Một số biện pháp hướng dẫn học sinh phát hiện và chữa lỗi câu trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 5. - Pdf 24

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
Trong Tiếng Việt, từ và câu là một bình diện quan trọng của ngôn ngữ,
bên cạnh bình diện về phong cách giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những quy tắc:
cấu tạo từ; biến đổi từ; kết hợp thành cụm từ, câu (đơn vị nhỏ nhất có thể thực
hiện chức năng giao tiếp) cả quy tắc liên kết câu để tạo thành đơn vị lớn hơn là
đoạn văn và văn bản. Từ và câu có chức năng chi phối việc sử dụng các đơn vị
ngôn ngữ để tạo thành lời nói, làm cho ngôn ngữ thực hiện được chức năng của
mình là “công cụ giao tiếp” trong đời sống xã hội. Từ và câu có vai trò quan
trọng trong việc tạo lập văn bản và hướng dẫn học sinh thực hiện các kĩ năng:
nghe, nói, đọc, viết. Nó còn là yếu tố quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ,
những phẩm chất tốt đẹp của người học sinh. Vì vậy, vai trò của phân môn
Luyện từ và câu đã quy định tầm quan trọng của việc dạy – học Tiếng Việt
trong trường Tiểu học đặc biệt là giúp học sinh biết cách sử dụng các từ ngữ
chính xác. Nói, viết phải thành câu thì người nghe, người đọc mới hiểu hết nội
dung cần thông báo, đảm bảo tính thẩm mĩ trong khi giao tiếp.
Ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã được làm quen với việc
học từ và câu một cách có hệ thống. Dạy tiếng Việt cũng là dạy tiếng mẹ đẻ. Vì
vậy, trước khi đến trường các em đã có sẵn một vốn từ ngữ (lời nói) của học
sinh, điều đó cũng giúp cho các em nắm bắt được những kiến thức cơ bản, cần
thiết, vừa sức; dần dần trang bị cho các em hệ thống những khái niệm, sự hiểu
biết về ngôn ngữ, quy luật của nó. Trên cơ sở đó, các em nắm được: Quy tắc
chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói. Đồng thời rèn luyện tư duy và
giáo dục thẩm mĩ trong giao tiếp cho học sinh thông qua ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết. Tuy nhiên việc dùng sai từ hoặc đặt câu không đúng là một hiện
1
tượng khá phổ biến đối với học sinh Tiểu học. Dùng từ sai làm cho câu văn tối
nghĩa, nhạt nhẽo, sai ý, khiến người đọc, người nghe hiểu lầm, hiểu không hết
ý trình bày.
Nhìn lại thực trạng vấn đề dạy và học phân môn Luyện từ và câu ở trường
Tiểu học nói chung và ở lớp 5A tôi đang dạy nói riêng. Bản thân tôi cũng như

dùng chưa đúng một vài từ ngữ hay nói câu thiếu chủ ngữ. Qua việc giảng dạy,
tôi cũng nhận thấy không chỉ khi nói các em mới mắc các lỗi trên mà khi viết
các em cũng mắc các lỗi tương tự.
Để năm bắt thực trạng một cách khách quan và khoa học tôi tiến hành
khảo sát chất lượng sử dụng từ ngữ trong câu của học sinh do lớp tôi phụ trách.
* Thời gian khảo sát: Tuần 4 của tháng 9 năm 2012 (trong giờ học tăng
buổi).
* Đối tượng khảo sát: Bài làm của 27 em học sinh lớp 5A
* Nội dung khảo sát: Tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra với đề bài khảo
sát như sau:
Các dạng đề bài khảo sát (lần đầu) như sau:
Đề 1:
(Thời gian làm bài 35 phút). Đề bài gồm 4 dạng câu hỏi khác nhau.
Câu 1: Hãy viết một câu đơn bình thường nói về việc học tập của em.
Câu 2: Em của em đang học trường mầm non. Em hãy nói 2 câu văn tập cho em
của em khi đi học về biết chào bố, mẹ, ông, bà…
3
Câu 3: Viết một đoạn hội thoại gồm 4 – 5 câu có nội dung: em đang trao đổi với
thầy giáo về một bài toán.
Câu 4: Viết 2 câu:
+ Một câu có vị ngữ là động từ.
+ Một câu có vị ngữ là tính từ.
Đề 2
(Thời gian làm bài 35 phút).
Câu 1: Theo em từ dùng sai trong các câu sau là từ nào? Vì sao sai? Hãy chữa
lại cho đúng:
+ Dòng sông quê em bốn mùa nước chảy hiền từ.
+ Con chó nhà em có bộ lông đen đủi rất mượt.
+ Sau một ngày làm việc tất bật, tối về dưới ánh trăng vàng, bà
con làng tôi cùng nhau yên nghỉ tâm sự.

I. Các giải pháp thực hiện
Tôi tự đề ra cho mình một quyết tâm lớn: Mình phải có trách nhiệm giúp
các em khắc phục được các lỗi trên thì việc học phân môn Luyện từ và câu mới
đạt kết quả tốt.
Bản thân tôi nhận thấy để giúp được các em biết cách phát hiện và chữa
một số lỗi sai trong câu, giáo viên phải hiểu và nắm vấn đề để giúp các em hiểu,
nắm các nguyên tắc sử dụng từ ngữ, luyện viết câu, tạo lập văn bản.
Một là: Áp dụng nguyên tắc giao tiếp.
5
Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và
người nghe nhằm đạt được một mục đích nào đó. Thông thường, giao tiếp trải
qua ba trạng thái:
1. Trao đổi thông tin tiếp xúc tâm lý
2. Hiểu biết lẫn nhau
3. Tác động và ảnh hưởng lẫn nhau.
Nguyên tắc giao tiếp là hệ thống những quan điểm chỉ đạo, định hướng
thái độ hành vi ứng xử, đồng thời chỉ đạo việc lựa chọn các phương pháp,
phương tiện giao tiếp của cá nhân. Nó được hình thành từ thói quen, từ vốn
sống kinh nghiệm cá nhân và được rèn luyện trong thực tế.
Nguyên tắc giao tiếp còn gọi là nguyên tắc phát triển lời nói hay nguyên
tắc gắn liền lí thuyết với thực hành.
Dạy cho các em biết sử dụng tiếng mẹ đẻ coi như nó là một công cụ giao
tiếp. Dùng ngôn ngữ để trao đổi tư duy tình cảm, vận hành giao tiếp để sử dụng
ngôn ngữ làm phương tiện nghe, nói, đọc, viết kể cả học sinh tiếp nhận kiến
thức trong giờ học. Đảm bảo sự thống nhất giữa lí thuyết và thực hành với mục
đích hình thành khả năng và năng lực giao tiếp.
Vì thế, đối với việc giúp học sinh nắm nguyên tắc này: Từng giờ, từng
phút trong tiết Luyện từ và câu bản thân tôi luôn luôn phải tự đặt ra cho mình
các câu hỏi: Mình phải làm gì để giúp học sinh nghe, nói, đọc viết được? Sử
dụng nó như thế nào trong giao tiếp? Tôi chọn đơn vị câu là trục chính vì: Câu

giáo viên đưa ra hoặc các lỗi trong các câu của học sinh viết, nói)
7
2. Hướng dẫn học sinh phát hiện ra lỗi.
3. Hướng dẫn học sinh cách chữa lỗi.
1. Hướng dẫn học sinh phát hiện và chữa lỗi khi dạy phân môn Luyện từ và câu.
Trong các tiết dạy Luyện từ và câu là phân môn mà có nhiều điều kiện để
thực hiện quyết tâm của mình, tôi luôn quan tâm hướng dẫn các em phát hiện ra
lỗi và chữa lỗi.

Ví dụ 1: Khi hướng dẫn bài tập 3 (Viết một đoạn văn tả một cảnh đẹp của
quê em hoặc nơi em ở) trong bài: Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên – Tiếng Việt 5
Tuần 9. Có học sinh đã viết: “Quê em là một vùng đồng bằng. Nơi đây có cánh
đồng rộng thênh thang….”
Tôi đã yêu cầu các em tìm ra lỗi trong câu trên. Học sinh phát hiện được
đó là lỗi dùng từ “thênh thang” sai. Sở dĩ có lỗi này là do học sinh không hiểu
hết nghĩa của từ “thênh thang”. Tôi yêu cầu một số học sinh nêu cách hiểu của
mình về từ này. “Thênh thang” có nghĩa là rộng rãi, thoáng đãng, gây cảm giác
không có gì làm cho các hoạt động bị vướng và nó cũng chỉ các nơi cao ráo.
Qua đó giáo viên chốt cho học sinh, người ta có thể nói: Con đường rộng thênh
thang. Ngôi nhà rộng thênh thang. Chứ không nói: Cánh đồng rộng thênh thang.

Ví dụ 2: Khi tả về người mẹ đang cấy lúa giữa trưa tháng sáu nóng bức (ở
BT2 - Ôn tập về từ loại – Tuần 14) có em đã viết: “… Khi nước ở các thửa
ruộng nóng như có ai nấu lên….”
Thường thì học sinh không để ý từ “khi” nên cho là câu đã hoàn chỉnh.
Tôi đã hướng dẫn: Có từ “khi” đứng dầu hoặc từ “ấy” đứng sau thì đó mới chỉ
là bộ phận trạng ngữ chứ chưa phải là câu.
Hướng dẫn cách chữa lại là:
+ Cách 1: Bỏ từ “khi”
8

hiện thực khách quan, phản ánh sai hiện thực do dùng từ sai. Tôi đưa ra và
hướng cho các em 2 cách sửa:
+ Cách 1: Nếu thực sự con lợn nhà em chỉ to hơn quả dưa hấu thì không
thể nặng tới tám mươi ki-lô-gam được. Em phải sửa trọng lượng của con lợn
khoảng 20 – 25 ki-lô-gam.
+ Cách 2: Nếu thực sự con lợn nhà em nặng tám mươi ki-lô-gam (theo sự
phán đoán của người lớn) thì em không thể so sánh với quả dưa hấu. Em có thể
sửa lại câu: “Em nghe bố nói: Con lợn nhà em nặng tới tám mươi ki-lô-gam”.
Khi dạy Tập đọc, nhiều học sinh trả lời câu hỏi tìm hiểu bài nói thiếu chủ ngữ.

Ví dụ: Trong bài: Người gác rừng tí hon, thầy giáo hỏi: Theo lối ba vẫn đi
tuần rừng, bạn nhỏ đã phát hiện được điều gì?
Học sinh trả lời: Thưa thầy, phát hiện được những dấu chân người lớn hằn trên đất.
Câu trả lời của học sinh thiếu hẳn bộ phận chủ ngữ. Tôi yêu cầu học sinh đó
trả lời lại và nói đầy đủ câu: “Thưa thầy, theo lối ba vẫn đi tuần rừng, bạn nhỏ
phát hiện được những dấu chân người lớn hằn trên đất.”
Khi dạy Chính tả, một số học sinh dùng dấu câu không đúng.

Ví dụ: Trong bài Chính tả Tuần 23 (Nhớ - Viết) bài: Cao Bằng có HS đã
viết: Cao Bằng, rõ thật cao.
Tôi hướng dẫn các em: Đây là câu thể hiện cảm xúc nên cuối câu phải
dùng dấu chấm cảm. Vì vậy chúng ta cần sửa lại: Cao Bằng, rõ thật cao !
10
3. Hướng dẫn học sinh phát hiện và chữa lỗi khi giao tiếp.
Để thực hiện quyết tâm của mình là khắc phục được những lỗi trên cho
học sinh, khi giao tiếp, trò chuyện với học sinh tôi cũng thường xuyên sửa lỗi
cho các em. Nhiều khi các em cũng đưa ra những câu như:
+ Hôm qua em kết bạn.
Hay: + Hôm qua Lan đi chơi.
(Thêm ví dụ tương tự)

Dạng bài: Lỗi dùng từ sai do không hiểu nghĩa.
Đề 1:
Em hãy lựa chọn các từ trong ngoặc đơn ở dưới và thay thế cho các từ in
nghiêng để diễn đạt đúng ý của câu văn.
Câu 1: Ngắm nhìn cánh đồng lúa và rặng dừa xanh em cảm thấy quê mình hoà
bình quá!
Câu 2: Sa Pa thật đẹp, thật là kì ảo nhưng đường đến với Sa Pa thật là bất chắc.
Câu 3: Những ngày hè, sân trường vắng lặng, tôi chỉ nghe thấy tiếng lá khô lao
xao chạm vào nhau.
(thái bình; yên ả; thanh bình; chắc trở; gian nan; lào xào; xào xạc)
Sau khi học sinh làm bài tập, giáo viên hướng dẫn gợi ý cách chữa bài:
Hướng dẫn chữa bài:
Câu 1: Từ dùng sai đó là từ hoà bình. Giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của từ
hoà bình là tình trạng không có chiến tranh, ý của người viết muốn diễn tả vẻ
12
đẹp của quê hương mà dùng từ hoà bình là không đúng. Đây là loại lỗi dùng sai
từ do chưa hiểu nghĩa của các từ gần nghĩa nên dùng chưa phù hợp.
Hướng dẫn cách thay thế từ đúng: Em có thể lựa chọn một trong 3 từ:
thái bình; yên ả; thanh bình để thay thế cho phù hợp với với nội dung tả vẻ đẹp
quê hương của câu văn.
Câu 2 và 3: Tôi cũng hướng dẫn các em hiểu nghĩa của từ in nghiêng và các từ
trong ngoặc, rồi gợi ý cho các em tự tìm đáp án cần điền.
Sửa lại như sau:
Câu 2: Sa Pa thật đẹp, thật là kì ảo nhưng đường đến với Sa Pa thật là chắc trở.
Câu 3: Những ngày hè, sân trường vắng lặng, tôi chỉ nghe thấy tiếng lá khô xào
xạc chạm vào nhau.
Dạng bài: Lỗi về cấu tạo ngữ pháp.
Đề 2
:
Hãy chỉ ra các lỗi viết sai trong các câu văn sau và sửa lại cho đúng:

Câu 3: Tôi cũng không biết thế nào? Dê trắng tìm mãi không thấy bạn đâu?
Câu 4: Mẹ của em, là người mẹ rất thương con.
Câu 5: Trăng đã lên: em thấy hôm đó trăng rất sáng.
Hướng dẫn chữa bài:
Câu 1: Lỗi là không dùng dấu câu, ta tách đoạn trên ra thành các câu, ghi dấu
câu và viết hoa lại cho đúng bằng cách: đọc kĩ từng ý, xác định các bộ phận
chính trong câu, tách câu rồi mới ghi dấu câu.
14
Sửa lại như sau: Ngày xửa ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, có một vị thần
tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, sức khoẻ vô địch, lại có nhiều phép lạ.
Câu 2: Câu này sử dụng dấu chấm thứ hai sai.
Sửa lại: Bỏ dấu chấm thứ hai, thay bằng dấu phẩy. (Con chó nhà em có
bộ lông màu đen, rất mượt.)
Câu 3: Sử dụng sai dấu chấm hỏi. Bỏ hai dấu chấm hỏi thay bằng dấu chấm
than và dấu chấm. (Tôi cũng không biết thế nào! Dê trắng tìm mãi không thấy bạn
đâu.)
Câu 4: Câu này sử dụng thừa dấu phẩy.
Sửa lại là bỏ dấu phẩy. (Mẹ của em là người mẹ rất thương con.)
Câu 5: Sử dụng sai dấu hai chấm vì trong câu trên vế sau không giải thích cho vế trước.
Sửa lại: thay dấu hai chấm bằng dấu phẩy. (Trăng đã lên, em thấy hôm đó
trăng rất sáng.)

Sau mỗi đề bài, khi hướng dẫn chữa xong, tôi đều yêu cầu học sinh nối
tiếp nhau nêu lại từng câu văn các em đã làm hoàn chỉnh (tuỳ vào từng ý diễn
đạt của học sinh), yêu cầu học sinh trao đổi với bạn bên cạnh ghi nhớ kiến thức
và góp phần nâng cao kĩ năng giao tiếp của các em.
III. Kết quả đạt được:
Qua nhiều năm được giảng dạy lớp 5 đặc biệt là năm học 2011- 2012 tôi đã
vận dụng một số biện pháp nêu trên vào giảng dạy và thấy chất lượng môn
Luyện từ và câu được nâng lên đáng kể. Hiện tại lớp tôi vào thời điểm này còn

Sau khi áp dụng
giải pháp
9 33,4% 8 29,6% 10 37% 0 0
16
Bảng so sánh cho thấy, tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi tăng 18,6%; tỉ lệ học
sinh đạt điểm yếu giảm còn 0%
Như vậy, trong thời gian qua, bằng lòng nhiệt tình say mê với công việc
của mình, bản thân tôi đã tìm tòi học hỏi đồng nghiệp. Phần nào tôi cũng đã yên
tâm hơn về vấn đề dạy học phân môn Luyện từ và câu dạng bài Phát hiện và sửa
lỗi sai trong câu.
Thời gian trôi đi, học sinh lớp tôi phụ trách đã có tiến bộ nhiều. Trong đó
có sự tiến bộ về kiến thức phân môn Luyện từ và câu ở dạng bài tập Phát hiện
và chữa lỗi sai trong câu của các em học sinh lớp 5A của tôi. Tôi thật vui mừng
khi kết quả các bài tập tôi đưa ra gần hết các em trong lớp đều đạt điểm khá và
giỏi, một vài em kiến thức kém hơn cũng làm được trên một nửa số bài có kết
quả đúng. Nhìn vào kết quả đạt được, tôi tin rằng chất lượng học phân môn
Luyện từ và câu ở lớp tôi sẽ càng ngày càng có kết quả cao. Ngoài ra còn góp
phần làm cho các em yêu thích môn Tiếng Việt hơn, thích giao tiếp hơn và cũng
góp phần nâng cao chất lượng các môn học khác trong chương trình lớp 5 nói
riêng và trong chương trình Tiểu học nói chung.

C. KẾT LUẬN.
Qua việc khảo sát thực trạng dạy – học môn Tiếng Việt, phân môn Luyện
từ và câu ở lớp 5A, tìm hiểu chương trình sách giáo khoa mới trên các bình
diện khác nhau của quá trình dạy – học Tiếng Việt, nghiên cứu các tài liệu dạy
– học, bản thân tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất: Điều kiện ban đầu và cần thiết đối với mỗi người giáo viên là
chúng ta phải nắm chắc nội dung dạy học, biết những kiến thức, kĩ năng cần
17
thiết trang bị cho học sinh. Thế giới ngôn từ là vô tận, việc học Tiếng Việt (học

2. Đề xuất với Ban chỉ đạo cấp trên: cần tăng thêm các dạng bài về Phát
hiện và chữa các lỗi trong câu, vì trong chương trình SGK mới rất ít nội dung này.
Trên đây là những việc làm của bản thân tôi đã mang lại những thành
công nhất định. Trong quá trình thực hiện, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng
nhưng không tránh khỏi những thiếu xót. Kính mong Hội đồng Khoa học các
cấp và các bạn đồng nghiệp góp ý xây dựng thêm để đề tài của tôi được hoàn
thiện và vận dụng có hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hoàn thành, tháng 4 năm 2012

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status