vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở đà nẵng hiện nay - Pdf 24

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
ON CễNG MN
Vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Đà Nẵng hiện nay
Chuyờn ngnh: Ch ngha duy vt bin chng
v Ch ngha duy vt lch s
Mó s : 62 22 80 05
TểM TT LUN N TIN S TRIT HC
H NI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn
2. PGS, TS Vũ Hồng Sơn

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác, quy luật
quan hệ sản xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

1
Mặc dù đạt được những kết quả to lớn trong lãnh đạo và tổ chức phát triển
kinh tế - xã hội, tuy nhiên, đến nay quá trình CNH, HĐH chưa đáp ứng yêu cầu và
mục tiêu: kinh tế tăng trưởng khá, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của thành phố, quy mô còn nhỏ, tích lũy hạn chế; sức cạnh tranh trên một số
ngành và lĩnh vực còn thấp. Trong các thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế
dân doanh, kinh tế tập thể chưa được quan tâm, tạo điều kiện phát triển đúng mức.
Điều này chứng tỏ việc nhận thức và vận dụng quy luật QHSX phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX ở Đà Nẵng còn có những hạn chế nhất định. Trong
các thành phần kinh tế, việc đa dạng hoá sở hữu còn chậm, yêu cầu đổi mới quan
hệ tổ chức quản lý còn bất cập, thực hiện quan hệ phân phối còn thiếu sót. Nhiều
vấn đề mới và phức tạp về nhận thức và vận dụng quy luật này vào thực tiễn trong
giai đoạn mới đang đặt ra bức thiết, như vấn đề về tính toàn diện và đồng bộ trong
xây dựng QHSX, về đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm phát triển LLSX hiện đại và xây
dưng QHSX trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Xuất phát từ thực tế trên đây, nghiên cứu sinh chọn “Vấn đề xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng hiện nay” để làm đề tài
luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát
triển của LLSX trong quá trình CNH, HĐH ở Đà Nẵng, đề xuất định hướng và
một số giải pháp nhằm xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Đà Nẵng hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Phân tích, làm rõ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây
dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong quá trình CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay.
Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát

độ phát triển của LLSX trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Đà Nẵng hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vấn đề xây dựng QHSX
phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong quá trình CNH, HĐH.
Thực hiện định hướng và một số giải pháp là quá trình nhận thức trong việc
vận dụng vấn đề này theo đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH ở Đà Nẵng nhằm thúc
đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ các cơ quan lãnh đạo đảng
và chính quyền ở Đà Nẵng, công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học.
7. Kết cấu của luận án
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm
4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Ở
NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trong tiết này, luận án nêu lên ba hướng nghiên cứu của các công trình:
Thứ nhất, hướng nghiên cứu dưới góc độ ba mặt của QHSX trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN.
Thứ hai, hướng nghiên cứu QHSX dưới góc độ quan hệ sở hữu trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thứ ba, hướng nghiên cứu QHSX dưới góc độ quan hệ phân phối trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Có thể khái quát vấn đề xây dựng QHSX trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phạm
vi khác nhau. Về mặt lý luận, có nhiều công trình bàn về QHSX, phân tích làm
sáng tỏ những quan điểm của Đảng về đa dạng hoá sở hữu, tổ chức quản lý, phân
phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về mặt thực tiễn, có nhiều
công trình phân tích, làm rõ thực trạng xây dựng QHSX trong nền kinh tế nhiều

làm rõ được một số khía cạnh của việc xây dựng QHSX, như quan hệ quản lý
và phân phối. Tuy nhiên, trong xây dựng QHSX, các nghiên cứu chủ yếu tiếp
cận quan hệ quản lý và phân phối dưới góc độ vĩ mô, chưa khai thác hết những
vấn đề mà tác giả nghiên cứu trong luận án, như quan hệ sở hữu, quan hệ tổ
chức quản lý, quan hệ phân phối trong từng loại hình QHSX. Đặc biệt, chưa có
công trình khoa học nào nghiên cứu thực trạng xây dựng QHSX phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX trong quá trình CNH, HĐH ở Đà Nẵng hiện nay.
Kết luận
Từ thực tế ở Đà Nẵng, tác giả nhận thấy, đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu vấn đề này chuyên biệt, có tính hệ thống và dưới góc độ triết học.
Chính vì vậy, tác giả của luận án tiếp tục giải quyết những nội dung cơ bản:
phân tích làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng ta về xây dựng QHSX phù
hợp với trình độ phát triển của LLSX trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta
hiện nay. Phân tích làm rõ thực trạng nhận thức và vận dụng xây dựng QHSX
phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong quá trình CNH, HĐH ở Đà
Nẵng hiện nay, phát hiện một số vấn đề đặt ra từ thực trạng ấy. Từ đó, đề xuất
5
định hướng và nêu lên một số giải pháp nhằm xây dựng QHSX phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Đà Nẵng
hiện nay.
Chương 2
QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1. THỰC CHẤT CỦA QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP
VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
2.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
LLSX là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong sản xuất, thể hiện
năng lực thực tiễn của con người, ở sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản
xuất, là tất cả các lực lượng vật chất và những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh

lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại, có trình độ kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến, năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân.
Hiện đại hoá là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và
công nghệ hiện đại nhằm đổi mới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho
xã hội phát triển nhanh và hiện đại, tiên tiến.
CNH, HĐH là quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang
sử dụng sức lao động với công nghệ và phương pháp sản xuất tiên tiến, dựa trên
công nghiệp và khoa học - công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất lao động cao.
Do nước ta quá độ lên đi lên CNXH từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ là phổ
biến, kinh tế thấp kém, cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát
triển của LLSX còn thấp, đa dạng, không đều, vì vậy, thực hiện CNH, HĐH là tất
yếu, là nhiệm vụ trung tâm và xuyên suốt trong thời kỳ quá độ nhằm phát triển
LLSX hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có hai nội dung cơ bản:
Một là, CNH, HĐH nhằm phát triển mạnh mẽ LLSX, xây dựng cơ sở vật
chất, kỹ thuật cho CNXH. Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH, phải đẩy mạnh cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ nhằm tạo lập hệ thống công nghiệp hiện đại để trang
bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
Hai là, CNH, HĐH là quá trình hình thành và chuyển đổi cơ cấu nền kinh
tế quốc dân theo hướng hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững. Ở nước ta, cơ
cấu kinh tế hợp lý phải đáp ứng yêu cầu: nông nghiệp giảm dần tỷ trọng; công
7
nghiệp và dịch vụ tăng dần tỷ trọng. Cơ cấu kinh tế đó cho phép khai thác mọi
tiềm năng của đất nước, của các địa phương, của các thành phần kinh tế. Đảng ta
xác định xây dựng cơ cấu kinh tế là “cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ”.
Theo quan điểm của Đảng ta, CNH, HĐH ở nước ta có những đặc điểm:
Công nghiệp hoá phải gắn liền và bao hàm hiện đại hóa để phát triển LLSX.
Do đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ là khoa học trở thành

hữu của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và sở hữu hỗn hợp. Trong các loại hình
sở hữu đó, sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sở hữu nhà nước cùng với sở hữu
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Có nhiều hình thức tổ chức kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế: kinh tế
nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các
hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa
dạng, như DNNN, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và các
loại hình doanh nghiệp tư bản tư nhân, doanh nghiệp thuộc sở hữu hỗn hợp và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân
phối thông qua hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.
Để làm sáng tỏ nội dung xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển
của LLSX trong quá trình CNH, HĐH của Đảng ta, chúng tôi tập trung nghiên
cứu xây dựng QHSX trong các loại hình kinh tế hiện nay.
2.2.2.1. Về đổi mới quan hệ sản xuất trong kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu về vốn và tư liệu sản xuất, bao gồm toàn bộ tài nguyên được khai thác, sử
dụng; ngân hàng nhà nước, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ nhà nước, hệ
thống DNNN - bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhà nước.
Việc đổi mới kinh tế nhà nước nhằm thực hiện vai trò chủ đạo theo hướng
tổ chức, sắp xếp lại, giao, bán, khoán, cho thuê, cho phá sản theo luật định, thực
hiện cổ phần hoá DNNN nhằm đa dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp mà
Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn.
Để nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế của kinh tế nhà nước,
chủ trương của Đảng là hoàn thiện cơ chế, chính sách để các DNNN thực sự hoạt
động sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch.
DNNN phải có quyền tài sản, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh
doanh, trên thị trường và trước pháp luật. Phân biệt quyền của chủ sở hữu và
quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với

dựa trên bản thân và gia đình của họ là chủ yếu. Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình
dựa trên sở hữu tư nhân về nguồn vốn và tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ
sở hữu, sử dụng lao động làm thuê, trong đó, chủ thể tư bản là chủ doanh nghiệp.
Chủ trương của Đảng ta về đổi mới sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trên
cơ sở đa dạng hoá sở hữu, đa dạng hoá các loại hình tổ chức quản lý sản xuất
10
kinh doanh, không hạn chế về quy mô, đa dạng trong các ngành nghề, lĩnh vực
kinh tế, hoạt động theo quy hoạch và pháp luật không cấm.
Thừa nhận sự tồn tại sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân và khuyến khích phát
triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân là tất yếu khách quan, phù hợp với điều
kiện ở nước ta, bởi vì LLSX đa dạng, không đồng đều, nhiều trình độ.
Do sự đa dạng hóa quan hệ sở hữu và tổ chức quản lý kinh doanh, vì vậy,
quan hệ phân phối phải thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng. Đó là thực hiện
quan hệ phân phối theo các nguyên tắc của thị trường gắn với sự quản lý của Nhà
nước thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, chính sách điều tiết phân phối, thu
nhập, hạn chế tối đa sự chênh lệch về phân phối các giá trị mới tạo ra nhằm góp
phần tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH.
2.2.2.4. Về đổi mới quan hệ sản xuất trong kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra đời từ nguồn vốn và tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu tư nhân ở ngoài nước. Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thuộc
hình thức sở hữu tư nhân, là một trong ba hình thức sở hữu cơ bản ở nước ta.
Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này có thể kết hợp đan xen các
hình thức sở hữu, có quyền chuyển đổi hình thức sở hữu. Hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh có thể chuyển thành hình thức liên doanh. Hình thức doanh nghiệp
liên doanh có thể chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và từ
hình thức này có thể chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% đầu tư trong nước…
nhằm làm cho quan hệ sở hữu vận động theo đúng bản chất của nó.
Mục tiêu phát triển thành phần kinh tế này là thúc đẩy mạnh mẽ LLSX
trên cơ sở thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường thế giới và
khai thác tiềm năng, lợi thế về tài nguyên, sức lao động, hướng về xuất khẩu,

khách sạn, nhà hàng…, và với tiềm năng rất lớn về du lịch tự nhiên và nhân văn,
vì vậy, thành phố có điều kiện để phát triển ngành dịch vụ, nhất là kinh tế du lịch.
Nguồn nhân lực dồi dào và có chất lượng so với các tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên. Tính đến 31/12/2012, tổng số nguồn lao động của thành phố là
696.700 người, chiếm 48% tổng số dân của thành phố, trong đó lực lượng lao
động là 515.018 người (công nhân kỹ thuật là 36.961, cao đẳng và đại học là
106.681, trung học là 35.126 và lao động khác là 336.250).
Kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội ở Đà Nẵng tương đối phát triển,
như năng lượng, bưu chính - viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng… cùng với hệ
thống giao thông được hiện đại về đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không,
cảng biển… là điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh các ngành công nghiệp,
dịch vụ, du lịch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
12
Chính quyền đã và đang triển khai nhiều biện pháp tích cực nhằm cải
thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng và hấp dẫn, như đẩy
mạnh cải cách thủ tục hành chính, ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ,
ưu đãi linh hoạt cho các nhà đầu tư và các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất
kinh doanh.
3.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
3.2.1. Thực trạng xây dựng quan hệ sản xuất trong kinh tế nhà nước
3.2.1.1. Những kết quả đạt được
Chủ trương đổi mới kinh tế nhà nước theo hướng tổ chức, sắp xếp lại, giao,
khoán, bán, giải thể, cho phá sản DNNN có quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài, không có
hướng phát triển, đa dạng hoá sở hữu thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN.
Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước đối với DNNN theo
hướng tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp ra khỏi chức năng quản lý
nhà nước, chuyển chế độ chủ quản hành chính sang chế độ quản lý của chủ sở
hữu. Thực hiện cơ chế giám sát hoạt động của các doanh nghiệp để bảo tồn và

3.2.2. Thực trạng xây dựng quan hệ sản xuất trong kinh tế tập thể
3.2.2.1. Những kết quả đạt được
Kinh tế tập thể đổi mới trên cơ sở củng cố, sắp xếp lại các hợp tác xã và các
tổ hợp tác, thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu nhằm mở rộng phạm vi
kinh doanh và làm cho quy mô của hợp tác xã ngày càng lớn và mạnh lên.
Chính quyền hướng dẫn hợp tác xã xác định lại tài sản, vốn quỹ, triển khai
chuyển đổi và đăng ký lại hợp tác xã, xử lý dứt điểm các hợp tác xã không còn
khả năng hoạt động. Thành lập thêm nhiều hợp tác xã mới cho phù hợp với các
ngành nghề, lĩnh vực. Thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, như đào đạo, bồi dưỡng,
tập huấn nguồn nhân lực, hỗ trợ khoa học - công nghệ, trợ giúp các nguồn lực về
vốn, mặt bằng sản xuất, thị trường, miễn, giảm thuế, cho vay với lãi suất thấp…
Kinh tế tập thể được đổi mới với các hình thức là hợp tác xã nông nghiệp,
hợp tác xã công nghiệp - xây dựng, hợp tác xã thương mại - dịch vụ và các tổ hợp
tác. Hình thức và quy mô của các hợp tác xã chủ yếu dựa trên sự kết hợp nguồn
vốn cổ phần và phương tiện lao động của tập thể xã viên, cá nhân xã viên và người
lao động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Các hợp tác xã liên kết, hợp tác với kinh tế cá thể, tiểu chủ để huy động
thêm các nguồn vốn cổ phần và các nguồn lực để tăng quy mô và phạm vi sở
14
hữu, góp phần làm cho các chủ thể tham gia sở hữu trở thành người chủ về sở
hữu, về quyền làm chủ trong tổ chức kinh doanh và phân chia các lợi ích.
Do kinh tế tập thể đa dạng hoá quan hệ sở hữu và tổ chức quản lý sản xuất,
vì vậy, thực hiện phân phối diễn ra nhiều hình thức, như phân phối theo lao động,
vốn cổ phần, tài sản đóng góp. Việc phát triển hợp tác xã góp phần giải quyết một
lượng lớn lao động, cải thiện thu nhập cho xã viên và người lao động, xóa đói,
giảm nghèo, thực hiện dân chủ hóa, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở.
3.2.2.2. Những hạn chế
Việc thực hiện chủ trương đa dạng hoá sở hữu trên cơ sở liên kết, hợp tác
giữa kinh tế tập thể với các thành phần kinh tế khác còn thiếu chặt chẽ, hiệu quả
thấp, làm cho quy mô sở hữu của các hợp tác xã còn hạn hẹp, nhỏ bé và có giá trị

Kinh tế tư nhân phát triển vẫn còn yếu và chưa vững chắc, chủ yếu mới
về mặt số lượng cơ sở sản xuất và lực lượng lao động. Năng lực sản xuất và
hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH.
Việc thực hiện đa dạng hoá sở hữu, hợp tác, liên kết trong sản xuất kinh
doanh của kinh tế tư nhân còn chậm, chưa huy động được các nguồn lực của các
chủ thể kinh tế khác để thúc đẩy xã hội hoá kinh doanh, làm cho quy mô nhỏ.
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ của chính quyền
chưa kịp thời và đầy đủ, còn phân biệt về chính sách hỗ trợ, ưu đãi, chưa thật sự
tạo điều kiện về môi trường kinh doanh theo hướng bình đẳng để khu vực kinh tế
này phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thực hiện phân phối còn nhiều hạn chế ở nhiều cơ sở kinh tế tư nhân. Tiền
công, tiền lương của công nhân chưa trả đúng theo nguyên tắc thị trường, chưa
theo đúng hợp đồng, chưa tương xứng với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
3.2.4. Thực trạng xây dựng quan hệ sản xuất trong kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
3.2.4.1. Những kết quả đạt được
Chủ trương của Đảng bộ là bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn,
tài sản và các quyền lợi khác của cá nhân và các tổ chức nước ngoài đầu tư kinh
doanh. Khuyến khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thực hiện nhiều hình
thức góp vốn, liên kết, liên doanh với DNNN, với thành phần kinh tế khác.
Chính quyền thành phố thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ
trợ, ưu đãi, đồng thời đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ các
dự án, các doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính nhằm góp phần tạo điều kiện
thuận lợi về môi trường kinh doanh để thành phần kinh tế này phát triển.
16
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển với ba hình thức là hợp tác kinh
doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, đã có nhiều dự án lớn đưa vào kinh
doanh có hiệu quả trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp
công nghệ cao theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

mẽ LLSX hiện đại là vấn đề đặt ra hiện nay.
Thứ hai, yêu cầu đổi mới các hình thức tổ chức quản lý sản xuất nhằm thúc
đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ vẫn còn hạn chế, yếu kém và bất cập trong các
thành phần kinh tế hiện nay.
Việc sắp xếp, cơ cấu lại, đặc biệt là cổ phần hoá theo chủ trương, chính
sách của Đảng đối với kinh tế nhà nước trung ương còn chậm. Trong kinh tế nhà
nước địa phương, công tác chuyển đổi hình thức sở hữu gây ra thất thoát, lãng phí
tài sản của Nhà nước, vấn đề cổ đông của người lao động còn hạn chế.
Việc huy động các nguồn lực của các hợp tác xã chưa kịp thời và đầy đủ,
nhất là nguồn vốn đầu tư phát triển. Sự hợp tác, liên kết của hợp tác xã với các
thành phần kinh tế khác còn yếu. Nhiều hợp tác xã hoạt động không đúng với các
nguyên tắc và quy định của Luật Hợp tác xã.
Trong kinh tế tư nhân, do quy mô sở hữu còn nhỏ, vì vậy, vẫn chưa phát
triển mạnh, chưa tổ chức nhiều doanh nghiệp tư bản tư nhân lớn và mạnh làm
xương sống, mũi nhọn trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, việc đa dạng hoá nguồn vốn còn
hạn chế, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lĩnh vực vẫn
chưa mạnh mẽ và hơp lý. Việc thu hút, quản lý và sử dụng các doanh nghiệp chưa
bảo đảm tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững.
Thứ ba, trong việc thực hiện phân phối, yêu cầu kết hợp các hình thức phân
phối theo hướng bình đẳng, công bằng nhằm tạo động lực cho phát triển và nâng
cao đời sống của người lao động còn hạn chế, thiếu sót và bất cập, nhất là ở kinh
tế tư nhân hiện nay.
Trong các thành phần kinh tế, thực hiện quan hệ phân phối chưa kết hợp có
hiệu quả nguyên tắc của kinh tế thị trường với nguyên tắc của CNXH. Mâu thuẫn
trong phân chia lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh, các loại hình
doanh nghiệp và các ngành nghề chưa được giải quyết hợp lý.
Tiền công, tiền lương của người lao động trong các thành phần kinh tế chưa
đảm bảo tái sản xuất sức lao động và đời sống của họ. Chế độ, chính sách đối với
người lao động, đặc biệt là trong kinh tế tư nhân chưa thực hiện đầy đủ. Vì vậy,

Đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng XHCN là nhiệm vụ trung tâm
xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH nhằm tạo nên trình độ của LLSX hiện đại.
Theo quy luật, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của LLSX sẽ tạo nên sự chuyển
hoá QHSX từ thấp đến cao. Chính vì vậy, trong suốt quá trình phát triển, đòi
hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện các mặt của QHSX nhằm
chuyển hoá QHSX từ thấp đến cao, với những hình thức và quy mô thích hợp
nhằm thúc đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ.
20
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG QUAN HỆ SẢN
XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
4.2.1. Đa dạng hoá các loại hình quan hệ sản xuất nhằm tạo điều kiện
cho lực lượng sản xuất phát triển trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Đà Nẵng hiện nay
Thứ nhất, muốn đẩy mạnh đa dạng hoá các loại hình QHSX trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, phải xác định rõ trình độ phát triển của LLSX
trong các thành phần kinh tế ở Đà Nẵng để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn
thiện các mặt của QHSX phù hợp nhằm thúc đẩy LLSX phát triển, đẩy mạnh
CNH, HĐH.
Thứ hai, Do trình độ phát triển của LLSX còn đa dạng, không đều, vì vậy,
phải đa dạng hoá các loại hình QHSX cho phù hợp với trình độ phát triển của
LLSX. Đa dạng hoá các loại hình QHSX là phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Đó chính là nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều hình thức tổ chức
quản lý và hình thức phân phối. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau
hình thành các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng ngày càng phát triển.
4.2.2. Đổi mới và phát triển thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng
hiện nay

đảm các nguyên tắc của Luật Hợp tác xã kiểu mới và các quy định của pháp luật.
4.2.3. Khuyến khích phát triển mạnh thành phần kinh tế tư nhân, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Đà nẵng hiện nay
Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân
Cùng với việc xoá bỏ triệt để mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu
và thành phần kinh tế, cụ thể hoá đầy đủ hơn các chính sách, pháp luật như quyền
sở hữu, quyền huy động, sử dụng và thừa kế tài sản, vốn; quyền tự chủ trong việc
lựa chọn mô hình kinh doanh để các chủ thể kinh tế tư nhân yên tâm đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH.
Hướng dẫn và tạo điều kiện để kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển trong sự
liên kết, hợp tác với các hợp tác xã và các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng hoá theo quy mô lớn, tập trung.
Khuyến khích doanh nghiệp tư bản tư nhân phát triển những công ty, tập
đoàn hoạt động trong các ngành có tiềm năng và lợi thế, như công nghiệp công
22
nghệ thông tin, công nghiệp nặng, ngân hàng, vận tải đường biển, hàng không, du
lịch, thương mại, tài chính, ngân hàng, y tế, khoa học - công nghệ…
Khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân thực hiện xã hội hoá sở
hữu, đa dạng hoá các hình thức góp vốn đầu tư, liên kết trong và ngoài nước, tổ
chức bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để hình thành các
doanh nghiệp hỗn hợp có quy mô lớn, đẩy mạnh xã hội hoá kinh doanh.
Thứ hai, phát triển mạnh mẽ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Để thành phần kinh tế đầu tư, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của xã
hội phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH, phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật bảo hộ
chặt chẽ vốn, tài sản và các khoản lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư nước ngoài.
Đa dạng hoá, mở rộng huy động các nguồn vốn FDI, ODA, NGO, với
các hình thức đầu tư BOT, BT, BO, PPP… Khuyến khích và tạo mọi điều kiện
thuận lợi để thành phần kinh tế này đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh tế
phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế của Đà Nẵng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status