bộ hạch làm cho hạch tím bầm lại như quả mồng tơi chin; xuất huyết vùng rìa hạch
và trường hợp xuất huyết thành dải, vân như vân đá hoa.
Trên bề mặt lách có những điểm xuất huyết bằng đầu đinh ghim hoặc mũi
kim, vùng rìa lách nhồi huyết hình thành những đám tổ chức bị hoại tử thường có
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
12
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
màu ím đen, hình tam giác đỉnh hướng vào trong. Nhìn rìa lách thấy có hình răng
cưa lồi lõm không đều nhau.
Thận sưng, trên bề mặt thận có những điểm xuất huyết, bổ đôi thận thấy cục
máu đông. Niêm mạc bang quang xuất huyết.
2.7. Chẩn đoán bệnh
Trong điều kiện thực tế điều trị tại cơ sở phương pháp chẩn đoán bệnh chủ
yếu là dựa vào triệu chứng lâm sang và bệnh tích đặc trưng, chẩn đoán dịch tễ học
và chẩn đoán thông qua điều trị.
+ Chẩn đoán lâm sàng: dựa vào các biểu hiện: lợn sốt cao, ăn uống thất
thường lúc ăn lúc không, ỉa chảy phân nát thối khắm, trên da xuất hiện các điểm
lợn con tại thời điểm tiêm phòng.
Nếu lợn nái mang trùng và đàn con sinh ra từ những đàn lợn trên ở dạng
dung nạp miễn dịch thì khi tiêm vacxin phòng bệnh, lợn con đã không tạo ra miễn
dịch và một thời gian sau phát bệnh. Việc không bảo hộ sau khi tiêm cũng có thể lý
giải là do sự xuất hiện một chủng gây bệnh mới mà chủng dung để chế vacxin
không có khả năng chống lại.
2.9. Điều trị.
Không có biện pháp điều trị đặc hiệu, duy nhất chỉ có thể dùng kháng huyết
thanh dịch tả lợn, nhưng giá đắt do đó không phù hợp với mục đích kinh tế. Khi bệnh
ghép có thể dùng các kháng sinh phổ rộng kết hợp với các thuốc trợ sức.
Các kháng sinh có thể sử dụng tiêm sâu bắp thịt:
Hanoxylin LA: 1ml/ 10kgP (3 ngày tiêm 1 mũi)
Hanmolin LA: 1ml/ 10 kgP (3 ngày tiêm 1 mũi)
Gentamycin 4%: 1ml/6kgP (2 ngày tiêm 1 mũi)
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
14
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Cincomycin 10%: 1ml/10kgP (2 ngày tiêm 1 mũi)
AmTyo: 0,7 – 1,5ml/10KgP (2 ngày tiêm 1 mũi)
Gentorfcoli: 1ml/ 10KgP (2 ngày tiêm 1 mũi).
Có thể dùng các loại kháng sinh trong trường hợp bệnh ghép, nhưng chỉ có
tác dụng ở mức độ hạn chế. Những lợn khỏi bệnh vẫn mang virút và thường xuyên
bài tiết virút ra ngoài môi trường và là nguồn truyền lây lan bệnh nguy hiểm.
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
15
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Phần III:
ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Tỷ lệ tử vong (%) = x 100
Số con mắc bệnh
Số con gia súc được tiêm
Tỷ lệ tiêm phòng (%) = x 100
Tổng số gia súc
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
17
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Phần IV:
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1. Điều kiện tự nhiên của Lam Điền- Chương Mỹ- Hà Nội
4.1.1. Vị trí địa lý.
Xã Lam Điền nằm ở phía Đông Bắc Tổ Quốc
- Phía đông Lam Điền giáp xã Thanh Mai
- Phía tây giáp với xã Đại Yên
- Phía nam giáp xã Hoàng Diệu
- Phía bắc giáp xã Thụy Hương
Toàn bộ diện tích đất của xã là đất nông nghiệp và người dân sống chủ yếu
bằng nghề làm ruộng và chăn nuôi.
Xã nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa(bốn mùa xuân, hạ, thu,
đông rõ rệt) thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và phát triển kinh tế của tỉnh.
Xã Lam Điền là một xã đồng bằng và bốn bề giáp ranh với các xã khác trong
huyện nên Lam Điền có tiềm năng phát triển kinh tế tương đối mạnh và thuận lợi.
Vị trí địa lý như vậy tương đối thích hợp cho việc trồng trọt và chăn nuôi
nhưng cũng là điều kiện thuận lợi cho sự lây lan dịch bệnh cho đàn gia súc, gia
cầm của xã.
Mật độ về giao thông, chợ búa và trao đổi hàng hoá tương đối lớn, bên cạnh
đó có địa bàn rộng, lại có con Sông Đáy chảy qua đó là điều kiện dẫn đến nguồn
lây lan dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.
4.1.2. Khí hậu.
Đây là một ngành sản xuất đem lại nguồn thu nhập lớn cho xã.
Trong những năm vừa qua sản xuất nông nghiệp xã bị ảnh hưởng của thị
trường sản xuất hàng hoá nên cơ cấu cây trồng đang từng bước thay đổi để bắt kịp
với thị trường và có những bước phát triển tích cực để giành thắng lợi toàn diện.
Đã có sự thay đổi lớn về cơ cấu giống lúa và mùa vụ theo hướng tăng tỷ lệ
các giống lúa ngắn ngày, giảm tỷ lệ các giống lúa dài ngày.
Năng xuất lúa đạt 11,8 tấn/ha/năm sản lượng lương thực đạt 23.607tấn/năm, bình
quân lương thực trên đầu người chỉ đạt 480 kg/người/năm.
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
19
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Các loại cây công nghiệp và rau mầu phát triển theo hướng các cây có giá trị
kinh tế cao hơn. Vụ đông trồng các cây như: bắp cải, su hào, súp lơ, đậu cove leo,
dưa hấu, bí đao, cà chua, khoai tây… phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã và xuất
đi cho các tỉnh khác. Vụ hè khai thác quỹ đất trồng dưa, đậu tương đạt hiệu quả
kinh tế cao.
Ngoài ra cây ăn quả, cây cảnh cũng được chú trọng và có những mô hình đạt
hiệu quả kinh tế cao, đất ven đường, ven vườn, ven hồ ao được khai thác đưa vào
trồng các cây như: ổi, vải, nhãn, quất, quýt…
4.3.2. Nghề phụ
Những năm gần đây cho thấy, ngoài sản xuất nông nghiệp thuần tuý, các
thôn vẫn chưa mở ra được các loại hình hoạt động kinh tế khác để thu hút lao động
lúc nông nhàn. Nếu có thì chỉ mang tính tự phát cá nhân ở các lĩnh vực: Thợ xây
dựng, bốc vác, buôn bán nhỏ, đan thúng rổ, thêu, sản xuất đậu phụ, sản xuất rượu…
đã tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, cung cấp nguồn nguyên liệu, với
số lượng không nhỏ, cho chăn nuôi, cho ngành công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản
phẩm, tăng nguồn thu nhập cho nông dân, cải thiện và nâng cao đời sống xã hội.
Tuy nhiên, những nghề phụ này mang tính chất tự phát nên chỉ phục vụ một nhu
cầu nhỏ hẹp trên địa bàn xã mà không thể áp dụng đồng loạt cho nhiều gia đình
được. Công việc đôi khi thất thường, không ổn định, thu nhập thấp.
1. Lợn 5134 7802 9015
2. Trâu 51 48 42
3. Bò 352 301 250
4. Gia cầm 152300 168520 190450
5. Thỏ 152 141 128
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
21
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
4.4.2. Cơ cấu của đàn lợn nuôi tại xã Lam Điền
Sản xuất nông nghiệp là thu nhập chủ yếu của người dân trong xã Lam Điền,
ngoài trồng trọt thì chăn nuôi trong xã chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là chăn
nuôi lợn. Theo điều tra của chúng tôi về tình hình nuôi lợn trong năm gần đây (từ
năm 2008 đến tháng 6 năm 201 ) kết quả như sau:
Bảng 2: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại xã trong ba năm (2008-201 )
Đối tượng điều
tra
Năm 2008 Năm 2009 Năm 201
Số lượng (con) Số lượng (con) Số lượng (con)
Lợn con 1376 1674 2354
Lợn thịt 3732 6092 6609
Lợn đực giống 5 7 10
Lợn nái 21 29 42
Tổng: 5134 7802 9015
Đàn lợn nuôi trong xã Lam Điền bao gồm lợn thịt, lợn con, lợn đực giống,
lợn hậu bị. Trong đó lợn thịt được nuôi với số lượng lớn nhất là 3732 con năm
2008, số lượng tăng dần năm 201 lên 6609 con.
- Chăn nuôi lợn con: lợn con cai sữa được bà con mua về với khối lượng từ
7-12kg nuôi trong khoảng thời gian từ 60-65 ngày lợn được xuất bán từ 27-37kg.
Phần lớn bà con thường mua lợn từ các xã lân cận về nuôi.
- Chăn nuôi lợn thịt: đa số người dân trong xã thường nuôi lợn con không
Tổng: 45 100
Như vậy, qua khảo sát tình hình trên diện tích nhỏ là 30 hộ dân chăn nuôi ta
thấy số lượng chuồng nuôi tốt là rất ít. Trong số 45 hộ dân chăn nuôi chỉ có 15
chuồng nuôi là đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 13,4%.
4.4.4. Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn tại xã
Khẩu phần ăn đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi theo từng loài,
giống, từng giai đoạn phát triển và sức sản xuất. Thành phần dinh dưỡng của thức
ăn đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định năng suất của vật nuôi. Kết quả
của chúng tôi trên những hộ chăn nuôi lợn về tình hình sử dụng thức ăn tại xã Lam
Điền như sau:
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
23
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Bảng 4: Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn
của xã Lam Điền
Hình thức chăn nuôi chủ yếu ở xã là chăn nuôi nông hộ, với hình thức chăn
nuôi này thì mỗi hộ gia đình là một đơn vị sản xuất độc lập có đặc điểm cơ bản sau:
Hầu hết các hộ gia đình đều chăn nuôi theo mục đích tận dụng là chủ yếu, dựa trên
các sản phẩm họ tự làm ra như lúa, ngô, khoai, sắn, rau…từ các loại rau xanh tự
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Loại thức ăn
Số hộ khảo sát (n=45)
Lợn nái Lợn con Lợn thịt
Số hộ
điều
tra
Số hộ
sử
dụng
ban nhân dân xã còn gặp nhiều khó khăn.
Mạng lưới cơ sở còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, hơn
nữa do thói quen chăn nuôi gia đình chưa có ý thức tốt với việc tiêm phòng Vacxin
phòng bệnh cho gia súc. Một số bệnh truyền nhiễm (dịch tả, tụ huyết trùng, phó
thương hàn ở lợn, lợn con phân trắng…). Bệnh ký sinh trùng( giun đũa lợn, giun
phổi lợn, ve ghẻ…) xảy ra rải rác ở một số hộ, nhưng không phát thành dịch.
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của xã Lam Điền 3 năm qua được trình bày
ở bảng sau: (bảng 5).
Đặng Văn Tùng- Lớp Chăn Nuôi Thú Y- K7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
25