1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiêt của đề tài
Trong những năm qua do điều kiện tự nhiên, đất đai, tập quán sản xuất,
hệ thống giao thông đi lại, vận chuyển hàng hóa không thuận lợi, nguồn nước
phục vụ cho sản xuất không chủ động được nên tình hình sản xuất của người
dân trong khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng hiệu quả chưa
cao, dẫn đến đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó một số hộ dân vào rừng
khai thác tài nguyên trái phép làm tổn hại đến Vườn quốc gia. Do đó, việc
nghiên cứu, lựa chọn và thực hiện mô hình sản xuất có hiệu quả, phù hợp với
khu vực này là một việc hết sức cần thiết.
Để đánh giá đầy đủ hiệu quả của các mô hình hiện tại, nhằm giúp cho
nông hộ có định hướng đúng về mô hình sản xuất để đem lại hiệu quả cao và
sử dụng tốt nguồn tài nguyên góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời sống.
Từ đó góp phần làm giảm đi sự thâm nhập của người dân sống xung quanh
vào rừng khai thác tài nguyên.
Kiên Giang là một trong những tỉnh có sản lượng lúa tương đối cao của
vùng ĐBSCL trên 3 triệu tấn mỗi năm, huyện U Minh Thượng là huyện mới
thành lập, có vườn quốc gia U Minh Thượng, một trong những huyện được
tỉnh quan tâm đầu tư. Người nông dân ở đây có truyền thống canh tác 1vụ lúa
kết hợp với nuôi cá đồng. Trong thời gian gần đây xuất hiện một số mô hình
sản xuất kết hợp như 1 vụ lúa - cá - màu, mô hình 1 vụ lúa - cá - lúa và mô
hình lúa - cá nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào hoàn chỉnh về
đánh giá hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất tại vùng đệm Vườn quốc
gia U Minh Thượng.
Vấn đề hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp nông thôn của huyện U
Minh Thượng là tăng thu nhập trên cùng một diện tích đất. Đặc biệt là hiện
2
nay, sản xuất hàng hoá theo nhu cầu của thị trường thì vấn đề cạnh tranh là
hết sức gay gắt, do đó việc giảm chi phí đầu vào của sản xuất, tăng thu nhập
3.2.1. Phạm vi về nội dung
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các mô hình chủ yếu gồm:
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - màu
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - lúa và
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá
- Đề tài chỉ tập trung vào khía cạnh hiệu quả kinh tế của các mô hình canh
tác.
3.2.2. Phạm vi về không gian
Đề tài thực hiện nghiên cứu tại các xã vùng đệm của Vườn quốc gia trên địa
bàn huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang.
3.2.3. Phạm vi về thời gian
Từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả mô hình canh tác trong nông nghiệp
- Thực trạng hiệu quả kinh tế các mô hình canh tác chủ yếu tại vùng đệm
vườn quốc gia U Minh Thượng.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác chủ yếu
trên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
4
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác trong nông
nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của SX nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học -
kỹ thuật, bởi vì mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng
sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng,
từng khu vực nhất định.
* Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay
thế được.
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội
dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông,…đất
đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ
thống đường giao thông,… để con người điều khiển các máy móc, các
phương tiện vận tải hoạt động.
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất
chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con
người không thể tăng theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là
chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất
6
nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm. Chính vì
thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm,
hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện
pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn,
sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên
đơn vị sản phẩm.
* Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật
nuôi.
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất
định. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện
thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng. Chúng rất
nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí
hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết
quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây trồng và vật nuôi với tư cách sử dụng
trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất
dân.
1.1.1.3. Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp sản xuất giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở
hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn
nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có
nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn,
nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng
8
lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần
thiết đó là lương thực, thực phẩm.
Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển
như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực
phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con
người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nông nghiệp sản xuất còn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp
các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Điều đó được thể
hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:
- Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là
khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị.
Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư sống bằng nông
nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp,
nông thôn thực sự là nguồn dự trữ dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và
đô thị.
Quá trình nông nghiệp hóa và đô thị hóa, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về
lao động, mặt khác năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực
lượng lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô
thị. Đó là xu hướng có tính qui luật của mọi quốc gia trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí
10
- Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát
triển bền vững của môi trường. Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như
phân bón, hóa học, thuốc trừ bệnh,…làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong
quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và
khai hoang mở rộng diện tích rừng,…Vì thế, trong quá trình phát triển sản
xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự
phát triển bền vững của môi trường.
Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát
triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường – cung
cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các
khu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch
các nguồn lực từ nông nghiệp sang khu vực khác.
1.1.2. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.2.1. Kiểu sử dụng đất
Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn so
với loại hình sử dụng đất. Trong đánh giá đất đai một cách định lượng, dạng
sử dụng đất nào cũng chứa những kiểu sử dụng đất. Kiểu sử dụng đất thực ra
không phải là một đơn vị phân loại rõ ràng trong sử dụng đất đai. Nhưng, nó
chỉ ra một đơn vị đất đai có khả năng đo vẽ bản đồ, trong đó hệ thống biện
pháp kỹ thuật được áp dụng, nó có thể tính toán được đầu vào và đầu ra. Do
đó kiểu sử dụng đất có thể được xem là một trong những đối tượng hay đơn vị
nghiên cứu và đánh giá hiệu quả sử dụng đất.
1.1.2.2. Hệ thống sử dụng đất
Theo FAO (1983) hệ thống sử dụng đất được hình thành khi một kiểu
sử dụng đất hoặc một loại hình sử dụng đất nào đó thể hiện trong một điều
kiện cụ thể, như việc bố trí các cây con trên một diện tích nào đó.
11
không gian và thời gian tức là mối quan hệ sinh thái vì vậy đối tượng nghiên
cứu hệ thống cây trồng là:
- Các công thức luân canh và hình thức đa canh.
- Cơ cấu cây trồng hoặc tỷ lệ diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất
định.
- Kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống đó.
1.1.2.5. Mô hình canh tác
Mô hình canh tác trong nông nghiệp có thể hiểu là một kiểu sử dụng đất
hay một hệ thống sử dụng đất ở địa phương nhưng nó thể hiện tính phổ biến,
tính đại diện lâu dài.
• Các quan điểm về Mô hình canh tác
Hiện nay có rất nhiều các quan điểm, quan niệm khác nhau về mô hình
canh tác trong SXNN. Các quan điểm đang được thay đổi dần dần, từ chỗ chỉ
mang tính chất thuần tuý là đáp ứng được nhu cầu của con người có lâu bền
hay không? Có phù hợp với năng lực thực tế của đất đai và các nguồn lực
khác hay không?
• Đặc điểm chính của Mô hình canh tác
+ MHCT mang tính đại diện cho một hoạt động sử dụng đất. Trong sản
xuất nông, lâm nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp,
13
chăn nuôi…, các MHCT phải đại diện cho từng lĩnh vực này như: nông
nghiệp có MHCT lúa nước, mô hình vườn cây ăn quả…
+ MHCT mang tính phổ biến: Có nghĩa là MHCT đó có quy mô phải
lớn và đặc trưng cho khu vực đó.
+ MHCT phải dễ nhận biết.
• Một MHCT có hiệu quả khi nó đáp ứng được các yêu cầu chủ yếu sau
+ MHCT phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,
môi trường sinh thái của vùng.
+ MHCT phải có khả năng nhân rộng, dễ áp dụng và được người dân
cộng đồng) thu được từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên một
đơn vị diện tích đất sử dụng.
Hiệu quả sử dụng đất là mối quan tâm hàng đầu trong điều kiện diện
tích đất đai sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp.
• Bản chất của hiệu quả kinh tế:
Bản chất đánh giá hiệu quả mô hình sử dụng đất: Là sự tính toán, phân
tích, xem xét mối quan hệ giữa phần thu được của mô hình (vật chất và phi
vật chất) từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên đất tính trên
một đơn vị diện tích đất sử dụng và các yếu tố tác động tới mối quan hệ trên.
Hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp là xem xét phần thu được từ
các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tính trên một đơn vị diện tích đất canh
tác, cũng như các tác động của hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tới các vấn
đề xã hội ở địa phương.
15
Hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên diện tích đất canh tác có
thể là các hoạt động riêng lẻ như trồng trọt hoặc chăn nuôi, hoặc trồng trọt kết
hợp với chăn nuôi theo các mô hình chuyên canh hoặc các mô hình kết hợp.
Trong nông nghiệp, do đối tượng cây trồng, vật nuôi hết sức phong phú, kèm
theo điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau, nên các mô hình chuyên canh
hoặc kết hợp cũng rất đa dạng. Tùy từng mục tiêu cụ thể, khi đánh giá hiệu
quả sử dụng đất chúng ta lựa chọn các mô hình điểm cho phù hợp.
1.1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình canh tác trong SXNN
• Nhóm các chỉ tiêu thể hiện kết quả và chi phí sản xuất
+ Giá trị sản xuất (GO)
Giá trị sản xuất (Gross Outputs) là toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch
vụ sản xuất được trong một đơn vị thời gian.
GO = Σ(Qi x Pi)
Trong đó: Qi là sản lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
Pi là giá bán của một đơn vị sản phẩm i
Z là tổng chi phí SXKD của sp (gồm cả VC và LĐ)
T là các khoản thuế phải nộp
• Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực
17
+ Nhóm chỉ tiêu tính cho một đơn vị chi phí trung gian
Nhóm chỉ tiêu này cho biết bỏ một ngàn đồng vào chi phí sản xuất kinh
doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp và lợi
nhuận cho người sản xuất.
- Giá trị gia tăng trên một đơn vị chi phí trung gian
E1 =
1000
VA
x
IC
(đ/1000đ)
- Thu nhập hỗn hợp trên một đơn vị chi phí trung gian
E2 =
1000
MI
x
IC
(đ/1000đ)
- Lợi nhuận trên một đơn vị chi phí trung gian
E3 =
1000
P
x
(đ/ha)
Trong đó: S là diện tích đất canh tác của chủ thể
- Giá trị gia tăng trên một ha đất canh tác (VA/ha)
E8 =
VA
S
(đ/ha)
- Thu nhập hỗn hợp trên một ha đất canh tác (MI/ha)
E9 =
MI
S
(đ/ha)
- Lợi nhuận đạt được trên một ha đất canh tác (P/ha)
E10 =
P
S
(đ/ha)
• Một số chỉ tiêu khác
Trong sản xuất nông nghiệp có hoạt động trồng cây lâu năm, có hoạt
động đầu tư thu hồi vốn trong thời gian lớn hơn 1 năm. Đối với hoạt động nói
trên, ngoài các chỉ tiêu hiện vật, hiệu quả hiện vật và giá trị, cần phải sử dụng
thêm các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư dài hạn.
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV - Net Present Value):
19
NPV là Lợi nhuận ròng tích lũy trong suốt chu kỳ đầu tư, phụ thuộc
vào tỷ suất chiết khấu và độ dài chu kỳ dự án. Khi sử dụng chỉ tiêu NPV để so
sánh các dự án. Khi đánh giá cần chú ý xem xét thêm mức vốn đầu tư ban đầu
vì có trường hợp NPV của hai dự án đầu tư là như nhau nhưng vốn đầu tư ban
đầu khác nhau, dự án được lựa chọn là dự án có mức đầu tư ban đầu nhỏ.
=
+
n
i
i
r
Ci
1
)1(
NPV =
∑
=
+
−
n
i
i
r
CiBi
1
)1(
)(
20
1.2.1. Trên thế giới
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, được trải rộng trong
môi trường tự nhiên, chịu tác động của khí hậu, thời tiết, đất đai. Nông nghiệp là
ngành thường xuyên phải chống đỡ với rủi ro về thời tiết, sâu bệnh và biến động
của thị trường.
tranh cao và bền vững. Đặc biệt Đức chú trọng bảo vệ môi trường trong lĩnh
vực nông nghiệp và nông thôn. Ngoài ra Nhà nước Đức sử dụng các chính
sách hỗ trợ gián tiếp như thông qua các chương trình bảo vệ môi trường nông
nghiệp, và đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo cho người nông dân. Gần đây
Chính phủ Đức đặc biệt quan tâm và đưa ra ba hướng nghiên cứu khoa học
nông nghiệp của mình là: Đẩy mạnh phát triển công tác nghiên cứu khoa học
kỹ thuật sinh vật; Tăng cường việc vận dụng tin tức điện tử, kỹ thuật trên
mạng áp dụng trong nông nghiệp; Mở rộng hơn nữa những phương thức trồng
trọt vừa cho năng suất cao vừa bảo vệ được môi trường hiệu quả [12].
• Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở Mỹ:
Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 18,01% đất đai, trong khi đó diện
tích trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm 0,21% đất đai. Nhưng nhờ cơ giới hoá
triệt để nên sản lượng nông nghiệp của Mỹ là rất lớn so với số lao động không
nhiều như: Năm 2006 sản lượng nông nghiệp Mỹ đạt 1,600 tỷ USD, kim
ngạch xuất khẩu nông sản lên tới 68 tỷ USD. Chính sách quan trọng nhất của
nước Mỹ đối với sản xuất nông nghiệp là nhà nước bảo lãnh giá cả cây trồng
cho nhà nông. Bên cạnh đó nhiều trang trại của Mỹ đã chuyển đổi từ quy mô
22
nhỏ sang tập đoàn nông nghiệp được trang bị ở mức hiện đại. Đồng thời phát
triển các loại giống cây trồng chuyển gen GMC, các loại phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật được cải tiến … đã đưa nước Mỹ có những bước phát triển về sản
xuất nông nghiệp [10].
• Kinh nghiệm của Thái Lan:
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông
thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp Thái Lan trong hàng
thập kỷ qua có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất
lượng cuộc sống cho người dân.
Để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một
số chiến lược như: Tăng cường vai trò của các cá nhân và các tổ chức hoạt
rộng nhất để được hỗ trợ về chính sách, vốn nhằm giúp người tham gia được
hưởng lợi ích gia tăng nhiều nhất. Đến nay chương trình đang được thực hiện
với mục tiêu đưa mức tăng trưởng bình quân của ngành nghề nông thôn ổn
định và đạt 15%/năm; tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 20 - 22%, tạo trên
300.000 việc làm đến năm 2015 [7].
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay các nhà khoa học, nhà quản lý
đang tập trung mọi nỗ lực để nghiên cứu, cải tiến hệ thống giống cây trồng
vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất để tăng giá trị trên 1 đơn vị canh tác.
Đồng thời có các giải pháp thích hợp để hỗ trợ nền nông nghiệp của đất nước
phát triển toàn diện trong giai đoạn mới.
• Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
24
Qua nghiên cứu các kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có thể
rút ra một số kinh nghiệm để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Việt Nam phát
triển như sau:
Một là: Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại đồng thời
phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Đẩy mạnh tiến độ quy
hoạch sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất chế
biến và thị trường. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa
học công nghệ hiện đại, sử dụng có hiệu quả đất đai. Thái Lan chủ trương cơ
cấu lại ngành nông nghiệp lựa chọn cây trồng chủ lực nên hiệu quả sản xuất
nông nghiệp trên một diện tích không ngừng tăng; Nhật Bản và Hoa Kỳ áp
dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp như cây giống năng suất cao,
máy móc hiện đại đã thay thế được sức sản xuất của con người đồng thời làm
tăng giá trị ngày công lao động của nông dân.
Hai là: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông nghiệp,
nông thôn. Lao động phải được đào tạo và phải có chuyên môn, phải biết áp
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
Ba là: xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển
1.2.2. Tại Việt Nam
Nguyễn Ngọc Đệ (1994) khảo sát hệ thống canh tác vùng nước trời ven
biển ở các tỉnh Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc
Liêu và Cà Mau trong năm 1993 với 298 nông hộ cho thấy trong đầu những
năm 90 của thế kỷ 20 các hệ thống canh tác vùng nước trời tiêu biểu là: 1)
Lúa Mùa một vụ, 2) Lúa Hè Thu - mùa, 3) lúa Mùa - màu (Khoai, đậu, rau