PHÒNG GD & ĐT QUẬN THANH XUÂN
==============
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ
VẬN DỤNG TỐT PHÉP TU TỪ SO SÁNH
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3
LĨNH VỰC: TIẾNG VIỆT
N¨m häc : 2014 * 2015
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THANH XUÂN
TRƢỜNG TIỂU HỌC KHƢƠNG MAI
MÃ SKKN
(Dùng cho HĐ
chấm của sở)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ
VẬN DỤNG TỐT PHÉP TU TỪ SO SÁNH
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3
Lĩnh vực : TIẾNG VIỆT
Tác giả
: Bùi Thị Hƣơng Sen
nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân
môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó
có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3.
Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so
sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so
sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so
sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động và gần gũi hơn. Để
viết được những câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ
nhà văn phải có sự quan sát tinh tế và kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo
nên sự thành công của tác phẩm .
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn
tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca,
đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi.
Việc giúp các em tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong tác phẩm để qua đó dạy các
em biết cách sử dụng các biện pháp tu từ vào trong những bài học của mình. Vậy,
vấn đề đặt ra là: Giáo viên cần có những hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
như thế nào để các em tích cực tham gia vào hoạt động học tập và giờ dạy đạt hiệu
quả cao.
1/24
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tế ở trường mình dạy và trao đổi với các bạn bè đồng nghiệp ở
trường bạn, tôi thấy các giáo viên đều hiểu rõ tầm quan trọng của phân môn Luyện
từ và câu cũng như cái hay cái mới của phân môn này. Do có những nét mới trong
phân môn này nên khi dạy về biện pháp tu từ so sánh, nhiều giáo viên đã biến giờ
học Luyện từ và câu thành một giờ “giảng văn” nhằm lột tả cái hay, cái đẹp trong
mỗi hình ảnh so sánh. Điều đó hoàn toàn sai phương pháp đặc trưng của phân môn,
dẫn đến học sinh không không nắm được kiến thức trọng tâm của bài, chính vì vậy
- Kế hoạch nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.
2/24
B. NỘI DUNG
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC DẠY BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3
Đối với học sinh Lớp 3, So sánh là mảng kiến thức mới song cũng phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học: giàu trí tưởng tượng, giàu cảm
xúc, cách suy nghĩ hồn nhiên, trong sáng…Biện pháp so sánh có khả năng khắc
họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động,
mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn
đạt được mọi sắc thái biểu cảm. So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư
tình cảm một cách kín đáo và tế nhị. Như vậy so sánh trong văn học mang chức
năng nhận thức và biểu cảm. Học tốt biện pháp So sánh sẽ giúp các em hiểu và
cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong những câu văn, những bài văn, bài thơ. Qua
đó góp phần mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn để giúp các em viết được
những câu văn hay, gợi tả, gợi cảm và những bài văn giàu cảm xúc. Không chỉ có
vậy, nó còn giúp cho các em học tốt thể loại văn miêu tả ở Lớp 4 và Lớp 5, thể loại
văn nghệ thuật sử dụng lời văn có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người
đọc hình dung rõ nét, cụ thể, sinh động về các sự vật hiện tượng…
Hơn thế nữa, biện pháp So sánh còn giữ vai trò quan trọng trong việc diễn
đạt tư tưởng, tình cảm thích hợp với việc biểu đạt các đặc điểm, thuộc tính riêng
vốn có của các sự vật, hiện tượng… tạo nên những bức tranh sinh động với gam
màu ấn tượng bằng ngôn từ.
Chính vì vậy, dạy So sánh được rất nhiều giáo viên quan tâm, nhất là giáo
viên dạy lớp 3. Vấn đề được đặt ra là dạy như thế nào cho hợp lý nhất, học sinh
nắm bài tốt nhất để từ đó các em biết cách vận dụng vào những bài văn một cách
chính xác và đạt hiệu quả cao.
1.2 Về phía học sinh:
Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực
quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ
so sánh còn hạn chế.
Qua thực tế giảng dạy ở lớp mình phụ trách và tìm hiểu thêm về học sinh lớp
khác qua các đồng nghiệp, tôi thấy các em còn mắc những lỗi sau:
- Học sinh nhầm lẫn giữa so sánh logic và so sánh tu từ
Ví dụ câu “ Trăng đêm nay sáng quá, trăng mai còn sáng hơn” là một phép
so sánh tu từ bậc hơn kém nhưng thực tế nó là phép so sánh logic.
- Nhận diện sai các yếu tố so sánh
Ví dụ câu: “ Những hạt sương sớm đọng trên lá long lanh như những bóng
đèn pha lê.” học sinh xác định các sự vật được so sánh với nhau là “ hạt sương” so
sánh với “ lá” như vậy là sai. Đáp án ở đây phải là “ hạt sương sớm” được so sánh
với “ bóng đèn pha lê”.
Hay trong các câu thơ sau:
Mùa đông
Trời là cái tủ ướp lạnh
Mùa hè
Trời là cái bếp lò nung.
Các em thường xác định sai là mùa đông so sánh với tủ ướp lạnh
mùa hè so sánh với bếp lò nung
- Tạo hình ảnh so sánh chưa hợp lý
Học sinh đặt câu có hình ảnh so sánh “Con đường thẳng tắp như một chiếc
thước kẻ.”. Hầu hết các em chỉ biết tạo ra hình ảnh so sánh mà thiếu đi tính thẩm
mĩ của nghệ thuật so sánh.
- Chưa cảm nhận được giá trị của phép so sánh.
Chẳng hạn với những câu hỏi như : Trong các hình ảnh so sánh có ở trong
bài, em thích hình ảnh nào? Vì sao? Các em chỉ nêu được hình ảnh so sánh mình
thích chứ không giải thích được vì sao thích.
Để kiểm tra khả năng nắm bài cũng như theo dõi sự tiến bộ của học sinh, tôi
3.1.1. Nội dung chương trình sách giáo khoa:
Muốn giảng dạy tốt từng bộ môn, phân môn thì việc đầu tiên người giáo
viên phải nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình sách giáo khoa để có phương pháp
và kế hoạch dạy học đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, khi
được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3 tôi đã bắt tay ngay vào việc nghiên
cứu kỹ chương trình để có định hướng dạy tốt phân môn Luyện từ và câu, nhất là
mảng kiến thức về phép tu từ So sánh.
Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 được dạy 1tiết/1 tuần trong đó có 7 tiết dạy
về So sánh (trong học kỳ I). Mục đích yêu cầu về nội dung, kiến thức mỗi tiết cũng
nâng dần mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp học sinh từng bước
nắm bắt, ghi nhớ và luyện tập có hiệu quả.
Yêu cầu và mức độ của mỗi tiết dạy được tôi cụ thể hóa trong bảng sau:
Tiết/tuần
Tiết 1 (Tuần 1)
Tiết 2 (Tuần 3)
Tiết 3 (Tuần 5)
Tiết 4 (Tuần 7)
Tiết5 (Tuần10)
Tiết 6 (Tuần 12)
Tiết 7 (Tuần 15)
Nội dung
Học sinh bước đầu làm quen với biện pháp tu từ So sánh
Học sinh biết cách tìm những hình ảnh so sánh trong các
câu thơ, câu văn và nhận biết các từ chỉ sự so sánh trong các
câu văn đó
Học sinh nắm bắt được kiểu so sánh: So sánh hơn kém, so
sánh ngang bằng. Biết cách thêm các từ so sánh vào những
câu văn chưa có từ so sánh.
Học sinh tìm hiểu thêm một cách so sánh: so sánh sự vật với
tượng nên việc hướng dẫn các em tìm hiểu những biện pháp tu từ không phải là dễ.
Bởi vậy, khi dạy phép so sánh trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh, tôi đã
chú ý đến những yêu cầu cơ bản sau:
- Sử dụng đồ dùng trực quan và thông qua các ví dụ cụ thể để dẫn dắt học
sinh dần dần hiểu, nắm bắt, vận dụng biện pháp tu từ so sánh theo mức độ từ dễ
đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để từ đó nâng dần khả năng tư duy, óc sáng tạo
cho học sinh.
- Thông qua các bài tập nhận biết, học sinh được luyện tập và vận dụng biện
pháp tu từ so sánh trong khi nói và viết. Bên cạnh đó, học sinh còn cần được tiếp
xúc với ngôn ngữ nghệ thuật để biết cách cảm thụ cái hay, cái đẹp của thơ văn.
3.2. Biện pháp 2: Tìm hiểu khái niệm, cấu trúc của phép tu từ So sánh
Để dạy tốt kiến thức về so sánh thì người giáo viên phải nắm vững kiến thức
về phong cách học nói chung và phép so sánh tu từ nói riêng. Có như vậy giáo viên
mới chủ động trong bài giảng cũng xử lý tốt các tình huống.
3.2.1 Khái niệm:
So sánh tu từ là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu các sự vật với
nhau miễn là giữa các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ
thể,những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe.
Khi so sánh phải có ít nhất hai sự vật trở lên. Trong đó có sự vật so sánh (A)
và sự vật được so sánh (B). Hai sự vật này phải có ít nhất một nét tương đồng.
Hiệu quả của phép tu từ so sánh là gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm
xúc thẩm mĩ.
6/24
3.2.2 Phân biệt sự khác nhau giữa so sánh tu từ và so sánh logic:
So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người, là
việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm
ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.
Từ so sánh
Đối tƣợng đƣa ra để
làm chuẩn so sánh
(2)
tròn
(3)
như
(4)
cái đĩa
Trong đó :
- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo việc
so sánh là tích cực hay tiêu cực.
- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái
của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương diện
so sánh.
- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng
nhau. Ngoài từ “ nhƣ” còn có các từ “ tựa”, “ tựa nhƣ”, “ giống nhƣ”, “ là”,
“nhƣ là”, “ nhƣ thể”…; so sánh hơn kém như từ “ hơn”, “ chẳng bằng”…
- Yếu tố (4) là cái được so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
Theo cấu trúc như trên, đối tượng được so sánh và đối tượng đưa ra để làm
chuẩn so sánh có thể là sự vật, con người, âm thanh, đặc điểm, hoạt động…
7/24
Dựa vào cấu trúc có thể chia ra các dạng so sánh sau:
so sánh với nhiều đối tượng được so sánh.
Ví dụ:
Bác là cha, là bác, là anh.
Dựa vào mặt ngữ nghĩa thì so sánh tu từ có 2 dạng: so sánh ngang bằng và so
sánh hơn - kém.
+ Dạng so sánh ngang bằng.
Đây là dạng so sánh phổ biến thường dùng từ “ như”, “ là”, “tựa”, “ tựa
như”… để làm từ so sánh.
Ví dụ: Giọt sương sớm long lanh như những hạt ngọc.
+ Dạng so sánh hơn- kém
Đây là dạng so sánh luôn gắn với từ hơn : khỏe hơn, đẹp hơn hoặc chẳng
bằng.
Ví dụ:
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánh khác
nhau về bản chất. Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốn là khác loại,
khác bản chất có thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặc điểm, những nét
giống nhau.
8/24
Vậy so sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu
hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn
toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri
giác mới mẻ về đối tượng.
Mặt khác, sách giáo khoa Tiếng Việt 3 không trực tiếp đưa ra khái niệm
So sánh (với tư cách là một biện pháp tu từ) cho học sinh mà thông qua các bài tập
dần dần hình thành khái niệm đơn giản về so sánh cho học sinh. Chính vì vậy khi
dạy về so sánh cho học sinh, tôi đã dựa trên các dạng bài tập để phân loại và lựa
viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật này đều có điểm nào giống nhau,
chẳng hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.
9/24
Trên thực tế ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ dàng
nhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn nên tôi đã cho học
sinh xem ảnh “cánh diều” và “dấu á”. Còn dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía
trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai thì tôi cho học sinh nhìn vào vành tai bạn.
Cuối cùng tôi đưa ra kết luận: Các tác giả quan sát rất tài tình nên đã phát
hiện sự giống nhau giữa các sự vật xung quanh ta. Bởi vậy, khi so sánh cần có hai
sự vật đưa ra, hai sự vật đó phải có điểm giống, điểm tương đồng với nhau. Và
trong hai sự vật đó (1 sự vật được so sánh, 1 sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh)
thường được đặt trước và sau từ “như”. Đây là một dấu hiệu để nhận ra các sự vật
được so sánh với nhau trong câu.
* Ví dụ 2: Tiết 2 - Tuần 3 (Bài tập 1 + 2/ Trang 24 - Tiếng Việt 3, Tập 1)
- Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu văn, câu thơ sau. Nêu các từ chỉ sự so
sánh.
a) Mắt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.
Thanh Hải
b) Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm.
Tô Hà
c) Mùa đông
Dòng sông
Từ so sánh
tựa
như
là
là
là
Từ chỉ sự vật dùng để so sánh
vì sao
mây từng chùm
cái tủ ướp lạnh
cái bếp lò nung
đường trăng lung linh dát vàng
Như vậy, yêu cầu của bài học đã nâng cao dần so với tiết 1. Học sinh không
chỉ nêu được các sự vật so sánh, từ chỉ sự so sánh “như” mà còn nêu được các từ
chỉ sự so sánh thường dung: như, là, tựa như, tựa, …
Tôi nhấn mạnh để học sinh hiểu: Từ chỉ sự so sánh chính là dấu hiệu để
nhận biết câu văn, câu thơ có hình ảnh so sánh.
Sau tiết học, nhằm củng cố lại kiến thức cho học sinh, tôi yêu cầu học sinh
làm bài tập sau:
Tìm các sự vật được so sánh, sự vật dùng để so sánh và từ so sánh trong câu
sau:
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây.
Đáp án:
Từ chỉ sự vật đƣợc so sánh
Từ so sánh
Dựa vào các từ so sánh vừa tìm được, tôi hướng dẫn học sinh nhận diện kiểu
so sánh mới (so sánh hơn kém); từ đó phân biệt được 2 kiểu so sánh bằng các câu
hỏi:
+ Trong câu a, cách so sánh “Cháu khỏe hơn ông nhiều” và “Ông là buổi
trời chiều” có gì khác nhau? Hai sự vật được so sánh với nhau trong mỗi câu là
ngang bằng nhau hay hơn kém nhau?
Trả lời:
- Câu “Cháu khỏe hơn ông nhiều”, hai sự vật so sánh với nhau là “ông” và
“cháu”; hai sự vật này không ngang bằng nhau mà có sự chênh lệch hơn kém (cháu
hơn ông).
- Câu “Ông là buổi trời chiều”, hai sự vật này có sự ngang bằng nhau.
+ Sự khác nhau về cách so sánh của hai câu này do đâu tạo nên?
(Trả lời: Do từ so sánh khác nhau tạo nên. Từ “hơn” chỉ sự hơn kém, từ “là”
chỉ sự ngang bằng nhau).
Sau khi học sinh nhận biết được hai kiểu so sánh, giáo viên cho học sinh xếp
các hình ảnh vào hai nhóm: + So sánh ngang bằng
+ So sánh hơn kém
Đặc biệt, ở bài học này, tôi đã nhấn mạnh cho học sinh: Sự khác nhau về
cách so sánh là do từ chỉ sự so sánh tạo nên:
+ Nếu từ so sánh là: tựa, nhƣ, là, giống nhƣ, nhƣ là, bằng…-> thuộc kiểu
so sánh ngang bằng.
+ Nếu từ so sánh là: hơn, chẳng bằng…-> thuộc kiểu so sánh hơn kém.
Như vậy, qua 3 tiết học, mặc dù đều là dạng bài tập nhận biết hình ảnh so
sánh, từ so sánh nhưng học sinh đã nắm bắt được kiểu so sánh và được nâng dần
theo mức độ từ dễ đến khó. Đây cũng là quan điểm chung của tất cả các môn học ở
Tiểu học.
* Ví dụ 4: Tiết 5 - Tuần 10
Với hai bài tập nhận biết hình ảnh so sánh, học sinh tiếp tục luyện tập về so
sánh và hiểu thêm một cách so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh. Ở bài
học này tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu như sau:
- Với câu hỏi a, học sinh đọc thầm khổ thơ và gạch dưới các từ chỉ hoạt
động (lăn, chạy)
+ Yêu cầu học sinh đọc lại khổ thơ để tìm câu thơ có hình ảnh so sánh:
(Chạy như lăn tròn)
- Với câu hỏi b, tôi cho học sinh thảo luận nhóm 2 và nêu ý kiến
Sau các câu trả lời, tôi nhấn mạnh: đây là cách so sánh hoạt động với hoạt
động. Hoạt động “chạy” của những chú gà con được miêu tả giống hoạt động “lăn”
của những hòn tơ nhỏ.
Qua bài tập 1, học sinh bước đầu đã nắm được cách so sánh hoạt động với
hoạt động. Vận dụng các kiến thức đã học trong các tiết trước và bài tập 1, các em
sẽ tự mình khám phá, tìm hiểu để tìm ra được những hoạt động được so sánh với
nhau trong bài tập 2.
* Bài tập 2 /Trang 98- Tiếng Việt 3, tập 1
Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
a. Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất
b. Cau cao cao mãi
Tàu vươn tới trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi
c. Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống như đàn con nằm quanh bụng mẹ.
Khi có gió, thuyền mẹ cót két rên rỉ, đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền
mẹ như đòi bú tí.
Sau khi học sinh trao đổi, nêu ý kiến, giáo viên hệ thống lại kiến thức của
bài tập 2 qua bảng sau nhằm giúp học sinh nắm chắc cấu trúc của so sánh:
13/24
từ so sánh, kiểu so sánh và các cách so sánh.
Trong mỗi tiết học, mỗi bài tập về dạng nhận biết trên, học sinh lại được
cảm nhận cái hay, cái đẹp của những câu văn có hình ảnh so sánh. Cụ thể như sau:
3.3.2. Dạng bài tập cảm nhận và nêu tác dụng của so sánh
* Ví dụ 1: Tiết 5 - Tuần 10 (Bài tập 1/Trang 79 - TV3, Tập 1)
Với dạng bài này, giáo viên cần cho học sinh giải quyết các câu hỏi sau:
Nếu đặt :
A là sự vật so sánh.
B là sự vật được so sánh.
Học sinh phải trả lời được:
+ So sánh các sự vật, sự việc với nhau như vậy để làm gì?
Trả lời được câu hỏi này là học sinh đã hiểu được tác dụng của biện pháp tu
từ so sánh.
Để học sinh cảm nhận được giá trị nhận thức cũng như giá trị thẩm mĩ của
một hình ảnh so sánh, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu bằng các câu hỏi sau:
+ B giúp các em hình dung ra A như thế nào?
+ B giúp em cảm nhận điều gì mới mẻ về A?
+ Hình ảnh so sánh đó gợi cho em cảm xúc gì?
Ví dụ:
Sau khi tìm được những âm thanh so sánh với tiếng mưa trong rừng cọ là
tiếng thác đổ và tiếng gió, tôi đưa tiếp câu hỏi:
Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ như thế nào?
(Trả lời: Tiếng mưa trong rừng cọ rất to, rất mạnh và rất vang)
-> Như vậy cách so sánh đó đã giúp cho người đọc, người nghe hình dung rõ
hơn về tiếng mưa trong rừng cọ. Đó chính là tác dụng của so sánh: làm cho đối
tượng được so sánh rõ hơn, nổi bật hơn.
Tương tự với bài tập 1, ở bài tập 2 tôi cũng đưa ra các câu hỏi giúp học sinh
cảm nhận cái hay, cái đẹp của phép so sánh.
14/24
a. Cánh đồng lúa chín vàng trông như tấm thảm khổng lồ.
b. Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ như một chiếc gương bầu dục lớn.
* Ví dụ 2: Tiết 7 - Tuần 15 (Bài tập 3/ Trang 126 - TV3,Tập 1)
Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câu văn có hình
ảnh so sánh các sự vật trong tranh.
Ở bài tập này, sách giáo khoa cung cấp sẵn nội dung so sánh qua các tranh
vẽ từng cặp sự vật có điểm giống nhau. Việc cần làm của học sinh là xác định được
sự vật so sánh và sự vật đưa ra để làm chuẩn so sánh ở từng cặp là gì, sau đó căn
cứ vào các cặp tranh để tìm ra sự giống nhau (tương đồng nhau) giữa các cặp sự
vật trong tranh, từ đó đặt câu có hình ảnh so sánh các sự vật đó.
Để tạo hứng thú cho học sinh đặt câu, tôi phóng to bức tranh trong sách giáo
khoa và hướng dẫn học sinh nói tên các cặp sự vật có trong mỗi tranh.
- Tranh 1: + Mặt trăng so sánh với quả bóng
- Tranh 2: + Nụ cười của bé so sánh với bông hoa
+ Khuôn mặt của bé so sánh với bông hoa
15/24
- Tranh 3:
- Tranh 4:
+ Ngọn đèn so sánh với ngôi sao
+ Ngọn đèn so sánh với ánh trăng
+ Hình dáng nước ta được so sánh với chữ S
Điểm cần lưu ý ở bài tập này là khi so sánh ta cần xác định đâu là sự vật so
sánh và đâu là sự vật dùng để đối chiếu so sánh.
Tiếp đó tôi cho học sinh đặt câu có hình ảnh so sánh phù hợp với từng tranh
rồi viết vào vở; gọi 2 học sinh lên bảng, mỗi học sinh đặt 2 câu theo 2 tranh. Khi
học sinh đặt câu chưa hay, tôi hướng dẫn các em sửa lại câu văn cho hay hơn.
Sự vật A
Đặc điểm so sánh
Từ so sánh
Sự vật B
* Ngoài việc giúp cho học sinh nhận biết được biện pháp tu từ so sánh qua
các tiết học và các bài tập của phân môn Luyện từ và câu, tôi còn giúp học sinh
khai thác và tìm hiểu các hình ảnh so sánh trong các phân môn khác như: Tập đọc,
Tập làm văn, …Từ đó học sinh được củng cố, khắc sâu, mở rộng thêm kiến thức
về So sánh.
* Ví dụ: Bài tập đọc Ông ngoại (Tuần 5) có đoạn văn tả thành phố sắp vào
thu như sau:
Thành phố sắp vào thu. Những cơn gió nóng mùa hè đã nhường chỗ cho
luồng khí mát dịu mỗi sáng. Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong,
trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
Sau phần tìm hiểu đoạn, tôi yêu cầu học sinh tìm câu văn có hình ảnh so
sánh trong đoạn và chỉ ra hình ảnh so sánh trong câu. Hình ảnh so sánh giúp em
hiểu thêm điều gì?
(Câu: Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong, trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố. Hình ảnh so sánh: Trời - dòng sông trong. Hình ảnh so
sánh giúp người đọc hình dung rõ hơn về bầu trời mùa thu.)
Qua hình ảnh so sánh đó các em sẽ biết cách vận dụng để viết về cảnh đẹp
của quê hương trong bài Tập làm văn của mình.
* Không chỉ dừng lại ở đó, trong các tiết hướng dẫn học buổi chiều, mỗi
dạng bài So sánh tôi còn ra thêm cho học sinh một số bài tập nhằm củng cố, khắc
sâu kiến thức về so sánh để các em có thể viết được những câu văn, những đoạn
văn hay và biết cách cảm thụ văn học một cách tốt nhất.
Cháu cười : quả chuối vàng tươi ngoài vườn.
c) Dưới gốc phượng già, những cánh hoa phượng rụng phủ kín mặt đất như
tấm thảm đỏ.
d) Dưới ánh nắng chói chang, hàng ngàn lá cọ xòe ra như những vầng mặt
trời rực rỡ.
Đáp án: a) là
b) tựa , như
c) như
d) như
Bài 3: Tìm các từ so sánh điền vào chỗ trống để tạo thành câu có hình ảnh so sánh.
a) Hai chân chích bông xinh xinh …….. hai chiếc tăm.
b) Rễ cây nổi lên mặt đất thành hình thù kỳ quái……….những con rắn hổ
mang giận dữ.
c) Trăm cô gái………tiên sa.
Đáp án: Có thể là: a) giống như
b) như
c) tựa
Bài 4: Điền các bộ phận của phép so sánh trong mỗi câu sau vào ô trống cho phù
hợp:
a) Những giọt sương sớm đọng trên lá long lanh như những bóng đèn pha lê.
b) Hàng trăm bông hoa giấy thắm đỏ nở đồng loạt như một tấm thảm đỏ rực.
c) Trên trời có một cô mây rất đẹp. Khi thì cô mặc áo trắng như bông, khi
thì thay áo màu xanh biếc, lúc lại đổi áo màu hồng tươi.
Sự vật A
Đặc điểm so sánh
Từ so sánh
18/24
a) ……….. lơ lửng giữa trời như cánh diều đang bay.
b) ……….. cuồn cuộn chảy như những con ngựa tung bờm phi nước đại.
c) Mùa xuân, hoa xoan nở từng chùm tím biếc trông như …………..
d) Trăng rằm trung thu tròn như ……………
Đây là bài tập không phải là khó, nhưng để làm tốt bài bập này thì giáo viên
phải hướng dẫn học sinh quan sát, suy nghĩ, liên tưởng để tìm ra những sự vật có
nét tương đồng với sự vật đã cho, từ đó tạo câu văn có hình ảnh so sánh.
Ví dụ: Trong câu a, con thấy có những sự vật nào giống như một cánh diều?
(mặt trăng lưỡi liềm, hạt cau, dấu á…)
? Trong các sự vật trên, có sự vật nào ta thấy lơ lửng được trên không? (mặt
trăng lưỡi liềm)
Từ đó học sinh chọn được hình ảnh phù hợp điền vào chỗ trống để tạo thành
câu văn đúng và hay: Mảnh trăng lưỡi liềm lơ lửng giữa trời như cánh diều đang
bay.
Tương tự với các trường hợp còn lại, học sinh sẽ viết được những câu văn có
hình ảnh so sánh như:
b) Dòng sông mùa lũ cuồn cuộn như những con ngựa tung bờm phi nước
đại.
c) Mùa xuân, hoa xoan nở từng chùm tím biếc trông như những đám mây
bồng bềnh trên ngọn cây.
d) Trăng rằm trung thu tròn như cái đĩa./ như quả bóng bay…
Bài 6: Em hãy lựa chọn những từ ngữ trong ngoặc thay thế các từ in nghiêng và
thêm từ “như” để câu văn có hình ảnh so sánh:
a) Buổi sáng, những cánh buồm nâu trên biển đẹp quá.
b) Nắng mai hồng rất đẹp trải dài trên con đường làng quê em.
c) Đôi cánh gà mẹ xòe ra chắc chắn che chở cho các chú gà con.
(cánh bướm dập dờn, dải lụa đào, chiếc nơ, hai mái nhà, chiếc ô)
Bài tập này với mục đích bước đầu cho học sinh làm quen với việc viết câu
văn có hình ảnh so sánh để diễn đạt sự vật sao cho sinh động. Bằng hiểu biết và óc
liên tưởng của mình các em sẽ lựa chọn được những từ ngữ thích hợp để thay thế.
tôi cho học sinh so sánh câu thứ hai với câu thứ ba. Khi học sinh đều khẳng định
câu thứ ba không hay bằng câu thứ hai và học sinh diễn đạt lý do theo ý hiểu của
mình vì sao cùng sử dụng phép so sánh mà câu thứ hai lại hay hơn, tôi chốt lại cho
học sinh hiểu: Ở câu thứ hai tác giả dùng hình ảnh “chùm hoa phượng đỏ rực như
những ngọn lửa bập bùng cháy trên cây”, một hình ảnh rất đẹp, rất sinh động để
làm cho màu sắc của hoa phượng trở nên đẹp hơn, câu văn hay hơn và có sức gợi
tả. Còn ở câu thứ ba thì màu hoa phượng được so sánh với màu son, tuy có điểm
giống nhau nhưng cách so sánh đó chưa sinh động và còn làm giảm đi vẻ đẹp của
hoa phượng. Câu văn trở nên khô khan, kém hay hẳn đi.
Như vậy, qua phân tích học sinh sẽ lựa chọn được câu văn hay và các em
còn hiểu được: khi so sánh, muốn cho sự vật miêu tả được đẹp và sinh động thì cần
so sánh với một sự vật khác đẹp hơn và như thế câu văn có được sức gợi tả, gợi
cảm cho người đọc.
20/24
3.4.3.Bài tập dạng vận dụng biện pháp tu từ so sánh
Bài 1: Em hãy sử dụng biện pháp so sánh để diễn đạt lại các câu sau cho sinh
động, gợi cảm hơn:
a) Những bông hoa bàng màu trắng, nhỏ li ti.
b) Bà của em đã già, tóc của bà bạc lắm.
c) Bầy chim non đang hót trong nắng mai.
Với bài tập này học sinh sẽ suy nghĩ và viết lại câu văn theo ý mình. Tôi chú
ý hướng dẫn, chữa cho các em nhưng không áp đặt theo ý cô. Đồng thời, tôi ghi
nhanh một số câu văn hay lên bảng cho các em khác học tập.
Ví dụ:
a) Những bông hoa bàng màu trắng, nhỏ li ti như những hạt cườm trải khắp
trên cành cây.
b) Bà của em đã già, tóc của bà bạc trắng như mây.
3.5. Biện pháp 5: Giúp học sinh nhận biết biện pháp so sánh thông qua
các câu đố dân gian
Kho tàng câu đố dân gian thật phong phú và đa dạng. Nó phản ánh những
thuộc tính, đặc điểm của sự vật, hiện tượng. Nó vừa có chức năng bồi dưỡng tri
thức, vừa có chức năng giải trí cho con người. Trong số đó, cha ông ta cũng đã biết
sử dụng biện pháp so sánh để làm rõ sự vật cần phải tìm nhưng không quá lộ. Dựa
vào điều đó tôi đã sưu tầm và tích luỹ một số câu đố có sử dụng biện pháp so sánh.
Sau một số bài học tôi đưa ra một số câu đố có sử dụng phép so sánh để hướng dẫn
học sinh tìm hiểu thêm về nghệ thuật so sánh.
VD:
Vừa bằng lá tre
Ngo ngoe dưới nước.
(Là con gì?)
Để khai thác, tôi hỏi học sinh như sau:
+ Em có nhận xét gì về câu đố trên?
(Câu đố có sử dụng so sánh nhưng ẩn sự vật so sánh)
+ Sự vật dùng để đối chiếu trong câu đố trên là gì? (Là lá tre)
+ Em cần phải dựa vào chi tiết nào nữa để tìm ra lời giải?
(Dựa vào chi tiết: Ngo ngoe dưới nước)
+ Vậy sự vật so sánh ở đây là sự vật nào? (Là con đỉa)
Với các câu đố tôi đưa ra các em rất thích thú và tìm cách giải. Qua những
câu đố như vậy các em cũng sẽ được khắc sâu kiến thức của mình về cách tìm sự
vật có nét tương đồng với sự vật đã cho.
4. KẾT QUẢ:
Sau một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm, để nắm được kết quả học tập
của học sinh lớp tôi về biện pháp tu từ so sánh, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh
trong lớp 3G đợt 2 với phiếu bài tập sau:
b) Đôi mắt của em bé ……………………………………………………..
c) Những đám mây trên trời ………………………………………………
d) Tiếng mèo kêu trong đêm …………………………………………….
Bài 4: Em hãy một đoạn văn khoảng 3 - 5 câu văn tả đặc điểm của con vật
nuôi mà em yêu thích nhất, trong đó có sử dụng biện pháp so sánh.
Sau khi nghiên cứu và lựa chọn một phiếu bài tập nhằm kiểm tra tổng quát
kiến thức cơ bản về biện pháp so sánh, tôi thu được kết quả như sau:
Bài kiểm
tra
Lần 1
Lần 2
HS nhận biết được
biện pháp tu từ so
sánh
Số lƣợng
%
40
71%
50
89%
HS biết vận dụng
biện pháp tu từ so
sánh để viết văn
Số lƣợng
%
30
54%
48
- Các em đã biết diễn đạt sự cảm nhận cái hay, cái đẹp của nghệ thuật so
sánh. Hơn thế nữa, thông qua luyện tập nhận biết và vận dụng các biện pháp tu từ
so sánh trong phân môn Luyện từ và câu, các em đã tích luỹ cho mình được vốn
kiến thức về ngôn ngữ nghệ thuật, đồng thời các em còn được bồi dưỡng tình cảm
yêu quý đồ vật, cây cối, loài vật và thiên nhiên gần gũi với mình.
Tuy nhiên, trong khi dạy thực nghiệm và qua bài khảo sát, tôi nhận thấy vẫn
còn một số tồn tại nhỏ, như việc học sinh chưa mạnh dạn vận dụng biện pháp tu từ
so sánh vào việc viết văn. Đây cũng sẽ là hướng để tôi tiếp tục nghiên cứu.
23/24