1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi kinh tế càng phát triển, xã hội càng phát triển thì người ta có xu hướng hưởng
thụ cuộc sống nhiều hơn, người ta sẵn sàng bỏ ra khoản chi phí để mua sắm những thứ tô
điểm cho cuộc sống thêm thú vị. Hoa là một trong những mặt hàng đó, hoa dùng để cúng
gia tiên vào những ngày cúng ngày lễ, trưng bày trong phòng, nơi công sở, hoặc tặng
nhau vào những ngày lễ, Tết… Việc mua hoa, trưng hoa, tặng hoa đang dần trở thành một
nét văn hóa đẹp của người thành phố. Chính vì thế, tạo điều kiện cho ngành trồng hoa
phát triển rất mạnh mẽ tại Đà Lạt, và tại TP.HCM, có rất nhiều chợ hoa đầu mối đã ra đời
nhằm cung cấp những bông hoa đủ sắc đến tay người tiêu dùng.
Hình thành từ năm 1998, chợ hoa Hồ Thị Kỷ, quận 10, được coi là đầu mối quan
trọng nhất tại TP.HCM. Trước kia, nơi đây vốn là một bến xe tự phát của tuyến xe Đà Lạt
– TP.HCM. Các mối buôn hoa từ Đà Lạt chuyển hàng theo xe khách xuống các vựa
TP.HCM, gửi nhờ các hộ dân nơi đây và lâu dần khu vực này thành một điểm giao dịch
dịch vận chuyển hoa cho toàn thành phố và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Ngày nay, bến xe
tự phát đã giải tán nhưng chợ hoa vận tồn tại và phát triển với quy mô ngày càng lớn dưới
sự quản lý của phường. Theo Ban quản lý chợ, tại đây có khoảng 200 vựa tham gia kinh
doanh, phần lớn trong số này là những vựa có “máu mặt”, chi phối mạnh thị trường hoa
tươi TP.HCM. Gần đây, Hiệp hội hoa Đà Lạt đã làm một cuộc khảo sát, thì mỗi ngày chợ
tiêu thụ từ 1.500 đến 2.000 thùng hoa (khoảng một triệu cành hoa), cao điểm vào lễ tết,
chợ có thể tiêu thụ từ 4.000-5.000 thùng (2-2.5 triệu cành/ngày). Chợ hoạt động chủ yếu
vào ban đêm, gần đây có hoạt động vào ban ngày phục vụ cho khách lẻ và nhằm đáp ứng
kịp thời những nhu cầu phát sinh của khách sỉ. Doanh số trung bình của các vựa loại nhỏ
từ 3-5 tỷ đồng/năm, những vựa trung bình thì doanh số mỗi năm trên chục tỷ đồng, và các
vựa lớn có thể đạt 40-50 tỷ đồng/năm. Chính vì lợi nhuận ngành cao như vậy nên sức ép
cạnh tranh của các vựa nơi đây là rất lớn. Bên cạnh đó, các chủ vựa tại đây còn phải cạnh
tranh với các chủ vựa tại hai chợ hoa đầu mối nữa là chợ hoa Đầm Sen (quận 11, xây
2
dựng năm 2003 với khoảng 150 chủ vựa, tiêu thụ khoảng 800-1000 thùng/ngày) và chợ
hoa Hậu Giang (quận 5, xây dựng năm 2005, có khoảng 80 vựa, tiêu thụ 700-800
− Đưa ra giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của công ty dựa
trên tình hình thực tế và kết quả điều tra, khảo sát khách hàng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tới chất lượng dịch vụ
bán sỉ hoa tươi và các phụ liệu trang trí ngành hoa.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ 22/02/2010 đến 05/04/2010 tại
trụ sở công ty TNHH SX-TM-DV Hoa Đất Việt và thị trường tại khu vực TP.HCM.
5. Kết cấu đề tài
Chương mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ
Chương II: Tổng quan về công ty TNHH SX-TM-DV Hoa Đất Việt và dịch vụ bán sỉ
tại công ty
Chương III: Quá trình nghiên cứu và kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ bán sỉ của
công ty trên quan điểm của khách hàng
Chương IV: Giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bán sỉ hoa tươi và
các phụ liệu ngành hoa của công ty
Kết luận
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ THỎA MÃN CỦA
KHÁCH HÀNG
I. Chất lượng dịch vụ
I.1. Khái niệm về dịch vụ
Khi nền kinh tế phát triển, đời sống của người tiêu dùng đuợc cải thiện thì nhu cầu
sử dụng các dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về khái niệm dịch vụ.
Sau đây là một số khái niệm đại diện:
• Dịch vụ theo nghĩa hẹp là những hoạt động không sản xuất ra của cải vật chất, do
những người bỏ sức lao động cung cấp hiệu quả vô hình mà không có sản phẩm hữu
hình…Theo nghĩa rộng, đó là những hoạt động đưa lao động sống vào sản phẩm vật chất
để thỏa mãn nhu cầu nào đó của người khác. (Theo từ điển Kinh tế thị trường Trung
chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Việc đánh giá chất lượng dịch vụ do
đó cũng không đơn giản và chứa nhiều yếu tố khách quan. Do đó, khái niệm chất lượng
dịch vụ cũng có nhiều quan điểm. Ví dụ như:
- Theo Lehtien (1982), chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1)
quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ.
- Gronroos ( 1984) đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, bao gồm (1) chất
lượng kỷ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và (2) chất lượng kỹ năng nòi
lên chúng được quan tâm như thế nào.
- Power (1995): chất lượng dịch vụ như là sự khác biệt giữa mong đợi và nhân thức về
dịch vụ thật sự nhận được.
- Còn theo quan điểm ISO, chất lượng dịch vụ là “tập hợp các đặc tính của một thực
thể tạo cho thực thể đó khả năng thoã mãn những nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn”
(ISO 8402:1999)
Trong nhiều phân tích về chất lượng dịch vụ, thì chất lượng dịch vụ có những tính chất sau:
6
• Khó đánh giá hơn chất lượng hữu hình
• Nhận thức về chất lượng dịch vụ là kết quả của quá trình so sánh giữa mong đợi của
khách hàng vớI những hoạt động cụ thể của tổ chức nhằm đáp ứng những mong đợI đó
• những đánh giá của chất lượng khg chỉ được tạo ra từ dịch vụ, nó còn bao gồm những
đánh giá về quá trình thực thi dịch vụ.
Từ khái niệm chất lượng dịch vụ, chất lượng toàn diện của dịch vụ có thể được định nghĩa
như là nhân thức của khách hàng về 4P:
• Product: sản phẩm
• Procedure: thủ tục phục vụ
• Provider: người cung cấp
• Problem: cách giải quyết tình huống
I.4. Mô hình chất lượng dịch vụ
Parasuraman & ctg (1985, 1988) là những người tiên phong nghiên cứu chất lượng dịch vụ
trong ngành tiếp thị một cách cụ thể và chi tiết. Các nhà nghiên cứu đưa ra mô hình năm khoảng
cách chất lượng dịch vụ và mô hình 10 thành phần.
KHÁCH
HÀNG
Khoảng cách 2
Khoảng cách 3
Khoảng cách 4
Khoảng cách 5
Dịch vụ kỳ vọng
Dịch vụ cảm nhận
Dịch vụ chuyển giao
Chuyển đổi cảm nhận
của công ty thành tiêu
chí chất lượng
Nhận thức của công
ty về kỳ vọng của
khách hàng
Thông tin đến
khách hàng
8
khách hàng cảm nhận những điều nhận được không đúng với những gì mà công ty dịch
vụ đã hứa. Nghĩa là khoảng cách này xuất hiện khi có sự so sánh chất lượng mà khách
hàng cảm nhận được với những thông tin dịch vụ đã được truyền tải đến họ.
Khoảng cách thứ năm: do sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và
chất lượng họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm
này. Một khi khách hàng nhân thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và
chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì được xem là hoàn hảo.
Parasuraman & ctg (1985) cho rằng lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ
năm này. Trong khi đó, khoảng cách này lại phụ thuộc vào bốn khoảng cách trước đó. Vì
thế, để rút ngắn khoảng cách thứ năm, tức là tăng chất lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ
phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách một, hai, ba, bốn.
Mô hình chất lượng dịch vụ, theo các nhà nghiên cứu này, có thể biễu diễn như sau:
khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm
của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng.
8. An toàn (Security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng,
thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin.
9. Hiểu biết khách hàng (Understanding customer): thể hiện qua khả năng hiểu biết
và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của
khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường
xuyên.
10.Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân
viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ.
Mô hình mười thành phần chất lượng dịch vụ có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh
của một dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là khá phức tạp trong việc đo lường và
mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần không đạt giá trị phân biệt. Chính vì vậy, các
nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định, và đi đến kết luận chất lượng dịch vụ gồm năm
thành phần cơ bản vào năm 1988, đó là:
1. Phương tiện hữu hình (Tangibility) là vẽ ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, trang phục
nhân viên, những vật dụng và những tài liệu dùng cho việc thông tin liên lạc.
10
2. Sự tin cậy (Reliability) thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn.
3. Sự đảm bảo hay năng lực phục vụ (Assurance) nhằm xây dựng lòng tin của khách hàng
thông qua sự chuyên nghiệp, thái độ lịch sự, tôn trọng khách hàng, khả năng giao tiếp và
thái độ quan tâm làm những điều tốt nhất cho khách hàng.
4. Tính đáp ứng hay độ phản hồi ( Resản phẩmonse) thể hiện sự sốt sắng giúp đỡ khách
hàng và nhanh chóng khắc phục sự cố khi có sai sót hoặc tình huống bất ngờ xảy ra.
5. Sự cảm thông hay tính đồng cảm (Empathy) đề cập đến phong cách phục vụ của nhân
viên thông qua việc quan tâm, chú ý đến khách hàng, hết lòng tìm hiểu nhu cầu của khách
hàng và tạo cảm giác yên tâm, an toàn cho khách hàng.
Tuy có khá nhiều tranh cãi về số lượng thành phần đánh giá, nhưng sau hàng loạt
nghiên cứu và kiểm định thì 5 thành phần này vẫn được xem là đơn giản và đầy đủ. Với
mỗi thành phần, Parasuraman thiết lập nhiều biến quan sát để đo lường đánh giá của
khách hàng
Giá trị dành cho
khách hàng
12
II.2. Sự thỏa mãn của khách hàng
II.2.1. Sự thỏa mãn của khách hàng
Có nhiều quan điểm khác nhau về mức độ thỏa mãn của khách hàng.
Theo Bachelet, 1995; Oliver, 1997 thì sự thỏa mãn được giải thích như là một phản
ứng mang tính cảm xúc của khách hàng về một sản phẩm hay dịch vụ dựa trên những
kinh nghiệm cá nhân.
Philip Kotler, 2001 cho rằng “ Sự thỏa mãn là mức độ trạng thái cảm giác của một
người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ
vọng của người đó”.
Kỳ vọng: được xem là ước muốn hay mong đợi của con người. Nó bắt nguồn từ nhu
cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bến ngoài như quảng cáo, thông tin truyền
miệng từ bạn bè, người thân.
II.2.2. Vai trò của sự thoả mãn của khách hàng
Trên thực tế, chi phí thu hút khách hàng mới (chi phí thăm dò, quảng cáo, tiếp thị,
…) cao hơn rất nhiều chi phí giữ một khách hàng cũ luôn hài lòng. Theo Reichheld và
Sasser, các công ty có thể tăng lợi nhuận từ 25% đến 85% nếu giảm tỉ lệ khách hàng bỏ đi
5%. Mà cách tốt nhất chính là nâng cao sự thỏa mãn, từ đó tạo lòng trung thành của khách
hàng đối với công ty, không để họ chuyển qua hợp tác với đối thủ cạnh tranh.
Bên cạnh đó, sự thỏa mãn càng làm cho khách hàng ở lại càng lâu với công ty, công
ty càng có lợi do khách hàng mua nhiều hơn, ít nhạy cảm về giá hơn. Có như thế, công ty
sẽ giữ vững thị phần, giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận.
Sự thỏa mãn của khách hàng còn là một công cụ Marketing hiệu quả trong việc thu
hút khách hàng mới từ những khách hàng hiện tạicủa công ty thông qua phương thức
quảng cáo truyền miệng. Mặt khác, nó còn tạo động lực khuyến khích nhân viên phục vụ
khách hàng tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn.
II.3. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng
VIỆT
I. Giới thiệu chung về công ty
Tên công ty : CÔNG TY TNHH SX-TM-DV HOA ĐẤT VIỆT
Tên giao dịch quốc tế : DATVIETFLOWERS CO.,LTD
Trụ sở chính : 149/21/4 Lê Thị Riêng, phường Bến Thành, Q1 TP.HCM
Điện thoại : (084)-08-38355760 ; (084)-08-38355885
Fax : (084)-08-38350557
Website : datvietflower.com
Email :
Ngành nghề kinh doanh
Sản xuất, kinh doanh các loại cây giống, củ giống, hạt giống, các loại hoa tươi cắt
cành và các nguyên phụ liệu ngành hoa.
Sự hình thành và phát triển
Tháng 10-1998 cửa hàng hoa tươi Hoa Đất Việt được thành lập tại chợ hoa Hồ Thị
Kỷ là một cửa hàng chuyên cung cấp sỉ hoa tươi cho Tp.HCM và các tỉnh Đồng Bằng
Sông Cửu Long với nguồn cung cấp chính là các hộ nông dân sản xuất hoa tươi tại TP.Đà
Lạt và huyện Từ Liêm Hà Nội.
Tháng 03-2004 do nhu cầu phát triển phục vụ thị trường tốt hơn, nên cửa hàng hoa
tươi Hoa Đất Việt chính thức được chuyển thành công ty TNHH SX-TM-DV Hoa Đất
Việt.
Ông Trần Tuấn Anh,là thành viên sáng lập công ty và Ông Trần Văn Xuyên giữ vai
trò người cố vấn trong giai đoạn hình thành công ty.
Hiện nay công ty đã quy tụ được hơn 40 hộ nông dân sản xuất hoa tươi tại Đà Lạt sản
xuất và cung cấp cho công ty với diện tích nhà kính hơn 20 ha và sản lượng một năm trên
12 triệu cành hoa các loại. Công ty cũng có mối quan hệ tốt với rất nhiều các công ty cung
cấp giống hoa tại Holand, Chilê, Newzeland, Trung quốc…
16
Sứ mệnh
1. Trở thành người bạn đồng hành của các hộ nông dân sản xuất hoa tươi và các
nhà bán lẻ hoa tươi trên toàn quốc
hành hội đồng thành viên là chủ tịch hội đồng thành viên.
Giám đốc điều hành (CEO) là người chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên công
ty. Các giám đốc các bộ phận chuyên môn sẽ chịu trách nhiệm trước giám đốc điều hành.
Các nhân viên quản lý các bộ phận sẽ chịu trách nhiệm trước các giám đốc điều hành bộ
phận. Các nhân viên làm việc tại các bộ phận sẽ chịu trách nhiệm trước các nhân viên
quản lý trực tiếp của mình
Công ty Hoa Đất Việt gồm có 4 bộ phận chính, bao gồm Sài Gòn Shop (SGS) tại
TP.HCM, hai bộ phận sản xuất tại Lâm Đồng là Đà Sa và Tà Nung, một văn phòng đại
diện tại thành phố Đà Lạt.
Sơ đồ tổ chức cấp công ty
Trang trại Tà
Nung
Văn phòng, chi
nhánh đại diện
Trang trại Đà Sa
Giám đốc điều
hành
(CEO)
Sài Gòn Shop
Hội đồng thành
viên
Công ty TNHH
Hoa Đất Việt
18
Sơ đồ tổ chức cấp đơn vị (bộ phận Sài Gòn Shop)
Sài Gòn Shop là bộ phận đầu não chỉ huy mọi hoạt động của công ty và các bộ phận
khác. SGS bao gồm 4 phòng ban chức năng là Phòng kinh doanh, tổ chức; phòng Kế toán,
nhân sự; Cửa hàng và Kho hàng.
Giữa các bộ phận này có liên quan với nhau trong việc tạo ra doanh thu mỗi ngày cho
SGS. Phòng kế toán có nhân viên Kế toán cửa hàng tại cửa hàng theo dõi, kiểm tra các
bán hàng. Bộ phận bán hàng lại chia làm 2 bộ phận với các chức năng khác nhau: bộ phận
bán hàng tại chổ tại cửa hàng và bộ phận bán hàng kho đóng hàng cho khách sỉ.
Cửa hàng chia làm hai ca làm việc với ca I bắt đầu từ 0 giờ 30 rạng sáng đến 10 giờ 30
sáng; ca II bắt đầu từ 9 giờ 30 sáng đến 19 giờ 30 tối.
Nhân viên bán hàng kho gồm 2 nhóm: nhóm Hoa Súng chịu trách nhiệm khách hàng
khu vực Miền Tây và một phần TP.HCM (quận 1, 4, 5); nhóm Hoa Hướng Dương chịu
trách nhiệm phần còn lại TP.HCM và 2 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương.
II.2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
II.2.1. Sài gòn Shop
Chức năng nhiệm vụ của Sài Gòn shop
Tổ chức kinh doanh có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển nguồn vốn.
Tuân thủ các chế độ hoạch toán, báo cáo thống kê, chế độ kiểm toán.
Thực hiện nghĩa vụ thuế và khoản nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp
luật.
Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng kí và chấp hành các quy định ngành nghề của
pháp luật. Chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do
công ty cung cấp.
Tuyển dụng, hợp đồng lao động theo quy định của Luật Lao động, thỏa ước lao động
tập thể và các quy định của công ty. Ưu tiên sử dụng lao động trong nước; đảm bảo quyền
lợi, lợi ích của người lao động theo quy định của Luật Lao động.
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo pháp luật.
Quyền hạn
Công ty TNHH SX-TM-DV Hoa Đất Việt có tư cách pháp nhân đầy đủ kể từ khi cấp
giấy chứng nhận kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Có con dấu riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong và ngoài nước theo quy
định của pháp luật.
20
Hoạch toán kinh tế độc lập và tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động sản xuất, kinh doanh của mình.
II.2.2. Bộ phận bán hàng
dụng sản phẩm của công ty
2/ Nghiên cứu, tìm hiểu các nhu cầu và ước muốn của khách hàng (marketing)
3/ Duy trì mối quan hệ với các khách hàng cũ và là người giải quyết các mâu thuẫn
giữa khách hàng và công ty
4/ Thiết lập hồ sơ thông tin khách hàng
5/ Theo dõi và thu hồi công nợ khách hàng
6/ Tạo dựng hình ảnh công ty
7/ Thực hiện các chiến dịch, kế hoạch bán hàng, marketing
II.2.3. Bộ phận kho hàng
1/ Quản lý, bảo vệ kho hàng và hàng hóa trong kho
2/ Quản lý việc nhập và xuất kho hàng hóa
3/ Phân loại, sắp xếp hàng hóa trong kho
4/ Hỗ trợ đội ngũ bán hàng trong việc tiếp nhận và thực hiện đơn hang
5/ Xử lý hàng tồn đọng
II.2.4. Phòng kinh doanh
1/ Lập dự báo tình hình thị trường làm cơ sở cho bộ phận thu mua và sản xuất xây
dựng kế hoạch thu mua, sản xuất (trước 6 tháng )
2/ Hoạch định, tổ chức, thực hiện, kiểm tra, giám sát, và điều chỉnh các chiến lược bán
hàng, chiến lược phát hệ thống khách hàng, chiến lược marketing nhằm đạt được các mục
tiêu mà công ty giao phó
3/ Hoạch định, tổ chức, thực hiện, kiểm tra, giám sát, và điều chỉnh các chiến lược
xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ bán hàng tạo ra một đội ngũ bán hàng tinh nhuệ,
chuyên nghiệp, năng động, tạo ra lợi thế cạnh tranh đặc biệt.
22
4/ Tổ chức và thực hiện thu mua tại địa phương để đáp ứng ngay nhu cầu của khách
hang
5/ Xây dựng và thiết lập, ấn định các mục đích, mục tiêu, chỉ tiêu cho các bộ phận
thuộc quyền.
6/ Xây dựng văn hóa làm việc của bộ phận phù hợp với phong tục tập quán của địa
phương nhưng không được phép tách rời văn hóa của công ty.
III.1.1 Giống hoa
Công ty cung cấp các loại cây giống, củ giống và hạt giống với các loại hoa chủ yếu
sau đây
Giống hoa lyly
• Ly hồng AK (Sorbonner- orento)
• Ly hồng Tiber (Tiber -orento)
• Ly vàng thơm (Yellowen-OT)
• Ly vàng ù (Concar”dor-OT)
• Ly trắng thơm (Motherchoice-Orento)
• Ly cam (Brunello-LA)
Giống hoa lyly do công ty Hoa Đất Việt cung cấp có nguồn gốc xuất xứ từ Hà Lan,
Chi Lê, hoặc Ba Lan.
Giống hoa cẩm chướng, hoa cúc,hoa đồng tiền và các loại hoa khác.
Giống hoa cẩm chướng và giống hoa cúc do công ty cung cấp có nguồn gốc xuất
xứ tại Halan,Chi Lê….được nuôi cấy mô tại Lâm Đồng và được kiểm soát chặt
chẽ về chất lượng.
III.1.2 Hoa tươi cắt cành và các loại lá đệm
Hoa lyly
• Ly hồng AK (Sorbonner- orento)
• Ly hồng Tiber (Tiber -orento)
• Ly vàng thơm (Yellowen-OT)
24
• Ly vàng ù (Concar”dor-OT)
• Ly trắng thơm (Motherchoice-Orento)
• Ly cam (Brunello-LA)
Hoa hồng
• Hồng đỏ
• Hồng vàng ánh trăng
• Hồng vàng hà lan
• Hồng cam ù
Các sản phẩm này được công ty mua lại của các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu
trong nước.
III.2 Kết quả hoạt động kinh doanh
III.3 Định hướng phát triển trong tương lai
Khách hàng hiện tại của công ty chủ yếu là ở thị trường TP.HCM và các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên với uy tín và thương hiệu ngày càng được phát triển,
cùng với sự ổn định của hai trang trại sẽ cung cấp một lượng hàng lớn với chất lượng cao,
công ty hướng đến mở rộng thị trường sang các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó,
công ty chủ trương phát triển mảng khách hàng là các nhà hàng, khách sạn lớn trong
thành phố có nhu cầu sử dụng hoa tươi mỗi ngày hoặc cho các sự kiện. Đây không chỉ là
một khách hàng đầy tiềm năng, mà còn là một cơ hội quảng bá sản phẩm hoa tươi của
công ty tới công chúng, thậm chí là đối với du khách nước ngoài, là cơ hội để phát triển
kinh doanh ra thị trường nước ngoài trong tương lai.
Hiện tại, công ty đang chủ trương củng cố hệ thống kênh phân phối, khai thác tối đa
sức mạnh của khách hàng thân thiết, giữ vững thị phần, đồng thời phát triển thêm khách
hàng tại thị trường TP.HCM. Với đội ngũ nhân viên bán hàng nhiệt tình, nhiều kinh
nghiệm và các điều kiện thuận lợi trong thời gian tới, công ty đã đặt ra mục tiêu phát triển
trong năm 2010 như sau: