nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của cá đối lá (mugil kelaartii gunther, 1861) ở sông gianh, tỉnh quảng bình - Pdf 24

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 11
1.Lí do chọn đề tài 11
2. Mục đích của đề tài 11
TỔNG QUAN 13
CHƯƠNG 1 13
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 13
1.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 13
1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình 17
CHƯƠNG 2 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 20
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 21
2.2.2.1. Về chỉ tiêu hình thái phân loại: 21
2.2.2.2. Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá: 21
2.2.2.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá: 23
2.2.2.4. Nghiên cứu về sinh sản của cá: 23
2.2.2.5. Nghiên cứu về sinh thái phân bố của loài cá Đối lá 24
2.2.2.6. Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp khả thi phát triển bền vững nguồn lợi cá 24
2.2.2.7. Phương pháp xử lý số liệu: 24
CHƯƠNG 3. 25
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI 25
3.1. Điều kiện tự nhiên 25
3.1.1. Vị trí địa lý 25
3.1.2. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 25
3.1.2.1. Nhiệt độ 27
3.1.2.2. Độ ẩm 28

4.3. ĐẶC TÍNH SINH SẢN CỦA CÁ ĐỐI LÁ 47
4.3.1. Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục 47
4.3.2. Tỷ lệ đực cái theo nhóm tuổi của cá Đối lá 52
4.3.3. Sự chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi của cá Đối lá 53
4.3.4. Thời gian sinh sản của cá Đối lá 54
4.3.5. Sức sinh sản của cá Đối lá 56
4.4. SINH THÁI PHÂN BỐ CỦA CÁ ĐỐI LÁ 57
4.4.1. Sự phân bố của cá Đối lá trong các thủy vực theo thời gian 57
4.4.2. Sự phân bố của cá Đối lá theo không gian 60
4.4.2.4. Phân bố cá Đối lá con ở sông Gianh- tỉnh Quảng Bình 62
4.5. TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ ĐỐI LÁ 63
4.5.1. Ngư cụ khai thác cá Đối lá 63
4.5.2. Sản lượng khai thác cá Đối lá 65
4.5.3. Một số giải pháp phát triển nguồn lợi cá Đối lá ở Sông Gianh 68
4.5.3.1. Vấn đề quản lý khai thác và nuôi thủy sản của tỉnh Quảng Bình 68
4.5.3.2. Một số giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi cá Đối lá 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
A. KẾT LUẬN 72
B. ĐỀ NGHỊ 74
2
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
3
DANH MỤC BẢNG
BẢNG 1: CÁC VÙNG THU MẪU Ở SÔNG GIANH 20
BẢNG 3.1. NHIỆT ĐỘ TRUNG BÌNH NGÀY CÁC THÁNG TRONG NĂM 2012 Ở SÔNG
GIANH 28
BẢNG 3.2. ĐỘ ẨM TRUNG BÌNH CÁC THÁNG TRONG NĂM 2012 Ở SÔNG GIANH.28
BẢNG 3.3. LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH CÁC THÁNG TRONG NĂM 2012 TẠI SÔNG
GIANH 29
BẢNG 3.4. SỐ GIỜ NẮNG TRUNG BÌNH CÁC THÁNG TRONG NĂM 2012 TẠI SÔNG

SG8 – SG10 67
BẢNG 4.19. SẢN LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT BÌNH QUÂN KHAI THÁC CÁ ĐỐI LÁ TẠI
SG4-SG7 67
BẢNG 4.20 SẢN LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT BÌNH QUÂN KHAI THÁC CÁ ĐỐI LÁ TẠI
SG1-SG3 68
5
DANH MỤC HÌNH
HÌNH 2.1. HÌNH THÁI CÁ ĐỐI LÁ (MUGIL KELAARTII GUNTHER, 1861) 19
HÌNH 2.2. SƠ ĐỒ CÁC VÙNG LẤY MẪU Ở SÔNG GIANH, TỈNH QUẢNG BÌNH 20
THÁNG 28
1 28
2 28
3 28
4 28
5 28
6 28
7 28
8 28
9 28
10 28
11 28
12 28
CẢ NĂM 28
ĐỘ ẨM TUYỆT ĐỐI (MB) 28
TUYÊN HÓA 28
19,3 28
20,0 28
22,7 28
6
26,8 28

80 28
76 28
73 28
79 28
88 28
90 28
90 28
89 28
85 28
QUẢNG TRẠCH 28
89 28
90 28
89 28
87 28
8
82 28
75 28
72 28
78 28
86 28
88 28
87 28
87 28
84 28
35
HÌNH 4.1. TƯƠNG QUAN GIỮA CHIỀU DÀI VÀ KHỐI LƯỢNG CÁ ĐỐI LÁ 35
HÌNH 4.2. BIỂU ĐỒ TỶ LỆ (%) SỐ LƯỢNG CÁ THỂ CẢ CÁ ĐỐI LÁ THEO TỪNG
NHÓM TUỔI 37
HÌNH 4.3. BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ (%) CÁC NHÓM THỨC ĂN CỦA CÁ ĐỐI LÁ 41
HÌNH 4.4. BIỂU ĐỒ CÁC BẬC ĐỘ NO CỦA CÁ ĐỐI LÁ THEO CÁC THÁNG NGHIÊN

QUẢNG BÌNH 63
HÌNH 4.27. BIỂU ĐỒ SỐ LƯỢNG CÁC LOẠI NGƯ CỤ PHÂN THEO ĐỊA BÀN TẠI CÁC
ĐIỂM THU MẪU 64
HÌNH 4.28. SẢN LƯỢNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ KHAI THÁC THEO THÁNG 66
10
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sông Gianh là một con sông chảy trên địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn
từ khu vực ven núi Cô Pi cao 2.017m thuộc dãy trường sơn, chảy qua địa phận các
huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch và đổ ra biển Đông tại cửa Gianh.
Dòng chảy ở thượng nguồn theo hình chữ V với hướng chủ đạo là Tây Nam
- Đông Bắc. Từ điểm giáp ranh ba xã Thanh Thạch, Hương Hóa, Kim Hóa bắt đầu
chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Tới ranh giới hai xã Kim Hóa và Lệ Hóa nó
tiếp nhận thêm nước từ một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn, chảy về từ phía tây. Phía
dưới thị trấn Ba Đồn khoảng 3 km, sông Gianh tiếp nhận thêm nước từ chi lưu phía
hữu ngạn, chảy ra từ khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Sông Gianh là nơi cung cấp
nguồn lợi thủy sản rất lớn cho nhu cầu thực phẩm của nhân dân trong vùng cũng
như xuất khẩu. Nguồn lợi động vật nói chung và cá nói riêng ở đây rất phong phú –
thành phần loài động vật cũng như thành phần loài cá khá đa dạng. Chúng có vai trò
rất quan trọng trong đời sống hàng ngày. Đặc biệt là cá Đối lá (Mugil kelaartii
Gunther, 1861), không chỉ là món ăn quen thuộc được mọi người ưa thích, mà còn
là nguồn thực phẩm toàn diện và giàu đạm cần cho sự phát triển trí tuệ và thể chất
của con người. Chính vì lợi ích đó mà con người không ngừng tác động đến nguồn
lợi, tạo sức ép khai thác lớn đối với cá Đối lá, làm ảnh hưởng đến sự phân bố, suy
giảm số lượng quần thể.
Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Đối lá, một trong những vấn
đề quan trọng là phải chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên của
cá vào sinh sản nhân tạo. Muốn vậy, cần phải có những nghiên cứu về đặc điểm
sinh học sinh sản và sinh thái của loài. Đề xuất được những giải pháp bảo vệ nguồn
lợi, khai thác và sử dụng hợp lý loài cá kinh tế này.

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
12
TỔNG QUAN
Chương 1
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ
1.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
Việt Nam có chiều dài bờ biển rất dài, khoảng 3.260 km, có hệ thống sông
ngòi dày đặc, nhiều ao hồ, đầm phá , nên có tiềm năng lớn về nguồn lợi thuỷ sản.
Các công trình nghiên cứu về cá ở nước ta bắt đầu muộn hơn so với các nước
tiên tiến, nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Theo Bộ Thủy sản (1996),
công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở Việt Nam là của H.E. Sauvage
(1881), công bố trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số
loài mới ở Đông Dương”. Trong báo cáo của mình, ông đã thống kê được 139 loài cá
chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam. Đến năm
1884, ông thu thập và công bố thêm 10 loài cá nước ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 loài
mới [8], [9]. Trong thời gian này nhiều công trình nghiên cứu khác về cá nước ngọt ở
Việt Nam cũng được công bố nhưng chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài, tiêu
biểu là: L. Vaillant (1891) đã thu thập ở Lai Châu được 6 loài cá và mô tả 4 loài mới.
Năm 1904, ông thu thập ở sông Kỳ Cùng được 5 loài, trong đó có 01 loài mới. Năm
1907, kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Hà Nội của Đoàn thường trực Khoa học
Đông Dương đã công bố 29 loài và mô tả 2 loài mới và đến năm 1934 công bố thêm
33 loài mới [56].
Từ năm 1930 đến năm 1937, P. Chevey đã có công trình nghiên cứu cá ở các
sông suối miền Bắc Việt Nam và phát hiện ra sự có mặt của cá Chình nhật (Anguilla
japonica) ở sông Hồng. Đặc biệt là vào năm 1937, P. Chevey và J. Lemasson đã công
bố công trình nghiên cứu tổng hợp cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam : “Góp phần
nghiên cứu về các loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam”. Công trình này giới thiệu
98 loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam thuộc 17 họ và được xem là công trình tổng
hợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ [56]. Nhiều tác giả nước ngoài khác như J. Henry (1865),

một số thủy vực: Trần Công Tam (1959): Nguồn lợi thủy sinh vật chủ yếu của sông
Hồng; Mai Đình Yên (1963): Ý nghĩa kinh tế ngư giới sông Hồng; Nguyễn Văn
Hảo (1964): Nguồn lợi cá hồ Ba Bể; Nguyễn Anh Tạo (1964): Nguồn lợi thủy sản
của sông Lạch Trường và sông Mã [8], [57].
14
Từ 1975 đến nay, công tác điều tra nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi
cả nước do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản (NCNTTS) I Bắc Ninh, Viện
NCNTTS II thành phố Hồ Chí Minh, Viện NCNTTS III Nha Trang thuộc Bộ Thuỷ
sản tổ chức thực hiện. Ngoài ra còn có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc các
trường đại học như: Đại học Nha Trang, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội,
Đại học Tổng hợp Huế, Đại học sư phạm Vinh Nghệ An,
Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam, các kết quả
tiêu biểu gồm: Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, đã thống kê
58 loài [6]; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần loài cá sông Thu
Bồn (85 loài), sông Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba
(48 loài), sông Cái (25 loài) [59]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn
Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: sông Tiền,
sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) [60].
Hai công trình mang tính tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳ
trước được công bố là: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của
Mai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm
phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta [56] và
“Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên cùng các cộng sự
Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992)
gồm 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [60].
Những kết quả đã nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến các
công trình của các tác giả: Võ Văn Phú và Đặng Thị Diệu Tâm (1978): Đặc tính
sinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm phá Thừa Thiên Huế [20];
Nguyễn Duy Hoan (1979): Đặc điểm sinh học của cá Quả (Ophiocephalus striatus);

ở đầm phá Thừa Thiên Huế [25]; Nguyễn Ngọc Thôi (2009): Nghiên cứu đặc tính
sinh học của cá Dìa Tro (Siganus fuscescen Houttuyn, 1782) ở đầm phá Tam Giang –
Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế; Võ Thị Bảo Ý (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học
loài cá Đối nhọn (Mugil strongylocephalus Richardson, 1846) ở đầm phá tỉnh Thừa
Thiên Huế [55]; Lê Thị Hoàn (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ Vàng
–Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [11]; Lê Văn Dân
(2010): Đặc tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng Steroid
C21
trên cá Trắm
Cỏ và cá Trôi Ấn Độ; Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Phú, Vũ Trung Tạng (2010): “
16
Đặc tính sinh trưởng của cá Tráp vây vàng (Acanthopagrus latus) tại đầm Ô Loan,
tỉnh Phú Yên [18]. Lê Thị Hoàn (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ
Vàng (Selaroides leptolepis) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [11] ; Lê Văn Dân (2010):
Đặc tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng Steroid
C21
trên cá Trắm Cỏ và
cá Trôi Ấn Độ; Võ Văn Thiệp (2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá
Đục (Sillago sihama) ở vùng ven biển Quảng Trị; Trần Văn Phước, Nguyễn Đình
Trung, Võ Thành Đạt, Hà Lê Thị Lộc (2012): Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến
sinh trưởng và tỷ lệ sống cá Khoanh cổ đỏ (Amphirion fernatus) dưới 60 ngày tuổi;
Trần Văn Cường (2012): Tuổi và sinh trưởng của cá Miễn sành gai (Evynnis
cardinalis) ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ; Cao Ngọc Hải (2012): Nghiên cứu
đặc điểm sinh học của cá Bóng Thệ (Oxyurichthys tentacularis) ở Tam Giang – Cầu
Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Thị Hương (2012): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của
cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế
[14]… Đây là những tư liệu quý về sinh học, sinh thái, sinh lý các loài cá kinh tế
nội địa Việt Nam.
1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình
Vào năm 1977, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Bình

Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ tập trung ở một số sông trên địa bàn, còn mang
tính chất nhỏ lẻ của riêng một số khu vực như Nhật Lệ, sông Ròon. Trong khi đó các
nghiên cứu còn chủ yếu về thành phần loài, ít có đề tài tìm hiểu đầy đủ về đặc điểm
sinh học của các loài cá kinh tế ven biển nói chung và sông Gianh nói riêng.
Nhìn chung những nghiên cứu toàn diện về cá trên cả nước nói chung, ở tỉnh
Quảng Bình nói riêng đang được đẩy mạnh và có những bước tiến vững chắc.
Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình những năm gần đây được quan tâm
và đẩy mạnh, bước đầu đã đạt được những thành công nhất định trong việc bảo tồn
và phát triển các loài cá có giá trị kinh tế. Đưa ra được các giải pháp khả thi về khai
thác hợp lý, đánh bắt thủy sản theo hướng bền vững, phát triển được ưu thế của
vùng duyên hải ven biển miền Trung. Nuôi trồng thủy sản đạt chất lượng cao, đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân, giảm áp lực khai thác cá ngoài tự nhiên và
không làm hủy hoại cấu trúc thủy sinh vật.
18
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Loài: Cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861).
+ Giống: Cá Đối thường Mugil Linnaeus
+ Họ: Cá Đối Mugilidae
+ Bộ: Cá Đối Mugiliformes
+ Lớp: Cá Xương Osteichthyes
* Mô tả: D.IV, I.8; A.III, 9; P.15; V.I, 5; C.20.
Thân dài, đầu hơi to dẹp, đỉnh đầu bằng, toàn thân phủ vẩy, không có vẩy
đường bên. Mắt tương đối lớn, màng mỡ ít phát triển, khoảng cách giữa hai mắt
tương đối rộng. Mõm tù, miệng hình vòng cung, góc miệng thấp hơn mắt, miệng có
răng nhỏ. Phần bụng màu trắng, màu lưng màu xanh biển, xanh xám. Vây lưng
trước có 4 gai cứng nhỏ; vây lưng thứ hai nhỏ. Vây ngực dài, bằng 2/3 chiều dài
đầu. Vây hậu môn và vây bụng nhỏ.Vây đuôi phần thùy nông, hai thùy bằng nhau.

- Mẫu thu ngẫu nhiên nhằm đại diện cho quần thể cá đánh bắt trong thời gian
nghiên cứu. Những thông tin liên quan đến mẫu thu như thời gian thu, địa điểm thu,
phương tiện đánh bắt, … được ghi lại trong sổ nghiên cứu.
- Mẫu thu được xử lý ngay khi cá còn tươi.
* Phương pháp điều tra qua ngư dân
- Điều tra về tên cá (tên phổ thông, tên địa phương), kích thước và khối
lượng tối đa của cá mà họ gặp, điều kiện sống, tập tính sinh học, sự phân bố
- Điều tra về biến động năng suất, sản lượng khai thác của loài; Điều tra các
ngư cụ khai thác và đời sống của các ngư dân chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp.
- Điều tra về năng suất sản lượng cá, mùa vụ, khả năng đánh bắt và giá trị
sản phẩm.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.2.2.1. Về chỉ tiêu hình thái phân loại:
- Quan sát, mô tả các hình thái bên ngoài của cá.
- Xác định các chỉ số theo hướng dẫn nghiên cứu cá của P.I Pravdin, 1963
* Các chỉ số đo:
Lt: chiều dài thân đến chạc vây đuôi; SL: chiều dài kinh tế đến hết phần phủ
vẩy của thùy đuôi cá; BD: chiều cao lớn nhất thân cá; HL: chiều dài đầu, từ mút
mõm đến cuối xương nắp mang; AO: chiều dài mõm từ mút mõm đến cạnh trước
của mắt; O: đường kính của mắt.
* Các chỉ số đếm: đếm số lượng các tia vây cứng và các tia vây mềm: D
(Dosalis): Vây lưng; A (Analis): Vây hậu môn; C (Caudalis): Vây đuôi; P
(Pectolalis): Vây ngực; V (Ventralis): Vây bụng.
+ Xác định khối lượng cá bằng cách cân có độ chính xác đến gram.
+ Xác định kích thước cá bằng cách đo có độ chính xác đến milimet.
2.2.2.2. Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá:
21
* Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng
- Dựa vào số đo chiều dài và khối lượng thực tế của cá để tính tương quan
theo phương trình của R.J.H Beverton – S.J. Holt (1956):

* Lập phương trình sinh trưởng của cá về chiều dài và khối lượng theo Von
Bertalanfly (1956)
- Về chiều dài:
0
( )
1
k t t
L L e
t
 
 
 
− −
= −

- Về khối lượng:
0
( )
W W 1
b
k t t
e
t
 
 
 
− −
= −

Trong đó: L

0
.100/L
3
(Clark, 1928)
Trong đó: W,W
0
là khối lượng toàn thân và khối lượng bỏ nội quan của cá (g).
L : là chiều dài của cá đo từ mút mõn đến hết tia vây đuôi dài nhất (mm).
2.2.2.4. Nghiên cứu về sinh sản của cá:
* Xác định tỷ lệ giới tính: Phân tích số lượng cá trong từng nhóm tuổi, tỷ lệ
đực cái trong từng nhóm tuổi trên.
* Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục: Xác định sơ bộ các giai
đoạn chín muồi tuyến sinh dục của cá theo thang 6 bậc của K.A.Kiselevich (1923).
Trên cơ sở đó, đánh giá được thời gian đẻ trứng của cá.
* Xác định sức sinh sản:
Cân khối lượng buồng trứng giai đoạn IV, lấy mẫu ở 3 vùng khác nhau trên
chiều dài tuyến sinh dục để tiến hành đếm trứng. Xác định sức sinh sản tuyệt đối
của cá bằng cách đếm chính xác số lượng trứng có trong buồng trứng. Cần đếm lặp
lại ba lần số trứng ở 3 vùng trên 1 đơn vị khối lượng bằng buồng đếm động vật để
có kết quả chính xác. Dựa vào sức sinh sản tuyệt đối, tính được sức sinh sản tương
đối, đó là số lượng trứng của cá trên một đơn vị khối lượng (g) cơ thể.
Sức sinh sản tương đối: s = S/W (số trứng/gam)
Trong đó : s là sức sinh sản tương đối (trứng/g)
23
S: sức sinh sản tuyệt đối (tế bào trứng)
W: trọng lượng thân cá.
2.2.2.5. Nghiên cứu về sinh thái phân bố của loài cá Đối lá
- Dựa vào năng suất khai thác cá Đối lá của ngư dân trên các loại ngư cụ, kết
hợp với phỏng vấn, quan trắc để ghi chép số liệu. Căn cứ kết quả thu được sẽ mô
phỏng vùng phân bố của loài cá Đối lá Mugil kelaartii Gunther, 1861 theo thời gian

, dân số năm 2009 là
846.924 nghìn người, chiếm khoảng 2,45% về diện tích và 1,02% dân số cả nước.
Quảng Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam. Mùa Đông nhiệt độ
trung bình 18-20
0
C, mùa hè có nhiệt độ trung bình khoảng 25-30
0
C. Các tháng nóng
nhất là tháng 4, 5 và tháng 6, vào các tháng này thường có gió Phơn Tây Nam nên
rất nóng bức [50].
Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1600-1800 giờ. Bức xạ nhiệt mặt trời
tăng dần khi đi vào phía Nam, trung bình 100-130 Kcal/cm
2
, tháng 5,6 có số giờ
nắng cao nhất (trên 200 giờ), tháng 12 có số giờ nắng thấp nhất (10 giờ) [50].
Lượng mưa trung bình khoảng 2000-3000mm. Mưa thường tập trung vào các
tháng 8,9 và tháng 10, lượng mưa trung bình 500-800mm. Tháng có lượng mưa
thấp nhất là tháng 4,5 và tháng 6, lượng mưa trung bình khoảng 50mm. Mùa mưa
cũng là mùa lũ lụt ở Quảng Bình, lũ lụt đã gây những thiệt hại nặng nề về kinh tế và
đời sống người dân[50].
Chế độ thủy triều của biển Quảng Bình, chế độ bán nhật triều là chủ yếu.
Nước ở các con sông đều có hai lần nước roòng, hai lần nước lên. Độ mặn nước
biển ở mùa hè khoảng 32
0
/
00
- 33
0
/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status